Hiển thị các bài đăng có nhãn ăn kiêng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ăn kiêng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Những ngày qua, tại các phòng khám da liễu của các bệnh viện, bệnh nhân đến khám do sẩn ngứa ngoài da tăng đột biến. Để có cái nhìn toàn diện về căn bệnh ngứa da, chúng tôi xin đăng bài viết của PGS.TS. Bùi Khắc Hậu để bạn đọc tham khảo.

Ngứa da là một triệu chứng thường gặp với nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Khi ngứa, người bệnh sẽ gãi làm xây xước da, chảy máu gây nhiễm trùng mưng mủ hoặc ngứa, gãi tạo thành các nốt sẩn, mụn nước, khi khỏi ngứa thường để lại các nốt thâm, thậm chí để lại các nốt sẹo nhỏ. Nguyên nhân gây nên ngứa có thể ở ngay ngoài da hoặc có thể ở bên trong nội tạng của cơ thể.

Nguyên nhân ở ngoài da:

Bệnh viêm da dị ứng: Trong các bệnh viêm da dị ứng có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có viêm da do tiếp xúc thường hay gặp. Viêm da tiếp xúc là do dị ứng nguyên khi gặp kháng thể gây nên hiện tượng phản ứng biểu hiện là viêm da và gây ngứa, ví dụ viêm da dị ứng ở một số người do đeo quai đồng hồ bằng da hoặc bằng nhựa hoặc viêm quanh thắt lưng quần do giây chun bằng cao su. Cũng có một số người dị ứng với da hoặc cao su nên không đi dép da hoặc dép nhựa được vì hễ mỗi lần đi dép vào là ngứa da vùng tiếp xúc trực tiếp tạo nên phản ứng gây ngứa.

Bệnh mề đay: Mề đay là một bệnh dị ứng da do tiếp xúc với thời tiết lạnh hoặc do ăn, uống với chất hay gây dị ứng ở một số người như tôm, cua, ốc, mắm tôm… Đây là những chất đóng vai trò là dị ứng nguyên khi gặp kháng thể có sẵn trong máu bệnh nhân sẽ gây nên hiện tượng dị ứng. Bệnh mề đay thường xảy ra ngứa đột ngột, dữ dội tại một vùng da nào đó hoặc có khi gần khắp da cơ thể như cánh tay, bụng, đùi, cẳng chân. Đôi khi bệnh mề đay còn xảy ra ở niêm mạc làm sưng mắt, môi, thậm chí gây viêm niêm mạc ruột gây đau bụng, tiêu chảy, viêm, phù thanh quản. Người ta gọi là nổi mề đay vì nổi lên các nốt sẩn, ngứa. Trong bệnh mề đay điển hình nhất là ngứa, người bệnh càng gãi càng ngứa. Các sẩn ngứa to, nhỏ khác nhau đôi khi tạo thành từng mảng. Viền của sẩn ngứa mề đay có màu hồng, trung tâm của sẩn ngứa có màu nhạt hơn.

Bệnh nấm da : Viêm da do nấm là bệnh nói chung, nhưng do nhiều loài nấm khác nhau gây nên (nấm thân, nấm kẽ, nấm móng, nấm tóc…). Mỗi một loài nấm gây bệnh cho da được gọi các tên khác nhau. Bệnh nấm da cũng gây nên ngứa làm cho bệnh nhân rất khó chịu, ví dụ bệnh hắc lào. Bệnh hắc lào là do nấm thân gây nên. Đầu tiên là ngứa vùng bị bệnh, sau đó thấy một vệt màu hơi đỏ, có viền, bờ rõ rệt, trên viền có các mụn nước lấm tấm. Viền này càng ngày càng lan rộng tạo thành nhiều hình vòng cung. Do người bệnh bị ngứa, gãi làm lây lan ra nhiều vùng da khác trên cơ thể. Bệnh hắc lào là bệnh lây từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn tắm, ngủ chung giường, chiếu… Muốn phòng bệnh hắc lào cần vệ sinh cá nhân tốt. Không dùng chung quần áo, chiếu, khăn và không nằm chung giường với người bị bệnh hắc lào. Khi nghi bị bệnh hắc lào nên đi khám để được xác định và điều trị dứt điểm tránh lây lan cho người khác.

Bệnh lang ben : là một bệnh do nấm gây ra và cũng gây ngứa ghê gớm. Bệnh gây ngứa đặc biệt là khi người bệnh ra nhiều mồ hôi nhất là khi trời nắng. Bệnh lang ben hay gặp ở cổ, vai, ngực, bụng, cánh tay. Bệnh lang ben cũng lây lan từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn mặt, ngủ chung giường… Khi bị lang ben rất nên đi khám bệnh để được làm các xét nghiệm xác định nấm và trên cơ sở đó người thầy thuốc sẽ cho thuốc điều trị thích hợp và tư vấn sát với thực tế hơn.

Gầu da đầu : Ở người nhiều gầu thường kèm theo ngứa da đầu. Gầu là hiện tượng viêm da làm bong lớp sừng ở da vùng đầu. Hiện nay có nhiều loại dầu gội đầu khác nhau và tùy thuộc vào da đầu của từng người. Vì vậy khi bị gầu nên chọn loại dầu gội thích hợp với da đầu của mình mới hy vọng làm giảm hoặc hết gầu.

Nguyên nhân từ trong nội tạng của cơ thể.

Dị ứng thuốc: ngày nay hiện tượng dị ứng thuốc là điều làm cho thầy thuốc hết sức quan tâm. Loại thuốc nào cũng có thể gây nên dị ứng tùy từng cơ địa của từng người (để cả thuốc Tây y và đông y ). Khi dị ứng thuốc, ngoài các triệu chứng khác thì ngứa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao.

Bệnh giun sán: Khi mắc bệnh giun, sán thì ngoài rối loạn tiêu hóa có thể có triệu chứng ngứa và nổi mẩn ngoài da. Những trường hợp này người ta ít nghĩ tới chỉ khi đi khám bệnh, xét nghiệm phân mới tìm ra được nguyên nhân và thầy thuốc mới có chỉ định dùng thuốc tẩy giun đúng loại. Song song với việc tẩy giun cần ăn uống hợp vệ sinh, không ăn rau sống và uống nước lã để đề phòng mắc bệnh giun tái phát.

Mắc bệnh tiểu đường (đường máu tăng cao): thường có sụt cân, ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều kèm theo có thể có ngứa da. Do ngứa nên gãi nhiều làm xây xước da gây nhiễm khuẩn. Mắc bệnh tiểu đường cần ăn kiêng một số thực phẩm như đường, các loại nước giải khát có đường, bia, rượu, chuối chín. Nên tập thể dục đều đặn. Cần vệ sinh da thật tốt để tránh nhiễm khuẩn.

Bệnh về gan, mật: Các bệnh về gan mật làm tắc mật làm vàng da và gây ngứa. Khi ngứa mà tìm các loại nguyên nhân chưa xác định được thì cần kiểm tra chức năng và kiểm tra gan, mật để xem có viêm nhiễm, sỏi, u hay không. Viêm gan thì có nhiều nguyên nhân nhưng hay gặp nhất là viêm gan do virut và viêm gan do rượu. Muốn phòng tránh viêm gan do virut (virut viêm gan A,B,C) cần được tiêm phòng. Cần bỏ rượu, đặc biệt khi đã có hiện tượng viêm gan bất kỳ do nguyên nhân gì.

Như vậy, muốn hết bệnh ngứa cần tìm nguyên nhân, khi đã biết chắc chắn nguyên nhân của nó thì việc điều trị sẽ có nhiều thuận lợi cho dù là nguyên nhân bên trong cơ thể hay nguyên nhân ngoài da.

Theo suckhoedoisong.vn

Bệnh sỏi thận khi thấy đau – sỏi đã lớn

Bệnh sỏi thận khi thấy đau – sỏi đã lớn

Quá trình hình thành sỏi không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị sỏi thận. Chỉ đến khi sỏi lớn lên gây đau đớn, hay đi tiểu ra sỏi mới biết.
ảnh có tính minh họa
Sỏi thận hình thành do nồng độ các chất khoáng như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho tăng cao. Những chất này lắng đọng trong đài, bể thận và kết thành sỏi. Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Những viên lớn hơn có thể vẫn di chuyển được theo dòng nước tiểu nhưng gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu hay mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản gây viêm tắc niệu quản.

Có những viên sỏi nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần, choán hết đài bể thận gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo dẫn đến suy thận.

Bệnh sỏi thận có nhiều cách chữa như uống thuốc để làm tan sỏi, tán sỏi qua da, phẫu thuật…Tuy nhiên, có đến 60% số người từng bị sỏi thận sẽ bị tái phát, do đó ngăn ngừa tái phát sỏi sau điều trị là rất quan trọng.

Để ngăn chặn sự hình thành sỏi mới, cần loại bỏ các nguyên nhân hình thành sỏi thận như giảm lượng thức ăn giàu oxalat, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô cô la, nước chè, dâu tây…Ăn ít chất đạm động vật nếu bị sỏi acid uric.
Theo Lao Động

BƯỚU THẬN

BƯỚU THẬN

A. BƯỚU LÀNH

  • Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

 

B. BƯỚU ÁC TÍNH

I. Ở TRẺ EM:

  • Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp , sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

II. Ở NGƯỜI LỚN:

B ướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

1. Giải phẫu bệnh và tiến triển:

  • Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày, Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.
  • Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.
  • Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

  2. Biểu hiện lâm sàng:

  Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đau khối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

  • Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.
  • Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.
  • Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.
  • Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

  3. Chẩn đoán dựa vào:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

4. Ðiều trị:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

I II. BƯỚU ÐÀI BỂ THẬN:

  • Thường là loại tế bào chuyển tiếp (niệu mạc – urothelium ). Ðôi khi niệu mạc có thể bị chuyển sản ( Metaplasia ) trở thành tế bào gai ( Squamous cells ) và gây ra ung thư tế bào tuyến ( adenocarcinoma ) thường kết hợp với sỏi bể thận lâu ngày không điều trị. bướu có thể ăn lan từ bể thận xuống Niệu quản và chỉ phát hiện nhờ tiểu ra máu khi bướu đã ăn đến bọng đái, chẩn đoán dựa vào UIV, UPR, soi Niệu quản bể thận , tế bào học nước tiểu, đôi khi làm động mạch đồ.
  • Ðiều trị thường phải cắt bỏ toàn thể thận, Niệu quản kể cả cắt bổ xung quanh miệng Niệu quản nằm trong Bọng đái. Khi bướu xâm đã lấn ra các tổ chức vùng chậu hay mỡ quanh bể thận thì cần xạ trị phối hợp sau mổ hoặc hoá trị nếu bướu chỉ xâm lấn tại chỗ.

Nang thận

Nang thận

Bệnh lý nang thận bao gồm 2 nhóm chính. Loại nang thận thường gặp nhất là “nang thận đơn giản” là loại không có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Loại nang thận còn lại được gọi là “nang thận phức tạp”. Thuật ngữ “nang thận phức tạp” dùng để chỉ một nhóm các loại nang có những đặc tính khác nhau khiến các bác sĩ nghi ngờ đến ung thư thận.

“Nang thận đơn giản” là một chẩn đoán có định nghĩa rất rõ ràng phụ thuộc vào phương tiện chẩn đoán hình ảnh nào phát hiện ra nó (siêu âm, CT scan v.v…).
 
Nang thận đơn giản là một khoang hình cầu nằm đâu đó trong thận bên trong chứa đầy dịch. Thành nang rất mỏng và không gồ ghề. Bên trong nang chỉ có dịch và khi được lấy ra thì ta sẽ thấy chất dịch này có màu vàng hoặc trong.
Nang thận đơn giản không có nguy cơ trở thành ung thư và do đó không cần phải lo lắng gì về nó cả.
Thật vậy, ở độ tuổi 50, bạn sẽ có khoảng 50% khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản. Khi tuổi ngày càng lớn hơn, khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản sẽ ngày càng cao hơn và kích thước của chúng cũng ngày càng lớn hơn. Nếu bạn trên 50 tuổi và không hề có 1 cái nang thận nào cả thì thật ra bạn đang nằm trong nhóm thiểu số.
Có một loại nang thận đơn giản khác được gọi là nang tăng đậm độ. Nang tăng đậm độ là một loại nang thận đơn giản có máu bên trong. Nang thận tăng đậm độ không phải là một dạng nghi ngờ ung thư thận và nó chỉ là một loại nang thận đơn giản mà thôi.
Phần lớn các nang thận đơn giản được xác định trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh được thực hiện vì một lý do khác. Các nang thận đơn giản không có các biểu hiện gợi ý trên lâm sàng. Thông thường các nang thận đơn giản không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và không gây tổn hại cho cơ thể.
Trong một số ít trường hợp, các nang thận có thể gây ra những triệu chứng như đau hông lưng, nhưng những trường hợp này rất hiếm. Nếu một nang thận được cho là có thể gây đau hoặc gây ra những triệu chứng khác, nó thường có thể được điều trị bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh bằng cách chọc hút và làm xơ hóa nang dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT. Thủ thuật chọc hút được định nghĩa là cách đâm kim xuyên qua da để hút dịch từ trong nang ra ngoài rồi sau đó thực hiện xơ hóa.
Thủ thuật xơ hóa là cách bác sĩ tiêm một chất hóa xơ vào bên trong nang. Thủ thuật chọc hút và xơ hóa các nang thận đơn giản có triệu chứng thường rất hiệu quả mặc dù trong một số trường hợp nang thận có thể xuất hiện trở lại. Ngoài cách theo dõi (nếu nang thận không gây khó chịu quá mức), thủ thuật chọc hút và xơ hóa là cách điều trị ít xâm lấn nhất đối với các nang thận đơn giản có gây triệu chứng.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, nang thận đơn giản có triệu chứng có thể cần phải phẫu thuật nội soi ổ bụng bóc vỏ nang. Khi thực hiện thủ thuật này, bác sĩ sẽ rạch một đường nhỏ ở thành bụng của bạn rồi nhẹ nhàng bơm hơi vào bụng. Nang thận sẽ được định vị và thành nang sẽ được bóc tách ra ngoài để tránh tình trạng nang tái lập trở lại. Thông thường, thủ thuật này được áp dụng để điều trị nang thận đơn giản trong trường hợp cách điều trị bằng chọc hút và xơ hóa thất bại. Thủ thuật này rất hiệu quả và bệnh nhân thường cần phải ở lại trong bệnh viên khoảng 1 đêm.
“Nang thận phức tạp” khác với nang thận đơn giản ở chỗ nang có thể có bờ gồ ghề. Để được xếp vào nhóm nang thận phức tạp, nang phải có một vài chỗ không đồng nhất bên trong. Các chỗ không đồng nhất này có thể xuất hiện ở nhiều biến thể khác nhau. Vách ngăn là các thành bên trong nang. Các vách ngăn này có thể rất mỏng và đều hoặc tương đối dày và thô. Càng có nhiều vách ngăn hoặc vách ngăn càng dày thì càng cho gợi ý nang này có liên quan đến ung thư thận.
Nang cũng có thể bị canxi hóa. Đây là hiện tượng canxi được nhìn thấy bên trong nang. Có thể có rất ít canxi hoặc vết canxi hóa tương đối dày.
Nang thận phức tạp còn có thể có nhu mô bên trong và được tăng tưới máu. Hiện tượng tăng tưới máu có nghĩa là nang thận được cung cấp thêm nhiều máu hơn, hiện tượng này có thể phát hiện ra bằng cách tiêm chất tương phản vào tĩnh mạch rồi sau đó quan sát bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. HIện tượng tăng tương phản bên trong các nang thận phức tạp gợi ý nhiều đến ung thư thận và đòi hỏi cần phải có sự can thiệp điều trị của các bác sĩ niệu khoa.
Nhiều nang thận phức tạp có thể chỉ có ít nguy cơ là hoặc trở thành ung thư thận.
Tuy nhiên, có một số nguy cơ khiến nang thận phức tạp có thể trở thành ung thư thận và do đó nó cần phải được đánh giá bởi một bác sĩ niệu khoa nhiều kinh nghiệm cùng với sự hội chẩn của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Thông thường, các nang thận phức tạp có thể được giải quyết bằng cách theo dõi chủ động để xem nó có thay đổi theo thời gian hay không.
Nguy cơ mà một nang thận phức tạp là, hoặc trở thành, ung thư tùy thuộc vào hình dạng của nó. Có một hệ thống phân độ nang thận dựa trên hình dạng của nó trên CT giúp các bác sĩ tiên đoán được khả năng các nang thận phức tạp trở thành ung thư. Hệ thông phân độ này được gọi là phân độ Bosniak. Phân độ Bosniak cung cấp những tiêu chuẩn để phân độ các nang dựa trên nguy cơ trở thành ung thư thận.

Phân độ Bosniak dành cho các nang thận phức tạp

 NhómI

Các nang thận đơn giản lành tính với thành mỏng như cọng tóc và không có các vách ngăn, không có các điểm canxi hóa, hoặc không có các thành phần đặc bên trong. Nó có đậm độ của nước và không tăng âm khi tiêm chất cản quang.

 NhómII

Nang thận lành tính có thể có một vài vách ngăn mỏng như cọng tóc bên trong. Có các vết canxi hóa đồng nhất ở thành nang hoặc ở các vách ngăn.

 NhómIIF

Các nang này có thể có nhiều vách ngăn mỏng. Có thể thấy những chỗ tăng quang nhỏ ở các vách ngăn hoặc thành nang và có thể có vài chỗ dày chút ít ở vách ngăn hoặc thành nang. Nang có thể có vài vết canxi hóa tạo thành nốt và dày nhưng không có tăng âm khi tiêm cản quang. Không có tăng quang ở thành phần mô mềm của nang.

 NhómIII

Là những tổn thương ở dạng trung gian giữa nang và khối đặc có thành dày không đều hoặc có vách ngăn có bắt thuốc cản quang.

 NhómIV

Những tổn thương này rất giống với các tổn thương nang và có chứa thành phần mô mềm có bắt thuốc cản quang.

Phân độ Bosniak được liệt kê phía trên được thiết lập để giúp bác sĩ tiên đoán được khả năng liên quan đến ung thư thận của các nang thận phức tạp. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm I có khả năng trở thành ung thư thấp hơn 2%. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm II và II có khả năng trở thành ung thư lần lượt từ 18%% và 33%. Phần lớn các nang thận thuộc Bosniak nhóm IV (khoảng 92%) có liên quan đến ung thư thận.

Bằng cách sử dụng hệ thống phân độ Bosniak, người bệnh có thể hợp tác với bác sĩ niệu khoa để thiết lập kế hoạch điều trị. Kế hoạch điều trị sẽ được kết hợp chặt chẽ tất cả các yếu tố bao gồm tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cũng như nguy cơ ung thư thận kèm theo. Kế hoạch điều trị có nhiều mức độ khác nhau, thay đổi từ thấp nhất là theo dõi tích cực cho đến cao nhất là cắt bỏ thận tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Theo Kidney Cancer Institute (Yhọc.net)

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Sỏi mật là trong lòng ống mật có những viên sỏi nhỏ, to, hay bùn mật ở vị trí trong gan hoặc ngoài gan, ở túi mật. Bệnh có thể gây viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa … rất nguy hiểm.

Sỏi mật hình thành như thế nào?

Người ta thấy có hai loại sỏi mật thường được hình thành là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

 Loại sỏi cholesterol: vì một lý do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỷ lệ: nồng độ cholesterol tăng lên, nồng độ chất làm tan (muối mật – lecithin) giảm xuống, khi đó cholesterol kết tủa tạo ra những tinh thể là tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Những yếu tố làm giảm bài tiết muối mật gồm: bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; người béo: dự trữ muối mật giảm, sản xuất muối mật tăng nhanh nhưng không nhanh bài tiết; người cao tuổi. Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: chế độ ăn giàu calo, dùng thuốc oestrogen, cloflbrat. Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước nên làm cho cholesterol được cô đặc hơn; đồng thời túi mật tiết ra chất mueus có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

Người bị sỏi mật cần có chế độ ăn hạn chế mỡ động vật.

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này. Nguyên nhân là do trứng giun đũa hoặc xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào gây sỏi. Nếu giun đũa lên đường mật nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật, gây ra những vết loét xước và sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thùy gan, phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần từ đó hình thành sỏi mật.

Biểu hiện của bệnh sỏi mật

Một người bị sỏi mật sẽ có các dấu hiệu sau: đau bụng với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải (HSP), kiểu đau quặn gan, thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23 – 24 giờ; khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh; cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày. Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn. Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều. Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ; sốt và đau HSP đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao; có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng; có khi sốt nhẹ 37,5 – 380C; nếu không viêm thì không sốt.
Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1 – 2 ngày; vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu; vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm; vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt. Ba chứng: đau, sốt, vàng da còn gọi là Tam chứng Charcot  tái phát nhiều lần, khoảng cách giữa các đợt vài tuần, vài tháng, vài năm. Khám thấy: gan to đều, mức độ to từ mấp mé dưới bờ sườn  đến 5 – 6cm dưới bờ sườn tùy mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức. Túi mật to cùng với gan to, túi mật to, đau khi sờ nắn, có thể co cứng HSP. Xét nghiệm máu: bilirubin toàn phần tăng. Siêu âm thấy sỏi túi mật, sỏi ống mật. Chụp phim Xquang thấy sỏi.

 Trên thực tế thường gặp ba thể bệnh chính như sau: một là trường hợp điển hình có Tam chứng Charcot, hội chứng tắc mật, bệnh tái phát nhiều lần, với các triệu chứng như trên chẩn đoán đúng sỏi mật 60- 75%. Hai là triệu chứng lâm sàng không điển hình: có cơn đau quặn gan, không vàng da, không tắc mật; hoặc tắc mật nhưng không đau quặn gan. Ba là bệnh nhân bị sỏi nhưng đến bệnh viên cấp cứu vì biến chứng như: viêm phúc mạc mật với các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, bụng cứng, vàng da; sốc nhiễm khuẩn; sốt, túi mật to, đau; chảy máu tiêu hoá: nôn ra máu có hình thỏi kiểu như ruột bút chì; đau bụng cấp, nôn, trướng bụng.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh 

Việc dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong điều trị viêm nhiễm đường mật do sỏi. Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ để dùng thuốc vừa hiệu quả, vừa rút ngắn thời gian mắc bệnh cho bệnh nhân. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì phải dùng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, liều cao như: colistin, cephalosporin, ampixillin, gentamyxin… Các thuốc giãn cơ, giảm co thắt như atropin, spasmaverin…; thuốc lợi mật như: sunfat magie, siro actiso, sorbitol…; các thuốc làm tan sỏi dùng trong các trường hợp viên sỏi nhỏ dưới 2cm, túi mật còn tốt, bệnh nhân không thể mổ được, hoặc đề phòng sỏi tái phát sau mổ. Phẫu thuật trong các trường hợp: sỏi gây viêm túi mật hoại tử, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, đau dữ dội mà dùng thuốc giảm đau không kết quả, chảy máu đường mật, áp-xe đường mật dọa vỡ, viêm đường mật kéo dài, tắc mật kéo dài,  tái phát nhiều lần, sỏi túi mật… Lấy sỏi qua máy soi tá tràng…

Bệnh nhân bị sỏi mật cần thực hiện một chế độ ăn kiêng hợp lý đó là: kiêng ăn mỡ, nhất là các loại thịt mỡ động vật như bò, gà, lợn… Ăn giảm calo: chỉ ăn  2.000 calo/24 giờ. Uống các loại nước thuốc nam có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh như nước  khoáng, nước nhân trần, actiso.

Phòng bệnh sỏi mật cần thực hiện nhiều biện pháp sau đây: khám bệnh định kỳ để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh là nguyên nhân gây sỏi mật như bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật, rối loạn lipid máu; kiểm soát ăn uống chống thừa cân béo phì; tránh ăn chế độ ăn giàu calo; tránh dùng các thuốc oestrogen chữa bệnh cho người có bệnh sỏi mật từ trước; định kỳ 6 tháng một lần tẩy giun, thực hiện ăn chín uống sôi để tránh nhiễm giun.

ThS. Bùi Quỳnh NgaTheo suckhoedoisong

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường (hay còn gọi là đái tháo đường) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn Insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của Insulin.

Đái tháo đường có thể là một bệnh, cũng có thể là một triệu chứng của bệnh nội tiết khác, trong trường hợp này khi chữa khỏi bệnh chính, đái tháo đường sẽ khỏi hẳn.

Bệnh đái tháo đường xảy ra là do rối loạn chuyển hoá chất đường trong cơ thể. Chuyển hoá đường cung cấp phần lớn năng lượng cho cơ thể hoạt động sống hàng ngày; ở tổ chức cơ, tổ chức thần kinh, não thì nguồn cung cấp năng lượng chính là Glucose. Trong cơ thể người, tuyến nội tiết đảm bảo chủ yếu cho chuyển hoá đường là tuyến tuỵ. Tuyến tuỵ vừa là tuyến nội tiết vừa là tuyến ngoại tiết, Tuỵ nội tiết tiết ra nhiều hóc môn trong đó có Insulin. Hóc môn này do các tế bào Bê ta của các đảo Langerhans tiết ra. Insulin là hóc môn tham gia vào quá trình chuyển hoá glucose, khi thiếu nó thí sinh ra bệnh đái tháo đường.

Các dạng tiểu đường

Tiểu đường týp 1 (trước kia thường được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở trẻ em) đặc trưng bởi thiếu sản sinh insulin. Nếu không cung cấp insulin hằng ngày, tiểu đường týp 1 rất dễ gây tử vong.

Các triệu chứng bao gồm đi tiểu nhiều, khát nước, luôn đói, giảm cân, thay đổi thị lực và mệt mỏi. Những triệu chứng này có thể xảy ra đột ngột.

Tiểu đường týp 2 (tên cũ là tiểu đường không phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở người lớn) là do cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin. Tiểu đường týp 2 chiếm khoảng 90% số trường hợp bị bệnh tiểu đường trên toàn thế giới, và phần lớn là do thừa cân và ít hoạt động thể chất.

Các triệu chứng có thể tương tự như triệu chứng của tiểu đường týp 1, nhưng thường ít rõ ràng hơn. Kết quả là, có thể vài năm sau khi khởi phát, bệnh mới được chẩn đoán, khi đó các biến chứng đã xảy ra.

Cho tới gần đây, thể bệnh tiểu đường này chỉ được thấy ở người lớn, nhưng giờ đây nó cũng xảy ra ở trẻ béo phì.

Tiểu đường thai nghén là tình trạng đường huyết cao được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.

Các triệu chứng của tiểu đường thai nghén tương tự như tiểu đường týp 2. Tiểu đường thai nghén thường được chẩn đoán qua khám sàng lọc trước khi sinh thay vì qua các triệu chứng được kể.

Giảm dung nạp glucose (IGT) và giảm đường huyết lúc đói (IFG) là những tình trạng trung gian chuyển tiếp giữa bình thường và tiểu đường. Người bị IGT hoặc IFG có nguy cơ cao tiến triển thành tiểu đường týp 2, mặc dù không nhất thiểt là sẽ như vậy.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường

Các biểu hiện thường gặp:

* Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
* Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
* Đái nhiều
* Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
* Mồm khô, da khô, mệt mỏi
* Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.

Có thể thấy một số biểu hiện khác như:

* Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
* Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
* Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
* Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
* Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
* Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
* Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.

2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):
Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.

3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):
Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.

4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.

5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy: Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.

Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.

6. Ðau chân (foot problems):
Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.

8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.

9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Tiến triển của bệnh

Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:

Biến chứng cấp tính:

Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

Biến chứng hạ đường huyết máu:

Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…

Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:

Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.

Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị , sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.

Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:

Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…

Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.

Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.

Biến chứng mạn tính

Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:

Bệnh lý mạch máu lớn:

Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.

Tổn thương mạch máu nhỏ:

Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.

Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển

Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác

Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Theo thạc sĩ – bác sĩ Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường type 2 có xu hướng gia tăng ở các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khác với người lớn, đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần dinh dưỡng để phát triển. Chưa kể đến sự “thiếu hiểu biết” của một bộ phận không nhỏ phụ huynh.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng trẻ mắc đái tháo đường type 2 ngày càng tăng là do thói quen ăn uống và lối sống thiếu lành mạnh. Thống kê ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỉ lệ trẻ đái tháo đường type 2/type 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 4/1. Còn ở nước ta, không ít lần báo giới đã lên tiếng về những trường hợp trẻ nhỏ (cấp tiểu học) mắc đái tháo đường type 2. Trường hợp nhỏ nhất là một bé 6 tuổi hiện đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết.

Nguyên nhân do lối sống

Đái tháo đường type 1 ở trẻ là bệnh có tính chất di truyền, do rối loạn tổng hợp insulin, rối loạn nơi sản xuất insulin, có tính chất bẩm sinh nhiều hơn, bắt buộc phải điều trị bằng insulin thay thế. Đái tháo đường type 2 vốn thường gặp ở người lớn do liên quan đến yếu tố ăn uống, béo phì, cao huyết áp, lười vận động không tiêu hao năng lượng…, phải điều trị bằng thuốc và kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân.

Vì vậy, theo bác sĩ Lê Thị Hải, đa phần trẻ mắc đái tháo đường type 2 ở nước ta thường gắn liền với chứng thừa cân, béo phì, do lối sống thiếu cân bằng và chứng ăn uống thiếu điều độ gây nên. Một phần nguyên nhân nữa là do nhận thức của những người làm ông bà, cha mẹ. Bác sĩ Hải cho biết, không ít trường hợp bệnh nhi đến khám ở tình trạng thừa cân, béo phì và có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cực cao. Nhưng khi bác sĩ tư vấn về chế độ ăn uống thì các bậc phụ huynh lại “giãy nảy” lên mà rằng con họ chỉ hơi mũm mĩm thôi và cháu lười ăn lắm (?!)…

Trong khi đó, việc điều trị bệnh cho trẻ đái tháo đường type 2 không hề đơn giản. Thông thường, người mắc đái tháo đường type 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

Bên cạnh đó, việc điều trị bệnh đái tháo đường không đúng sẽ gây ra những biến chứng nhất định, trong đó có hạ đường huyết. Do não trẻ em cần được cung cấp đường hằng định, nên khi hạ đường huyết sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến não, làm giảm sự phát triển của não. Kết quả giảm trí thông minh và giảm thị lực nếu tình trạng hạ đường huyết kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Theo bác sĩ Hải, cách hạn chế tốt nhất căn bệnh này là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Với trẻ bị đái tháo đường type 1, nhìn chung vẫn có chế độ ăn như bình thường, chỉ cần hạn chế (không phải là cấm tuyệt đối) cho trẻ ăn đồ ngọt, hạn chế tinh bột và hạn chế dùng mỡ động vật. Còn với trẻ bị đái tháo đường type 2 thì năng lượng, tinh bột trẻ ăn hàng ngày cần được tính toán chặt chẽ hơn. Bố mẹ nên cho trẻ bị đái tháo đường ăn thành nhiều bữa trong ngày vì ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

- Các thực phẩm không nên ăn: Đường ngọt, bánh kẹo, nước ngọt, kem, nước mía, các loại quả khô ướp đường như mứt, quả ngọt sấy khô như chuối, mít…

- Các thực phẩm nên hạn chế: Các quả chín quá ngọt như mít, na, chuối, nhãn, vải…; các đồ ăn chế biến sẵn như patê, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói…; các món ăn xào rán nhiều mỡ, bánh mỳ, mỳ tôm, cơm, các loại thịt nhiều mỡ, bơ, pho mát…

- Các thực phẩm nên ăn: Ngũ cốc nguyên hạt như ngô, khoai sọ…; các loại rau xanh như bắp cải, rau cần, rau bí, rau muống…; quả chín ít ngọt như dưa chuột, thanh long, bưởi, cam, táo ta, lê, mận…

Không cần kiêng đường

Tuy nhiên, trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Hiện nay, trên thị trường đã có những sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường. Đó là Isomalt với nguyên liệu được nhập khẩu từ Đức. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đây là chất ngọt tự nhiên và an toàn. Nó có chỉ số đường huyết thấp (GI=28) và sinh ít năng lượng (1g Isomalt cho 2Kcal). Loại đường này có thể dùng cho cả trẻ béo phì, phụ nữ mang thai. Ngoài ra, còn có một số loại đường ăn kiêng khác như: đường Acesulframe-K có các tên thương mại là Sunette, Sweet one, Sweet”n safe, đường Sucralose (tên thương mại là Splenda)… Các loại đường này ngoài việc sử dụng trực tiếp còn được các nhà sản xuất dùng để sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những người “hảo ngọt” nhưng phải kiêng đường (đường mía). Ví dụ các loại bánh, kẹo không đường của Bibica (sử dụng Isomalt).

Ngoài ra, do trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt nên trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng, với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì.

Theo 24h.com.vn

Rối loạn ăn

Rối loạn ăn

Rối loạn ăn! Khác nhau với các loại hình cụ thể: Chán ăn tâm thần, ăn uống vô độ tâm thần, ăn qua nhiều thực phẩm…Rối loạn ăn uống là một nhóm các điều kiện nghiêm trọng, trong đó rất bận tâm với thực phẩm và cân nặng mà thường có thể tập trung vào.

Định nghĩa

Rối loạn ăn uống là một nhóm các điều kiện nghiêm trọng, trong đó rất bận tâm với thực phẩm và cân nặng mà thường có thể tập trung vào. Các loại chính của rối loạn ăn uống là chán ăn tâm thần, tâm thần và rối loạn ăn vô độ.

Rối loạn ăn uống có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng về thể chất và nghiêm trọng nhất thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Hầu hết những người bị rối loạn ăn uống là phụ nữ, nhưng nam giới cũng có thể có rối loạn ăn uống.

Điều trị rối loạn ăn uống thường liên quan đến tâm lý, giáo dục dinh dưỡng, tư vấn gia đình, thuốc và nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn ăn uống khác nhau với các loại hình cụ thể của rối loạn ăn uống.

Chán ăn tâm thần

Khi đã chán ăn tâm thần, đang bị ám ảnh bởi thức ăn và đôi khi đến mức tự chết đói.

Dấu hiệu và triệu chứng biếng ăn có thể bao gồm:

Từ chối ăn và từ chối đói.

Một nỗi sợ hãi mãnh liệt của tăng cân.

Phủ định hoặc bóp méo hình ảnh.

Tập thể dục quá mức.

Tâm trạng kém hoặc thiếu cảm xúc.

Mối bận tâm với thực phẩm.

Tách rời xã hội.

Gầy yếu.

Chóng mặt hoặc ngất xỉu.

Kinh nguyệt không đều hoặc mất kinh nguyệt.

Táo bón.

Đau bụng.

Da khô.

Thường xuyên bị lạnh.

Nhịp tim bất thường.

Huyết áp thấp.

Mất nước.

Ăn vô độ tâm thần (bulimia)

Khi đã bulimia. Thường ăn một lượng lớn thực phẩm trong một thời gian ngắn và sau đó cố gắng để thoát khỏi các calo thừa bằng cách ói mửa hoặc tập thể dục quá mức. Thực sự có thể có một trọng lượng bình thường hoặc thậm chí thừa cân một chút.

Bulimia – dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Ăn cho đến khi tới sự khó chịu hoặc đau, thường với các loại thực phẩm giàu chất béo hay ngọt.

Tự gây ra nôn mửa.

Sử dụng thuốc nhuận tràng.

Tập thể dục quá mức.

Không lành mạnh tập trung vào hình dạng cơ thể và trọng lượng.

Có hình ảnh cơ thể bị bóp méo quá tiêu cực.

Đi vào phòng tắm sau khi ăn hoặc trong bữa ăn.

Cảm thấy không thể kiểm soát hành vi ăn uống.

Bất thường chức năng ruột.

Bị hư hại răng và nướu răng.

Bị sưng tuyến nước bọt trong má.

Đau ở cổ họng và miệng.

Mất nước.

Nhịp tim bất thường.

Đau, có vết sẹo hay vết chai trên đốt ngón tay hoặc bàn tay.

Kinh nguyệt không đều hoặc mất kinh nguyệt.

Không thay đổi ăn kiêng hoặc ăn chay.

Có thể lạm dụng ma túy hoặc rượu.

Rối loạn ăn uống – ăn quá nhiều thực phẩm

Khi có rối loạn ăn, thường xuyên ăn quá nhiều thực phẩm. Có thể ăn khi không đói và tiếp tục ăn ngay cả khi không thoải mái đầy đủ. Sau khi ăn quá nhiều có thể thử chế độ ăn uống hoặc ăn bữa ăn bình thường, gây ra một vòng mới. Có thể có một trọng lượng bình thường, thừa cân hoặc béo phì.

Các triệu chứng của rối loạn ăn môn có thể bao gồm:

Ăn đến mức khó chịu hoặc đau.

Ăn nhiều thực phẩm hơn trong một bữa ăn bình thường hoặc ăn nhẹ.

Ăn nhanh hơn.

Cảm thấy rằng hành vi ăn uống là ngoài tầm kiểm soát.

Thường xuyên ăn một mình.

Cảm thấy chán nản, chán ghét hay khó chịu khi ăn ít.

Tìm kiếm sự trợ giúp y tế

Bởi vì mạnh mẽ của nó, rối loạn ăn uống có thể khó khăn để quản lý, khắc phục. Rối loạn ăn uống hầu như có thể đi qua. Có thể nghĩ về thức ăn tất cả các thời gian, gây khổ sở cho những gì để ăn và tập thể dục để kiệt sức. Có thể cảm thấy xấu hổ, buồn bã, tuyệt vọng, dễ cáu kỉnh và lo lắng. Cũng có thể có một loạt các vấn đề vật lý vì rối loạn ăn uống, chẳng hạn như tim đập không đều, mệt mỏi, vấn đề về ruột và chóng mặt. Nếu gặp bất kỳ vấn đề này hoặc nếu nghĩ rằng có thể có một rối loạn ăn uống, tìm kiếm sự trợ giúp y tế.

Đôn đốc một người thân tìm cách điều trị

Thật không may, nhiều người bị rối loạn ăn uống chống lại điều trị. Nếu có một người thân đang lo lắng, đôn đốc người đó nói chuyện với bác sĩ. Ngay cả khi người thân  chưa sẵn sàng để xác nhận có một vấn đề với thức ăn, có thể mở bằng cách thể hiện mối quan tâm và mong muốn lắng nghe. Cũng có thể muốn xem xét việc liên hệ với bác sĩ của trẻ về mối quan tâm. Có thể có giới thiệu đến các nhà cung cấp đủ điều kiện sức khỏe tâm thần để điều trị.

Hãy nhớ, tuy nhiên, ở trẻ em đôi khi khó có thể nói một rối loạn ăn uống là những gì và những gì đơn giản là một ý thích, thử nghiệm với một chế độ ăn chay hoặc phong cách ăn uống khác. Ngoài ra, nhiều chàng trai cô gái và đôi khi đi vào chế độ ăn kiêng để giảm cân, nhưng dừng lại ăn kiêng sau một thời gian ngắn. Nếu là một phụ huynh hoặc người giám hộ, phải cẩn thận không để ăn kiêng sai lầm thường xuyên với một rối loạn ăn uống. Mặt khác, được cảnh báo cho việc ăn uống các mẫu và niềm tin mà có thể tín hiệu hành vi không lành mạnh, cũng như áp lực có thể gây ra rối loạn ăn uống.

Tín hiệu mà gia đình và bè thông báo có thể bao gồm:

Bỏ qua bữa ăn.

Xin lỗi vì đã không ăn uống.

Ăn chỉ một số ít các loại thực phẩm, thường là ít chất béo và calo.

Thông qua bữa ăn cứng hoặc nghi thức ăn, chẳng hạn như cắt thức ăn thành những miếng nhỏ.

Nấu bữa ăn cụ thể cho người khác, nhưng từ chối ăn chúng.

Tự cô lập từ các hoạt động bình thường xã hội.

Liên tục lo lắng hay phàn nàn về việc chất béo.

Một hình ảnh bị biến dạng cơ thể, chẳng hạn như thắc mắc về việc bị béo dù đã được cân.

Không muốn ăn ở nơi công cộng.

Thường xuyên kiểm tra trong gương cho những khiếm khuyết nhận thức.

Mặc quần áo rộng thùng thình.

Nhiều lần ăn nhiều thức ăn ngọt hoặc chất béo cao.

Sử dụng các chất bổ sung chế độ ăn uống hoặc các sản phẩm thảo dược để giảm cân.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính xác của rối loạn ăn uống là chưa biết. Khi bị bệnh tâm thần khác, có thể có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân có thể rối loạn ăn uống bao gồm:

Sinh học. Có thể có các gen làm cho một số người dễ bị tổn thương nhiều hơn để phát triển các chứng rối loạn ăn uống. Những người thân – anh chị em ruột hoặc cha mẹ với rối loạn ăn uống có thể có nhiều khả năng để phát triển rối loạn ăn uống, cho thấy một liên kết có thể di truyền. Ngoài ra, có một số bằng chứng cho thấy serotonin, một hóa chất não tự nhiên có thể ảnh hưởng đến hành vi ăn uống.

Tâm lý và sức khỏe tình cảm. Những người bị rối loạn ăn uống có thể có vấn đề tâm lý và tình cảm góp phần vào rối loạn. Họ có thể có lòng tự trọng thấp, cầu toàn, hành vi bốc đồng, khó khăn quản lý cơn giận, xung đột gia đình và các mối quan hệ rắc rối.

Xã hội. Các môi trường văn hóa hiện đại phương Tây thường nuôi dưỡng và củng cố một mong muốn. Thành công và giá trị này thường đồng nghĩa với hạn chế trong văn hóa phổ biến.

Yếu tố nguy cơ

Một số tình huống và sự kiện có thể làm tăng nguy cơ phát triển rối loạn ăn uống.

Những yếu tố nguy cơ có thể bao gồm:

Là phụ nữ. Trẻ em gái tuổi teen và phụ nữ trẻ có nhiều khả năng hơn so với nam thiếu niên và thanh niên để có các rối loạn ăn uống.

Tuổi. Mặc dù rối loạn ăn uống có thể xảy ra trên một phạm vi tuổi rộng lớn, từ tiền thanh thiếu niên đến người lớn tuổi, phổ biến hơn nhiều trong thanh thiếu niên và 20 tuổi.

Lịch sử gia đình. Rối loạn ăn uống nhiều hơn đáng kể khả năng xảy ra ở những người có cha mẹ hoặc anh chị em những người đã có một rối loạn ăn uống.

Ảnh hưởng gia đình. Những người cảm thấy không an toàn trong gia đình, có cha mẹ và anh chị em có thể quá quan trọng hoặc có trêu chọc về sự xuất hiện của họ có nguy cơ cao hơn về rối loạn ăn uống.

Rối loạn cảm xúc. Những người bị trầm cảm, rối loạn lo âu và rối loạn ám ảnh cưỡng chế có nhiều khả năng có một rối loạn ăn uống.

Ăn kiêng. Những người giảm cân thường được gia cố bởi ý kiến tích cực từ những người khác và bởi sự xuất hiện thay đổi của họ. Điều này có thể gây ra một số người có chế độ ăn kiêng quá xa, dẫn đến một rối loạn ăn uống.

Chuyển tiếp. Di chuyển tới một công việc mới hoặc chia tay một mối quan hệ, thay đổi có thể mang lại cảm xúc buồn bực mà có thể làm tăng tính nhạy cảm đến một rối loạn ăn uống.

Thể thao, làm việc và các hoạt động nghệ thuật. Vận động viên, diễn viên, vũ công là các mô hình có nguy cơ cao của rối loạn ăn uống. Rối loạn ăn uống đặc biệt phổ biến trong nữ diễn viên múa, vận động viên thể dục, người tham gia và đô vật. Huấn luyện viên và cha mẹ vô tình có thể đóng góp cho chứng rối loạn ăn uống bằng cách khuyến khích các vận động viên trẻ giảm cân.

Các biến chứng

Rối loạn ăn uống gây ra nhiều biến chứng, một số người trong số họ đe dọa tính mạng. Càng nghiêm trọng hoặc lâu dài các rối loạn ăn uống, nhiều khả năng trải nghiệm những biến chứng nghiêm trọng. Các biến chứng có thể bao gồm:

Cái chết.

Bệnh tim.

Trầm cảm.

Suy nghĩ hoặc hành vi tự tử.

Không có kinh nguyệt (vô kinh).

Mất xương.

Còi cọc.

Động kinh.

Vấn đề tiêu hóa.

Ruột không đều.

Thận bị tổn thương.

Sâu răng nặng.

Cao hoặc huyết áp thấp.

Tiểu đường type 2.

Bệnh túi mật.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Rối loạn ăn uống được chẩn đoán dựa trên dấu hiệu, triệu chứng và thói quen ăn uống. Khi các bác sĩ nghi ngờ một người có rối loạn ăn uống, họ thường chỉ định nhiều xét nghiệm hoặc thực hiện các kỳ kiểm tra. Đây có thể giúp xác định chẩn đoán và cũng có thể kiểm tra các biến chứng liên quan.

Đánh giá lâm sàng và xét nghiệm

Các kỳ kiểm tra và các xét nghiệm thường bao gồm:

Khám nghiệm lâm sàng. Điều này có thể bao gồm những thứ như đo chiều cao, cân nặng và chỉ số khối cơ thể, kiểm tra các dấu hiệu quan trọng như nhịp tim, huyết áp và nhiệt độ, kiểm tra làn da khô hoặc những vấn đề khác, nghe tim và phổi và kiểm tra bụng.

Phòng thí nghiệm. Đây có thể bao gồm một số lượng máu đầy đủ (CBC), cũng như xét nghiệm máu để kiểm tra chuyên ngành điện giải và protein cũng như gan, thận và chức năng tuyến giáp. Phân tích nước tiểu cũng có thể được thực hiện.

Các nghiên cứu khác. X – quang có thể được thực hiện để kiểm tra gãy xương, viêm phổi hoặc bệnh tim. Điện tâm đồ có thể được thực hiện để tìm bất thường tim. Cũng có thể có một bài kiểm tra mật độ xương.

Đánh giá tâm lý

Bên cạnh một kỳ kiểm tra lâm sàng và xét nghiệm, sẽ có một đánh giá toàn diện về tâm lý. Bác sĩ hoặc nhà cung cấp sức khỏe tâm thần có thể yêu cầu một số câu hỏi về thói quen ăn uống, niềm tin và hành vi. Các câu hỏi có thể tập trung vào lịch sử của chế độ ăn kiêng, ăn quá độ và tập thể dục. Sẽ tìm hiểu làm thế nào cảm nhận được hình ảnh cơ thể và làm thế nào nghĩ rằng những người khác cảm nhận được hình ảnh cơ thể.  Cũng có thể điền vào bảng câu hỏi tự đánh giá tâm lý.

Tiêu chuẩn chuẩn đoán

Để được chẩn đoán mắc một chứng rối loạn ăn uống, phải đáp ứng các tiêu chí nêu ra trong hướng dẫn sử dụng chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) được công bố bởi Hiệp hội Tâm thần Mỹ. Mỗi rối loạn ăn uống đã thiết lập riêng về tiêu chuẩn chẩn đoán. Cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần sẽ xem xét các dấu hiệu và triệu chứng  để xem nếu đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán cần thiết cho một rối loạn ăn uống đặc biệt. Một số người không thể đáp ứng mọi tiêu chuẩn nhưng vẫn có một rối loạn ăn uống và cần sự giúp đỡ chuyên nghiệp để khắc phục hoặc quản lý nó.

Phương pháp điều trị và thuốc

Rối loạn ăn uống điều trị phụ thuộc vào loại hình cụ thể rối loạn ăn uống. Nhưng nói chung nó thường bao gồm giáo dục tâm lý dinh dưỡng và thuốc men. Nếu cuộc sống  có nguy cơ có thể cần nhập viện ngay lập tức để ổn định sức khỏe.

Tâm lý trị liệu

Cá nhân tâm lý có thể giúp tìm hiểu làm thế nào để trao đổi những thói quen không lành mạnh cho những người khỏe mạnh. Tìm hiểu làm thế nào để theo dõi ăn uống và tâm trạng, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và khám phá những cách lành mạnh để đối phó với tình huống căng thẳng. Tâm lý trị liệu cũng có thể giúp cải thiện mối quan hệ và tâm trạng. Một loại tâm lý liệu pháp được gọi là nhận thức hành vi thường được sử dụng trong điều trị rối loạn ăn uống, đặc biệt là rối loạn tâm thần cuồng ăn và ăn quá nhiều. Nhóm điều trị cũng có thể hữu ích cho một số người.

Gia đình điều trị cũng có thể là một điều trị hiệu quả cho trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn ăn uống. Đây là loại điều trị bắt đầu với giả định rằng người có rối loạn ăn uống là không còn khả năng ra quyết định về sức khỏe của mình và cần sự giúp đỡ từ gia đình. Một phần quan trọng của liệu pháp dựa trên gia đình là gia đình có liên quan trong việc bảo đảm rằng trẻ em hoặc các thành viên của gia đình sau mẫu ăn lành mạnh và được khôi phục lại trọng lượng. Đây là loại điều trị có thể giúp giải quyết xung đột gia đình và khuyến khích hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình có liên quan.

Trọng lượng phục hồi và giáo dục dinh dưỡng

Nếu đang mất cân bằng cân nặng do sự rối loạn ăn uống, mục tiêu đầu tiên của việc điều trị sẽ được bắt đầu nhận trở lại với một trọng lượng khỏe mạnh. Không có vấn đề gì về cân nặng, chuyên gia dinh dưỡng và nhà cung cấp dịch vụ y tế khác có thể cung cấp thông tin về một chế độ ăn uống lành mạnh, và giúp thiết kế một kế hoạch ăn uống có thể giúp đạt được một trọng lượng khỏe mạnh và thấm nhuần thói quen ăn uống bình thường. Nếu có rối loạn ăn quá nhiều, có thể hưởng lợi từ các chương trình y tế giám sát giảm cân.

Nhập viện

Nếu có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hoặc nếu đã chán ăn và từ chối không ăn hoặc tăng cân, bác sĩ có thể khuyên nên nhập viện. Một số bệnh viện chuyên điều trị những người bị rối loạn ăn uống. Một số có thể cung cấp các chương trình trong ngày thay vì nhập viện đầy đủ. Chương trình chuyên ngành rối loạn ăn uống có thể cung cấp điều trị chuyên sâu hơn trong một thời gian dài hơn.

Thuốc men

Thuốc không thể chữa trị rối loạn ăn uống. Tuy nhiên thuốc có thể giúp kiểm soát kêu gọi cho ăn uống hoặc để quản lý quá nhiều mối bận tâm với thực phẩm và chế độ ăn uống. Thuốc như thuốc chống trầm cảm và thuốc chống lo âu cũng có thể giúp đỡ với các triệu chứng của trầm cảm hoặc lo lắng – đó là thường xuyên liên kết với rối loạn ăn uống.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Khi có một rối loạn ăn uống, chăm sóc sức khỏe cần thường xuyên không phải là một trong những ưu tiên. Nhưng tự chăm sóc thích hợp có thể giúp cảm thấy tốt hơn trong khi và sau khi điều trị và giúp duy trì sức khỏe tổng thể.

Cố gắng làm các bước sau là một phần của thói quen hàng ngày:

Tham gia vào kế hoạch điều trị. Đừng bỏ qua các khóa trị liệu và cố gắng không bỏ qua kế hoạch bữa ăn.

Nói chuyện với bác sĩ khoảng thích hợp vitamin và khoáng chất bổ sung để đảm bảo nhận được tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết.

Đừng tự cô lập từ các thành viên gia đình chăm sóc và bạn bè, những người muốn nhận được khỏe mạnh và có lợi ích tốt nhất ở tim.

Nói chuyện với các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe về loại tập thể dục nếu có là thích hợp.

Đọc sách tự giúp đỡ mà cung cấp thực tế tư vấn. Hãy xem xét thảo luận về những cuốn sách với các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe.

Thay thế thuốc

Thông thường, khi chuyển sang thuốc thay thế để cải thiện sức khỏe, nhưng đối với những người bị rối loạn ăn uống không phải luôn luôn như vậy. Phương pháp điều trị thay thế thuốc có cả hậu quả tiêu cực và tích cực khi nói đến rối loạn ăn uống.

Việc xấu

Có rất nhiều chế độ ăn uống bổ sung và các sản phẩm thảo dược được thiết kế để ngăn chặn sự thèm ăn, viện trợ giảm cân và các sản phẩm này có thể bị lạm dụng bởi những người có rối loạn ăn uống. Nhiều người bị rối loạn ăn uống có sử dụng sản phẩm đó. Những sản phẩm này có thể có khả năng tương tác nguy hiểm với các thuốc khác, chẳng hạn như thuốc nhuận tràng hoặc thuốc lợi tiểu, mà thường được sử dụng bởi những người có rối loạn ăn uống.

Ngoài ra giảm cân, bổ sung hoặc các loại thảo mộc có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như tim đập không đều, chấn động, ảo giác, mất ngủ, chóng mặt, buồn nôn và căng thẳng. Thảo luận về các nguy cơ tiềm ẩn của việc sử dụng chất bổ sung chế độ ăn uống hoặc thảo dược để giảm cân với bác sĩ.

Việc tốt

Mặc dù tập yoga vẫn chưa được nghiên cứu như điều trị cho người bị rối loạn ăn uống, một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng yoga có thể có ích như là một điều trị bổ sung. Nó có thể giúp những người bị rối loạn ăn uống bằng cách tăng cảm giác hạnh phúc và phát huy thư giãn.

Đối phó và hỗ trợ

Ngoài việc điều trị chuyên nghiệp cho rối loạn ăn uống, cũng có thể làm theo các kỹ năng đối phó:

Tăng cường lòng tự trọng. Hãy tham gia vào các hoạt động quan tâm và được khen thưởng cá nhân. Đây có thể bao gồm học một kỹ năng mới, phát triển một sở thích hay tham gia vào một nhóm xã hội hay cộng đồng.

Hãy thực tế. Không chấp nhận những gì một số các phương tiện truyền thông miêu tả về một trọng lượng bình thường và một hình ảnh cơ thể lý tưởng.

Chống lại các yêu cầu để chế độ ăn uống hoặc bỏ bữa. Ăn kiêng thực sự gây nên ăn uống không lành mạnh và làm cho khó khăn để đối phó với căng thẳng.

Nhắc nhở một trọng lượng khỏe mạnh cho cơ thể. Đặc biệt là vào những thời điểm khi nhìn thấy hình ảnh mà có thể kích hoạt được mong muốn.

Không nên vào các trang web mà người biện hộ hay tôn vinh các rối loạn ăn uống. Những trang web này có thể khuyến khích duy trì thói quen nguy hiểm và có thể gây tái phát.

Xác định các tình huống phiền hà có khả năng kích hoạt tư tưởng hoặc hành vi đó có thể góp phần rối loạn ăn uống, để có thể phát triển một kế hoạch để đối phó với chúng.

Hãy tìm kiếm các mô hình vai trò tích cực, thậm chí nếu không dễ dàng tìm thấy. Nhắc nhở bản thân rằng các mô hình siêu mảnh hoặc nữ diễn viên trình diễn trên các tạp chí phổ biến thường không đại diện cho cơ quan khỏe mạnh.

Xem xét việc ghi nhật ký về cảm xúc và hành vi. Ghi nhật ký có thể làm cho ý thức hơn về cảm xúc và hành động và làm thế nào họ đang kết nối.

Phòng chống

Mặc dù không có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa rối loạn ăn uống, một số bước có thể giúp ngăn ngừa rối loạn ăn uống ở những người thân:

Tranh thủ bác sĩ giúp đỡ. Khi đi khám bác sĩ, bác sĩ có thể ở một vị trí tốt để xác định các chỉ số ban đầu của rối loạn ăn uống và ngăn chặn sự phát triển của bệnh toàn diện. Có thể yêu cầu trẻ em những câu hỏi về thói quen ăn uống và sự hài lòng với sự xuất hiện của họ trong các cuộc hẹn thường xuyên y tế. Thăm khám sẽ bao gồm kiểm tra các chỉ số khối cơ thể và trọng lượng, có thể cảnh báo và bác sĩ cho bất kỳ thay đổi đáng kể.

Khuyến khích thói quen lành mạnh ăn uống. Thói quen ăn uống cũng có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ trẻ em phát triển với thực phẩm. Ăn các bữa ăn cùng nhau mang đến một cơ hội để dạy trẻ em về những cạm bẫy ăn kiêng và khuyến khích ăn uống lành mạnh.

Hãy để ý về sử dụng máy tính. Bởi vì có rất nhiều các trang web quảng cáo ăn kiêng như là một sự lựa chọn lối sống hơn là một rối loạn ăn uống, điều quan trọng để giám sát sử dụng máy tính của con em. Có thể làm điều này bằng cách giữ cho máy tính ở một vị trí phổ biến trong nhà, hoặc bằng cách định kỳ kiểm tra trang lịch sử của máy tính để xem những gì các trang web con đã truy cập.

Tu luyện và củng cố một hình ảnh cơ thể khỏe mạnh ở trẻ em, bất cứ điều gì hình dạng hoặc kích thước. Nói chuyện với trẻ về hình ảnh của mình và tự đưa ra đảm bảo rằng hình dạng cơ thể có thể khác nhau. Khuyến khích trẻ em hoặc thành viên gia đình để kiềm chế không nói đùa về những đứa trẻ khác hoặc người lớn bị thừa cân hoặc có một khung cơ thể lớn. Các thông điệp này chấp nhận và tôn trọng có thể giúp xây dựng lòng tự trọng lành mạnh và khả năng phục hồi sẽ thực hiện trẻ em thông qua các thời kỳ của tuổi niên thiếu.

Nếu nghi ngờ gặp rắc rối. Ngoài ra, nếu nhận thấy một thành viên trong gia đình hay bạn bè có lòng tự trọng thấp, chế độ ăn kiêng nghiêm trọng, thường xuyên ăn quá nhiều, tích trữ lương thực, xem xét việc nói chuyện về những vấn đề này. Mặc dù có thể không có khả năng ngăn chặn rối loạn ăn uống phát triển, có thể khuyến khích người đó tìm cách điều trị.

Theo Dieutri.vn

GERD

GERD

GERD! Cảm giác nóng trong nồng ngực, ợ nóng, đau ngực, khó nuốt, ho khan, nôn chua…Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bị đau ngực, đặc biệt là khi đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng như khó thở hoặc đau cánh tay hoặc hàm. Đây có thể là dấu hiệu và triệu chứng của một cơn đau tim.

Định nghĩa

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một bệnh tiêu hóa mãn tính , xảy ra khi acid dạ dày hay đôi khi dòng chảy mật trở lại (refluxes) vào ống dẫn thức ăn (thực quản). Các axít kích thích niêm mạc thực quản và gây ra các dấu hiệu và triệu chứng GERD.

Các dấu hiệu và triệu chứng của GERD bao gồm acid reflux và ợ nóng. Cả hai đều là điều kiện thông thường tiêu hóa mà hầu hết mọi người trải nghiệm. Khi các dấu hiệu và triệu chứng xảy ra nhiều hơn hai lần mỗi tuần hoặc can thiệp vào cuộc sống hàng ngày, gặp bác sỹ .

Hầu hết mọi người có thể quản lý những khó chịu của chứng ợ nóng với thay đổi lối sống và thuốc không kê đơn. Nhưng đối với những người có GERD, các biện pháp khắc phục có thể cung cấp chỉ giảm tạm thời. Những người bị GERD có thể cần thuốc mạnh hơn, thậm chí phẫu thuật, để làm giảm triệu chứng.

Các triệu chứng

GERD, dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

Một cảm giác nóng trong lồng ngực (ợ nóng), đôi khi lan sang cổ họng, cùng với một hương vị chua trong miệng.

Đau ngực.

Khó nuốt (chứng khó nuốt).

Ho khan.

Khan tiếng hay đau họng.

Thức ăn hoặc nôn sữa chua lỏng (acid reflux).

Cảm giác của một khối u trong cổ họng.

Đến gặp bác sĩ khi

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bị đau ngực, đặc biệt là khi đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng như khó thở hoặc đau cánh tay hoặc hàm. Đây có thể là dấu hiệu và triệu chứng của một cơn đau tim.

Lấy hẹn với bác sĩ nếu gặp các triệu chứng nặng hoặc thường xuyên của GERD. Nếu  chuyển sang thuốc toa cho chứng ợ nóng nhiều hơn hai lần mỗi tuần, hãy gặp bác sĩ.

Nguyên nhân

GERD là do trào ngược axit thường xuyên, sao lưu của acid dạ dày hoặc mật vào thực quản.

Khi nuốt, các cơ vòng thực quản dưới, thư giãn để cho phép thực phẩm và chất lỏng chảy xuống dạ dày. Sau đó, nó đóng lại.

Tuy nhiên, nếu van này thư giãn bất thường hoặc suy yếu, acid dạ dày có thể chảy ngược lại vào trong thực quản, gây ra chứng ợ nóng thường xuyên và phá vỡ cuộc sống hàng ngày. Điều liên tục ngược axit có thể gây kích ứng niêm mạc thực quản, làm cho nó bị viêm (viêm thực quản). Theo thời gian, các chứng viêm có thể làm xói mòn thực quản, gây ra các biến chứng như chảy máu hoặc hơi thở vấn đề.

Yếu tố nguy cơ

Điều kiện có thể làm tăng nguy cơ bị GERD bao gồm:

Bệnh béo phì .

Thoát vị Hiatal.

Mang thai.

Hút thuốc.

Khô miệng.

Hen suyễn.

Bệnh tiểu đường.

Chậm tiêu hóa của dạ dày.

Mô liên kết rối loạn, chẳng hạn như xơ cứng bì.

Hội chứng Zollinger – Ellison.

Các biến chứng

Theo thời gian, mãn tính viêm thực quản có thể dẫn đến biến chứng, bao gồm:

Thu hẹp thực quản (thực quản hẹp). Thiệt hại cho các tế bào ở thực quản thấp hơn do tiếp xúc với acid dẫn đến hình thành mô sẹo. Các mô sẹo thu hẹp con đường thực phẩm, gây ra khó nuốt.

Loét thực quản. Acid dạ dày có thể làm xói mòn các mô ở thực quản nghiêm trọng. Các vết loét có thể chảy máu thực quản, gây đau và làm cho nuốt khó khăn.

Tiền ung thư trong thực quản (thực quản Barrett). Trong thực quản Barrett, màu sắc và thành phần của tế bào lót nơi thấp trong thực quản thay đổi. Những thay đổi này có liên quan với tăng nguy cơ ung thư thực quản. Nguy cơ ung thư là thấp, nhưng bác sĩ sẽ khuyên nên thường xuyên nội soi để tìm những dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư thực quản.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu đang làm phiền bởi ợ nóng thường xuyên hoặc các dấu hiệu và triệu chứng, bác sĩ có thể chẩn đoán GERD với thông tin đó. Bác sĩ cũng có thể đề nghị xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán GERD, bao gồm:

X – quang hệ thống tiêu hóa  trên. Đôi khi được gọi là bari nuốt hoặc loạt GI, thủ tục này liên quan đến việc uống một chất lỏng phấn áo khoác và lấp đầy các hốc của đường tiêu hóa. Sau đó, X – quang chụp đường tiêu hóa trên. Loại sơn này cho phép bác sĩ nhìn thấy một hình bóng của hình dạng và điều kiện của thực quản, dạ dày và ruột non (tá tràng) trên.

Đi qua xuống cổ họng một ống dẻo. Nội soi là một cách để kiểm tra bên trong thực quản. Trong khi nội soi, bác sĩ đưa một ống mỏng, linh hoạt được trang bị với một ánh sáng và camera (nội soi) xuống cổ họng. Nội soi cho phép bác sĩ kiểm tra thực quản và dạ dày. Bác sĩ cũng có thể sử dụng nội soi để lấy mẫu mô (sinh thiết) để thử nghiệm thêm.

Một xét nghiệm để theo dõi số lượng axit trong thực quản. Ambulatory acid (pH) kiểm tra thăm dò, sử dụng một thiết bị đo acid để xác định khi nào và trong bao lâu, acid dạ dày thực quản trào ngược. Ống thông luồn qua mũi vào thực quản. Trong thời gian thử nghiệm, ống chỉ nằm tại chỗ và kết nối vào một máy tính nhỏ đeo quanh eo hoặc với một dây đeo qua vai. Hoặc màn hình acid có thể là một clip đặt trong thực quản trong khi nội soi. Đầu dò truyền tín hiệu đến một máy tính nhỏ đeo quanh eo trong khoảng hai ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu ngừng dùng thuốc GERD để chuẩn bị cho thử nghiệm này.

Xét nghiệm để đo chuyển động của thực quản. Các biện pháp thực quản trở kháng chuyển động và áp lực trong thực quản. Các thử nghiệm bao gồm việc đặt một ống thông qua mũi và thành thực quản .

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị ợ nóng và các dấu hiệu và triệu chứng của GERD thường bắt đầu với các thuốc kê toa, điều khiển acid. Nếu không tìm thấy cứu trợ trong vòng một vài tuần, bác sĩ có thể đề nghị phương pháp điều trị khác, bao gồm cả thuốc và phẫu thuật.

Phương pháp điều trị ban đầu để kiểm soát chứng ợ nóng

Phương pháp điều trị có thể giúp kiểm soát ợ nóng bao gồm:

Thuốc kháng acid là trung hòa acid dạ dày. Thuốc kháng acid, như Maalox, Mylanta, Gelusil, Rolaids và Tums, có thể cung cấp cứu trợ nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc kháng acid một mình sẽ không chữa lành thực quản bị viêm, bị hư hỏng bởi acid dạ dày. Lạm dụng của một số thuốc kháng acid có thể gây ra tác dụng phụ như tiêu chảy hoặc táo bón.

Các loại thuốc để giảm sản xuất acid. Được gọi là H-2-receptor blockers, các loại thuốc này bao gồm cimetidine (Tagamet HB), famotidine (Pepcid AC), nizatidine (Axid AR) hoặc ranitidine (Zantac 75). H-2 receptor blockers không hành động nhanh như thuốc kháng acid, nhưng họ cung cấp cứu trợ lâu hơn. Phiên bản mạnh hơn của các thuốc này có sẵn ở dạng thuốc kê toa.

Thuốc chữa bệnh giảm sản xuất acid. Ức chế bơm proton sản xuất acid và cho phép thời gian cho các mô bị hư hỏng thực quản để chữa bệnh. Ức chế bơm proton bao gồm lansoprazole (Prevacid 24 nhân sự) và omeprazole (Prilosec OTC).

Liên hệ với bác sĩ nếu các loại thuốc này dường như không được cải thiện sau một vài tuần.

Thuốc theo toa

Nếu ợ nóng vẫn tiếp diễn mặc dù cách tiếp cận ban đầu, bác sĩ có thể khuyên nên theo toa thuốc, chẳng hạn như:

Toa H-2-receptor blockers. Chúng bao gồm toa cimetidine (Tagamet), nizatidine famotidine (Pepcid), (Axid) và ranitidine (Zantac).

Toa chất ức chế bơm proton. Toa-ức chế bơm proton bao gồm esomeprazole (Nexium), lansoprazole (Prevacid), omeprazole (Prilosec Rx), pantoprazole (Protonix) và rabeprazole (Aciphex).

Các loại thuốc để tăng cường cơ vòng thực quản dưới. Được gọi là prokinetic, các loại thuốc này giúp dạ dày trống rỗng nhanh hơn và giúp thắt chặt các van giữa dạ dày và thực quản. Tác dụng phụ, chẳng hạn như mệt mỏi, trầm cảm, lo lắng và các vấn đề về thần kinh khác, hạn chế tính hữu dụng của những thuốc này.

Thuốc GERD đôi khi được kết hợp để tăng hiệu quả.

Phẫu thuật và các thủ tục khác sử dụng nếu thuốc không giúp

GERD có thể được điều khiển thông qua thuốc. Trong trường hợp thuốc không phải là hữu ích hoặc muốn tránh sử dụng thuốc lâu dài, bác sĩ có thể khuyên nên thủ tục xâm lấn hơn, chẳng hạn như:

Phẫu thuật để củng cố cơ vòng thực quản dưới. Được gọi là fundoplication Nissen, phẫu thuật này bao gồm việc thắt chặt các cơ vòng thực quản dưới để ngăn chặn trào ngược. Phẫu thuật có thể được mở, có nghĩa là các bác sĩ phẫu thuật làm cho một vết mổ dài ở bụng. Hoặc phẫu thuật có thể được nội soi, có nghĩa là các bác sĩ phẫu thuật làm cho ba hoặc bốn vết mổ nhỏ ở bụng và chèn nhạc cụ, bao gồm một ống linh hoạt với một máy ảnh nhỏ, qua các vết mổ.

Phẫu thuật để tạo ra một rào cản ngăn chặn việc sao lưu của acid dạ dày. Thủ tục này, được gọi là EndoCinch endoluminal gastroplication, sử dụng một công cụ giống như một máy may thu nhỏ. Nó đặt cặp mũi khâu trong dạ dày gần cơ thắt suy yếu. Các vật liệu khâu sau đó được gắn với nhau, tạo ra các rào cản để ngăn chặn axit trong dạ dày vào thực quản. Nó không rõ ai là thích hợp nhất để điều trị và nghiên cứu này đang diễn ra.

Thủ thuật để tạo thành mô sẹo trong thực quản. Cách tiếp cận này, được gọi là hệ thống Stretta, sử dụng điện năng lượng để làm nóng các mô thực quản. Nhiệt tạo mô sẹo và gây tổn thương dây thần kinh phản ứng với acid refluxed. Các mô sẹo hình thành như là chữa bệnh thực quản sẽ giúp tăng cường cơ bắp. Nó không rõ ai là thích hợp nhất để điều trị và nghiên cứu này đang diễn ra.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Thay đổi lối sống có thể giúp làm giảm tần số của chứng ợ nóng. Hãy xem xét cố gắng để:

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Dư thừa cân gây áp lực lên bụng, thúc đẩy dạ dày và gây ra acid sao lưu vào thực quản. Nếu trọng lượng được khỏe mạnh, làm việc để duy trì nó. Nếu đang thừa cân hoặc béo phì, làm việc để từ từ giảm cân – không quá 0,5 – 1 kg một tuần. Hỏi bác sĩ để được giúp đỡ đặt ra một chiến lược giảm cân.

Tránh quần áo chặt. Quần áo với chặt quanh eo gây áp lực lên bụng và các cơ vòng thực quản dưới.

Tránh các loại thực phẩm gây ra chứng ợ nóng. Mọi người đều có cụ thể gây nên. Thường gây nên chẳng hạn như béo hay các thực phẩm rán, rượu, chocolate, bạc hà, hành tây, tỏi và cà phê có thể làm cho chứng ợ nóng tệ hơn.

Không nằm xuống sau bữa ăn. Chờ ít nhất 2 – 3 giờ sau khi ăn trước khi nằm xuống hay đi ngủ.

Nâng cao đầu giường. Độ cao trong khoảng sáu đến chín inch. Đặt khối gỗ hay xi măng dưới chân giường ở cuối đầu. Nếu không thể để nâng cao giường, có thể chèn một cái nêm giữa nệm lò xo để nâng cao cơ thể từ thắt lưng trở lên. Nêm có sẵn tại nhà thuốc và cửa hàng cung cấp y tế.

Không hút thuốc. Hút thuốc làm giảm khả năng của cơ vòng thực quản dưới hoạt động đúng.

Thay thế thuốc

Không có thuốc thay thế được chứng minh để điều trị GERD hoặc để đảo ngược thiệt hại cho thực quản. Tuy nhiên, một số liệu pháp bổ sung và thay thế có thể cung cấp một số cứu trợ, khi kết hợp với chăm sóc của bác sĩ.

Nói chuyện với bác sĩ về những gì thay thế phương pháp điều trị GERD có thể được an toàn. Tùy chọn có thể bao gồm:

Thảo dược biện pháp khắc phục. Đôi khi được sử dụng thảo dược biện pháp khắc phục các triệu chứng GERD bao gồm cam thảo cây du, trơn trượt, hoa cúc và marshmallow. Thảo dược biện pháp khắc phục có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng và có thể can thiệp bằng thuốc. Hãy hỏi bác sĩ về một liều lượng an toàn trước khi bắt đầu bất kỳ thảo dược.

Liệu pháp thư giãn. Kỹ thuật làm dịu căng thẳng và lo lắng có thể làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của GERD. Hãy hỏi bác sĩ về kỹ thuật thư giãn.

Châm cứu. Châm cứu bao gồm việc chèn kim mỏng vào điểm cụ thể trên cơ thể. Một nghiên cứu nhỏ báo cáo rằng châm cứu giúp những người bị ợ nóng mà vẫn tồn tại mặc dù thuốc. Hãy hỏi bác sĩ xem châm cứu là an toàn.

Theo Dieutri.vn