Hiển thị các bài đăng có nhãn bác sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bác sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Hiểu đúng về chống lão hoá da

Hiểu đúng về chống lão hoá da

Để xoá đi dấu ấn thời gian trên gương mặt, nhiều chị em không tiếc tiền cho các sản phẩm chống lão hoá hay cầu cứu tới dịch vụ spa, thẩm mỹ viện… Tuy nhiên, chị em lại thiếu kiến thức trầm trọng về sự tấn công lặng lẽ của quá trình này…

1. Axit AHA ăn mòn da mặt

Sai.

Axit AHA còn được gọi với cái tên đơn giản là axit trái cây. Nó được chiết xuất thành kem dưỡng da ban ngày, mặt nạ dưỡng da từ mía, cam, táo…

Loại axit này thực sự là người bạn thân thiết của sắc đẹp nhờ khả năng đẩy nhanh quá trình tái tạo tế bào mới và đồng thời loại bỏ các tế bào da chết (làm chậm lại quá trình lão hoá da).

2. Các chất chống ôxy hoá ngăn chặn các gốc tự do

Đúng.

Các gốc tự do thực chất là các phân tử được sản sinh ra từ sự hô hấp tế bào, stress, ô nhiễm môi trường và chế độ sinh hoạt kém khoa học. Do thuộc tính ôxy hoá rất cao nên các gốc tự do có thể phá huỷ hoàn toàn màng tế bào, gây ra sự lão hoá sớm.

Để ngăn chặn sự tích tụ các gốc tự do, ta cần cung cấp cho cơ thể các chất chống ôxy hoá như vitamin E (có nhiều trong trái cây, rau xanh, mầm ngũ cốc…), vitamin C (các loại trái cây như cam, bưởi, dâu tây, xoài…), betacaroten (có trong các loại trái cây, rau củ màu đỏ), trà xanh.

3. Collagen có sẵn trong cơ thể

Đúng.

Là một loại protein có chức năng chính là chất “keo” kết nối các mô trong cơ thể và tạo sự đàn hồi cho da, collagen thực sự rất quan trọng đối với sức khoẻ cũng như sắc đẹp của con người.

Theo năm tháng, sự sản xuất collagen trong cơ thể kém đi, da mất dần đi độ căng và sự đàn hồi, da chùng và nhão sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nếp nhăn lộ diện.

4. Liệu pháp trẻ hoá bằng Botox là liều thuốc độc

Đúng.

Botox hay độc tố botulinum được sử dụng để làm tê liệt các cơ bắp trong phẫu thuật mắt và não. Từ 10 năm đổ lại đây, botox xuất hiện ngày càng nhiều trong phẫu thuật thẩm mỹ để làm trẻ hoá làn da trong chốc lát.

Thực tế, botox không phải là thần dược như nhiều chị em nghĩ. Nó không có khả năng làm bạn trẻ đến 20 tuổi hay xoá các rãnh nếp nhăn bằng co rút cơ. Chính vì thế, chị em cần hết sực thận trọng khi sử dụng liệu pháp trẻ hoá này để tránh những tác dụng phụ không mong muốn.

5. Màng chắn nắng chống lại sự lão hoá da

Đúng.

Các tia cực tím UV là thủ phạm chính gây ra sự lão hoá sớm của da. Vì thế, trước khi sử dụng các loại kem chống lão hoá, cần bảo vệ làn da trước sự tấn công của ánh nắng mặt trời dù rằng bạn không thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng hay không bao giờ phơi nắng đi chăng nữa.

Các loại kem dưỡng da ban ngày thường có chỉ số chống nắng SPF là 15 và thông thường các sản phẩm chăm sóc da ban ngày hiện nay đều có một chỉ số chống nắng nhất định.

6. Lượng vitamin C trong da tăng theo tuổi tác

Hoàn toàn sai.

So với làn da thông thường, tỉ lệ vitamin C ở làn da “có tuổi” bị cắt giảm tới 70%.

Vì thế, cần bổ sung gấp một chế độ ăn uống giàu vitamin C bởi vitamin này rất cần thiết cho sự sản sinh collagen và hạn chế các tác nhân gây hại từ tia cực tím.

7. Làn da của nam giới già nhanh hơn so với phụ nữ

Sai.

Làn da của nam giới thường nhờn và dày hơn của nữ giới. Chính nhờ sự khác biệt này nên cánh mày râu  bị tuổi già “hỏi thăm” muộn hơn so với chị em phụ nữ.

8. Cung cấp nước và dưỡng ẩm đều đặn là giải pháp tốt ngăn chặn lão hoá da

Đúng.

Thường xuyên cung cấp nước cho da mặt có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá da. Tốt nhất nên uống đủ nước mỗi ngày và sử dụng đều đặn các sản phẩm dưỡng ẩm (dạng kem, sữa hoặc mousse).

Theo Khiết Linh – dantri.com.vn

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, hiện nay, khoảng 30-40% dân số nhiều nước trên thế giới bị mắc các bệnh dị ứng, và tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển.

Cùng với sự gia tăng này, một vấn đề đang hết sức được quan tâm đó là sự tác động của yếu tố môi trường đối với những bệnh dị ứng, đặc biệt là tác động của bia rượu, do việc sử dụng những thức uống này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh rất nhiều tác hại đối với sức khỏe con người đã được khẳng định như gây các bệnh lý về tim mạch , tâm thần kinh, tiêu hóa , bia rượu còn có thể có nhiều tác động tiêu cực đối với các bệnh dị ứng. Theo những kết quả nghiên cứu gần đây, các loại bia rượu có thể liên quan đến những phản ứng dị ứng tức thì sau khi uống và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng ở những người sử dụng kéo dài các thức uống này.

Trong thực tế, các phản ứng dị dứng tức thì liên quan đến bia rượu xảy ra tương đối phổ biến, với biểu hiện lâm sàng và cơ chế gây bệnh khá đa dạng và phức tạp. Hầu hết các trường hợp này không phải là những phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trên lâm sàng, các biểu hiện dị ứng sau uống bia, rượu thường gặp nhất là hội chứng nóng bừng (bao gồm cảm giác bốc hỏa, tụt huyết áp , tăng thân nhiệt, nhịp tim nhanh, chóng mặt, đau đầu, buồn ngủ, lo lắng, mệt mỏi và buồn nôn), mày đay, phù Quincke và sốc phản vệ. Ngoài ra, bia rượu còn có thể là yếu tố làm khởi phát hoặc làm nặng triệu chứng của một số bệnh dị ứng đã có từ trước như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, sốc phản vệ do vận động, mày đay, sẩn ngứa… ở những cá thể nhạy cảm. Các phản ứng dị ứng liên quan với bia, rượu thường gặp ở người châu Á, Trung và Nam Mỹ hơn so với các chủng tộc người khác, có thể do sự khác biệt trong quá trình chuyển hóa cồn giữa các chủng tộc.

Những nghiên cứu trên cả người và động vật trong khoảng 3 thập kỷ gần đây cho thấy, cồn và acetaldehyd (là sản phẩm chuyển hóa của cồn trong cơ thể) đều có thể trực tiếp phá vỡ các tế bào mast, gây giải phóng histamin và nhiều hoạt chất trung gian gây dị ứng. Ngoài ra, các chất này còn có thể ức chế quá trình chuyển hóa và đào thải histamin được hấp thu từ thức ăn, do đó, làm tăng nồng độ của hoạt chất này ở các tổ chức. Tăng nồng độ histamin chính là yếu tố quan trọng góp phần gây ra hội chứng nóng bừng, làm bùng phát triệu chứng của hen phế quản và nhiều bệnh dị ứng khác sau uống bia, rượu. Các nghiên cứu còn cho thấy, khí dung chất acetaldehyd có thể gây co thắt phế quản rất mạnh và gây ra cơn hen cấp.

Bên cạnh cơ chế kể trên, trong một số ít trường hợp, các biểu hiện dị ứng với bia, rượu còn có thể gây ra do phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trong những trường hợp này, các biểu hiện lâm sàng thường gặp là mày đay, phù Quincke hoặc sốc phản vệ. Cồn (etanol) và các sản phẩm chuyển hóa của nó đều có trọng lượng phân tử thấp và bản thân chúng không có khả năng gây dị ứng, nhưng khi chúng được gắn với protein trong cơ thể sẽ tạo ra các dị nguyên hoàn chỉnh có khả năng gây dị ứng. Trong một số nghiên cứu, người ta đã tìm thấy các kháng thể dị ứng kháng lại phức hợp với acetaldehyd – protein trong máu của những người bị dị ứng với rượu.

Ngoài cồn là yếu tố chủ yếu gây ra các vấn đề về dị ứng, các chất phụ gia, bảo quản và tạp chất như histamin, gốc sulphite hoặc phẩm nhuộm cũng có thể là nguyên nhân gây ra các phản ứng này trong một số trường hợp. Theo một số nghiên cứu, những người có cơ địa dị ứng với lúa mạch và men cũng sẽ có nguy cơ bị dị ứng với bia.

Bên cạnh những phản ứng dị ứng tức thì, đang có ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy việc dùng bia, rượu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng với nhiều loại dị nguyên khác nhau. Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng ở những người nghiện rượu cao hơn rõ rệt so với những người không nghiện. IgE là một loại kháng thể dị ứng quan trọng, có vai trò trung tâm trong hầu hết các phản ứng dị ứng loại hình nhanh ở người. Theo một số nghiên cứu gần đây, những người nghiện rượu hoặc thường xuyên uống rượu với số lượng trung bình có nồng độ kháng thể IgE trong máu cao hơn so với những người không uống rượu, sau khi cai rượu, nồng độ IgE của những người này lại giảm về bình thường. Không những vậy, ở những bà mẹ có nghiện rượu trong thời gian mang thai, những đứa con của họ cũng có nồng độ kháng thể IgE tăng cao. Việc tăng nồng độ IgE trong máu không phải là một bệnh và không gây ra các triệu chứng lâm sàng nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng trong một số trường hợp. Bên cạnh việc làm tăng nồng độ IgE trong máu, dùng bia rượu thường xuyên còn có thể làm cho cơ thể trở nên nhạy cảm với một số yếu tố trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, thực phẩm… và dễ bị dị ứng với những yếu tố này. Mức nhạy cảm này tăng tỷ lệ thuận với lượng rượu uống hằng ngày, và sau khi cai rượu, mức nhạy cảm có thể trở về bình thường. Cơ chế chính xác của những hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ, nhưng các nhà khoa học cho rằng đó là do sự tương tác giữa cồn ở trong bia, rượu và hệ thống miễn dịch, gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Bản thân cồn là một chất có tác dụng điều hòa miễn dịch, các nghiên cứu tiêm cồn cho động vật thí nghiệm cũng có thể gây ra các đáp ứng về dị ứng tương tự như ở những người nghiện rượu.

Sưu tầm!

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa tìm thấy loại gien làm tăng nguy cơ ung thư da ở những người có màu tóc đen lên gấp đôi trong khi những người tóc vàng hay đỏ không hề bị ảnh hưởng.

Trưởng nhóm nghiên cứu, TS Peter Kanetsky, ĐH Pennsylvania, cho biết: “Theo truyền thống, làn da của những người có màu tóc đen không dễ bị cháy nắng và vì thế họ được phân vào nhóm ít có nguy cơ ung thư da. Nhưng nghiên cứu sâu cho thấy điều này không đúng”.

Nhóm nghiên cứu của TS Kanetsky đã so sánh AND của 779 bệnh nhân ung thư da với 325 người khỏe mạnh. Kết quả là những người mang gien MC1R sẽ có nguy cơ ung thư da sắc tố cao gấp đôi. Nhưng nguy cơ sẽ lớn hơn nữa đối với những bệnh nhân mà làn da không dễ bị tổn thương bởi ánh nắng mặt trời.

Và những người thích tắm nắng mang gien này sẽ có màu da rám nắng ngay lập tức mà không hề bị cháy nắng sẽ có nguy cơ ung thư da cao gấp 10 lần, các nhà khoa học cảnh báo.

Sự biến đổi của gen MC1R cũng cao gấp 3 ở người có màu mắt đen và gấp 8 ở những người không có tàn nhang.

Phát hiện được công bố tại Hội thảo thường niên của Hiệp hội Nghiên cứu ung bướu Hoa Kỳ (tổ chức tại Denver, bang Colorado).

Theo Thu Uyên
Dân trí

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

LTS: Mới đây, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật nội soi thận trái cho bệnh nhân Hứa Cẩm Tú, trong quá trình phẫu thuật đã phát hiện chị Tú có dị tật thận hình móng ngựa và phải cắt bỏ 2 thận. Đây là một dị dạng hệ tiết niệu sinh dục rất hiếm gặp, khó chẩn đoán, đồng thời khi phẫu thuật cũng dễ gặp các biến chứng. Để giúp độc giả hiểu thêm về bệnh này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây.

Một dị tật bẩm sinh

Bệnh thận hình móng ngựa là một bệnh mà trong đó hai thận nối với nhau bởi một “eo thận giả” ở giữa tạo nên hình móng ngựa đặc trưng. Về hình dạng bên ngoài, vẫn có hai quả thận hai bên là thận trái và thận phải. Nhưng có một điều thay đổi cấu trúc là hai thận này không nằm tách bạch mỗi bên một quả như người bình thường, mà chúng lại được nối với nhau bởi một thận giả ở giữa. Sở dĩ gọi nó là eo thận giả vì phần nối tiếp này rất bé, bé hơn so với thận chính, và đồng thời nó chỉ là một nhu mô mềm như thịt mà hoàn toàn không có chức năng gì.

Thận móng ngựa trên phim chụp CT scan.

Vì hai thận này nối tiếp với nhau bởi một eo thận giả nên người ta thường gọi nó là hai thận hợp nhất. Nhưng kỳ thực thì hai thận này không hoàn toàn hợp nhất vì nó vẫn có hai bể thận, hai niệu đạo hay nói một cách khác là nó vẫn có hai đường thoát nước tiểu riêng biệt.

Bệnh thận hình móng ngựa là một dị tật bẩm sinh. Qua theo dõi y học, người ta thấy rằng dị tật này hay gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ bị bệnh thận hình móng ngựa cũng giống như các dị tật bẩm sinh khác là khá ít. Chỉ vào khoảng 1/400 – 1/800 mà thôi. Nghĩa là khoảng 400-800 trẻ em sinh ra thì có một trẻ bị bệnh.

Bệnh có nguy hiểm không?

Có thể nói rằng, sự hiện diện thêm một phần “eo thịt” thừa ấy đã không đóng góp gì thêm cho chức năng thận mà nó còn là nguyên nhân gây ra thêm bao tình trạng bệnh tật khác. Điểm lại người ta thấy, nhiều biến chứng mới xuất hiện như thận ứ nước, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ung thư thận. Điều vô cùng đáng lưu tâm là tỷ lệ bị những biến chứng này cao hơn hẳn so với người có hai quả thận tách bạch. Điều này được chứng minh bằng số liệu thống kê.
Có tới 35% người bị bệnh thận hình móng ngựa bị tắc nghẽn đường tiết niệu. Điều này không có gì là quá khó hiểu. Bởi vì sự xuất hiện eo thận giả đã đẩy điểm tiếp nối niệu quản và bể thận ở tít trên cao. Sự định cư bất thường về điểm thoát nước tiểu đã làm cho nước tiểu không được thoát ra toàn bộ. Điểm tiếp nối cao thì rõ ràng là nước tiểu không thể chảy ra hết dẫn đến những hậu quả ứ nước tiểu, nhiễm khuẩn đường tiểu.
Nếu nói về sỏi thận thì có tới 20-60% người bị thận hình móng ngựa mắc phải. Tiếp theo có khoảng 30-40% tỷ lệ bệnh nhân bị thận móng ngựa bị nhiễm khuẩn đường niệu. Tệ hại hơn, 45% ung thư biểu mô thận thuộc các trường hợp dị dạng thận hình móng ngựa. Đó là hậu quả của một loạt sự tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố như sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ứ đọng nước tiểu.

Hình ảnh thận bình thường (bên trái ảnh) và thận móng ngựa (bên phải ảnh).

Có dễ phát hiện không?

Người bị bệnh thận hình móng ngựa không dễ gì tự phát hiện ra bệnh tật của mình. Tức là người bệnh chỉ được phát hiện tình cờ hay được phát hiện khi bệnh đã điển hình. Hiếm có ai phát hiện được ở trong giai đoạn sớm. Đó là bởi vì người bệnh vẫn có hai quả thận hoạt động bình thường. Vẫn bài tiết ra nước tiểu nên ít ai nghĩ rằng mình bị thận hình móng ngựa. Nhưng khi có biến chứng rồi thì đi khám mới vỡ lẽ ra, mình bị dị tật thận từ lúc mới sinh. Người ta có thể phát hiện thận móng ngựa bằng 2 cách: khám lâm sàng bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn tiết niệu như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu máu, sốt dai dẳng… và dựa vào cận lâm sàng như Xquang, siêu âm, CT scan… có hình ảnh hình móng ngựa trên phim.

TS. Trần Các – Chủ nhiệm Khoa Ngoại tiết niệu – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết: Trên lâm sàng, các loại dị dạng thận thường gặp gồm có dị dạng về số lượng (một thận hay nhiều thận), chất lượng (dị dạng phát triển thận, nhu mô thận phát triển không bình thường gọi là thiểu sản thận), dị dạng vị trí (thận lạc chỗ), thận di cư vị trí (chẳng hạn niệu quản không đổ vào bàng quang mà đổ vào âm đạo).
Thận móng ngựa là một dị dạng về hình thái thận. Có thể xác định thận móng ngựa bằng chụp cản quang, chụp CT scan. Ðối với người bệnh có thận móng ngựa, nếu không có bệnh lý kèm theo thì không cần phải điều trị gì. Tuy nhiên trên thực tế, người có thận móng ngựa là hai quả thận dính nhau bởi eo thận nên dễ mắc các bệnh về thận hơn những người bình thường. Tùy theo bệnh lý thận mắc phải mà có những biện pháp điều trị phù hợp.

BS. Yên Lâm Phúc (Học viện Quân y)

Nguồn: Suckhoedoisong

 

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Đối với người mắc bệnh thận – tiết niệu mạn tính thì nỗi lo lớn nhất là dẫn đến suy thận mạn tính. Khi đã bị suy thận, người bệnh không chỉ phải đối mặt với nỗi ám ảnh mỗi lần lọc máu mà hy vọng cuối cùng là được ghép thận cũng gặp nhiều khó khăn do kinh tế eo hẹp và khan hiếm nguồn hiến tặng.

Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh thận mạn tính?

Bệnh thận mạn tính liên quan nhiều đến tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch , gút, đái tháo đường và các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ, suy thận mạn tính được xác định khi có sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận trên 3 tháng, cụ thể có protein trong nước tiểu, tăng creatinin máu, mức lọc cầu thận giảm, mô học thận thay đổi. Trong cơ thể người, tạng thận có vai trò quan trọng như điều chỉnh nội môi, bài tiết chất cặn bã sinh ra trong quá trình chuyển hóa, điều chỉnh kiềm toan và điều hòa điện giải, tham gia tạo máu, điều hòa chuyển hóa canxi, điều hòa huyết áp…

Khi thận bị suy, các chức năng hoạt động giảm, dần dần dẫn đến mất chức năng khiến bệnh nhân tử vong do nhiễm toan, tăng kali máu, suy tim, phù phổi, tai biến mạch máu não. Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 12 triệu người tử vong vì biến chứng tim mạch liên quan đến suy thận mạn tính. Các biện pháp điều trị suy thận phổ biến và hiệu quả hiện nay đang được thực hiện là lọc máu chu kỳ và ghép thận. Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng.

Lọc máu chu kỳ – Nỗi ám ảnh của người bệnh

T heo Hội Thận học Thế giới, hiện nay có trên 500 triệu người (chiếm 10%) người trưởng thành trên thế giới bị bệnh thận mạn tính ở các mức độ khác nhau. Trong đó trên 4,5 triệu người được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú, ghép thận. Ước tính con số này sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới. Ở Việt Nam, theo điều tra năm 1990, tỷ lệ suy thận mạn dao động khoảng từ 0,6% đến 0,81% tùy từng vùng. Nhu cầu ghép thận khoảng 5,5/100.000 người. Hiện nay có khoảng hơn 5.500 bệnh nhân được lọc máu chu kỳ, hơn 1.100 người được lọc màng bụng liên tục ngoại trú và hơn 300 người được ghép thận.

Hiện nay số bệnh nhân suy thận mạn tính ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng tăng, do đó số lượng bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải được điều trị lọc máu (chạy thận nhân tạo) cũng tăng theo. Nhiều trung tâm thận nhân tạo ra đời cùng với kỹ thuật lọc máu không ngừng được hoàn thiện, đã làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu chu kỳ cải thiện đáng kể. Đại đa số bệnh nhân phát hiện suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải lọc máu chu kỳ do tình cờ đi khám và xét nghiệm máu thấy: u rê máu, creatinin máu tăng cao, thiếu máu.

Nhiều bệnh nhân suy sụp về tinh thần khi được bác sĩ cho biết kết quả chẩn đoán suy thận độ III – độ IV phải lọc máu (chạy thận nhân tạo chu kỳ). Có những bệnh nhân quá sợ hãi đã bỏ về, rồi sau đó bệnh diễn biến nặng mới quay trở lại để lọc máu nên chức năng thận càng suy giảm. Đa số bệnh nhân lần đầu tiên lọc máu đều rất lo âu, vì cuộc sống sẽ gắn liền với máy thận nhân tạo. Nói đúng hơn, bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cũng có thể sống kéo dài trong nhiều năm và hoàn toàn phụ thuộc vào chạy thận nhân tạo, nhưng bệnh nhân sống trong trạng thái ốm yếu, bất lực, nỗi bất hạnh luôn ám ảnh họ với hàng loạt bệnh lý nội khoa khó lường như: suy tim, tai biến mạch máu não, viêm gan, phù phổi cấp, xuất huyết tiêu hóa…
 Thận bình thường (trái)                      và suy thận (phải)

Ghép thận – giải pháp tối ưu

Sự thành công của ghép thận đã mở ra viễn cảnh mới cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối; Ghép thận đã trả lại cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cuộc sống tốt đẹp cả về thể lực lẫn trí tuệ, có cuộc sống như người bình thường, lấy vợ, lấy chồng và sinh con cái. Tuy nhiên, ở Việt Nam khi số bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối được ghép thận quá ít vì: người cho thận chủ yếu là người trong gia đình. Mặc dù Luật hiến tạng đã ra đời, nhưng người tình nguyện cho tạng từ người mất não, hoặc tử vong do tai nạn giao thông mới đếm trên đầu ngón tay. Thiết nghĩ, nếu những người rủi ro chết do tai nạn giao thông mà hiến thận thì cứu được bao nhiêu người đang mong được ghép thận. Hy vọng trong tương lai, việc hiến mô, tạng sẽ đi vào lòng người Việt Nam như đạo Phật đã dạy “Cứu một người phúc đẳng hà sa”. Khi người mất đi mà hiến tạng cho người khác thì người thân vẫn thấy và cảm nhận một phần cơ thể của người mất đang tồn tại “cuộc sống trở lại sau cái chết”. Để làm được điều đó, ngoài những nỗ lực lớn lao của các thầy thuốc , giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng sẽ không thể thiếu được những nghĩa cử cao đẹp và sự thấu hiểu của cộng đồng.

Tóm lại, bệnh thận mạn tính có thể phòng ngừa được bằng cách điều trị triệt để khi bị viêm cầu thận, sỏi đường tiết niệu, tránh béo phì, thừa cân; kiểm soát tốt tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, chế độ ăn ít muối, không lạm dụng bia rượu, không hút thuốc lá.

BS.CKII.  Phạm Quốc Cường – Theo suckhoedoisong

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Mất nước

Mất nước

Mất nước! Khô miệng, buồn ngủ và mệt mỏi, khát nước, giảm lượng nước tiểu, khóc không nước mắt hoặc rất ít, cơ yếu, nhức đầu, chóng mặt, nhầm lẫn…Nếu nghiêm trọng: Khô da – miệng, thiếu mồ hôi, khát tột cùng, mắt trũng, nhịp tim nhanh, sốt, mê sảng hoặc bất tỉnh…

Định nghĩa

Mất nước xảy ra khi bị mất nhiều chất lỏng hơn đi vào, và cơ thể không có đủ nước và các chất lỏng khác để thực hiện chức năng bình thường của nó. Nếu không bổ sung chất lỏng bị mất, có thể phải chịu hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân thường gặp của mất nước bao gồm tiêu chảy dữ dội, nôn mửa, sốt hoặc đổ mồ hôi quá nhiều. Không đủ lượng nước trong thời tiết nóng hoặc tập thể dục cũng có thể gây mất nước. Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước, nhưng trẻ nhỏ, người cao niên và những người có bệnh mãn tính có nguy cơ cao nhất.

Thường có thể đảo ngược nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách tăng lượng chất lỏng, nhưng mất nước nặng cần điều trị y tế ngay lập tức. Phương pháp an toàn nhất là phòng ngừa mất nước. Trong thời tiết nóng, bệnh tật hoặc tập thể dục và uống chất lỏng đủ để thay thế những gì mất.

Các triệu chứng

Mất nước nhẹ đến vừa phải có thể gây ra:

- Khô, dính miệng.

- Buồn ngủ hoặc mệt mỏi – trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

- Khát.

- Giảm lượng nước tiểu – ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

- Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

- Cơ yếu.

- Nhức đầu.

- Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

- Khát tột cùng.

- Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

- Rất khô miệng, da và màng nhầy.

- Thiếu ra mồ hôi.

- Đi tiểu ít hoặc không có – bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

- Mắt trũng.

- Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

- Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng – sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

- Huyết áp thấp.

- Nhịp tim nhanh.

- Sốt.

- Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Thật không may, khát không phải là luôn luôn là một thước đo đáng tin cậy cần thiết của cơ thể đối với nước, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi. Một thước đo tốt hơn là màu của nước tiểu: Trong hoặc màu nước tiểu ánh sáng có nghĩa là cũng đang ngậm nước, trong khi một màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách thường là tín hiệu mất nước.

Nếu là một người lớn khỏe mạnh,  thường có thể xử lý nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách uống chất lỏng nhiều hơn nữa. Nhận chăm sóc y tế ngay nếu phát triển các dấu hiệu nặng và các triệu chứng như khát cùng cực, không đi tiểu được tám giờ, héo da, chóng mặt và nhầm lẫn.

Hãy đối xử với trẻ em và người lớn tuổi thận trọng hơn. Gọi cho bác sĩ gia đình ngay nếu trẻ:

- Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

- Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

- Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

- Không thể uống chất lỏng.

- Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

- Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Tới phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc gọi số khẩn cấp y tế nếu  nghĩ rằng một đứa trẻ hoặc người lớn tuổi mất nước nặng. Có thể giúp ngăn ngừa mất nước trở nên trầm trọng bằng cách cẩn thận theo dõi một người mắc bệnh và dùng dịch khi dấu hiệu đầu tiên của bệnh tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt và bằng cách khuyến khích trẻ em uống thật nhiều nước trước, trong và sau khi tập thể dục.

Nguyên nhân

Nước là thiết yếu cho đời sống con người: Nó tạo cơ sở cho tất cả các dịch cơ thể, bao gồm cả máu và nước tiêu hóa, nó viện trợ trong việc vận chuyển và hấp thụ các chất dinh dưỡng và nó giúp loại bỏ chất thải.

Nếu là một người lớn trung bình, mỗi ngày bị mất nhiều hơn gần 2,5 lít nước, đơn giản bằng cách ra mồ hôi, hơi thở và loại bỏ chất thải. Cũng bị mất điện giải – khoáng chất như natri, kali và canxi mà duy trì sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể. Thông thường,  có thể bổ sung những gì đã mất đi thông qua các loại thực phẩm và chất lỏng tiêu thụ, thậm chí khi đang hoạt động.

Nhưng khi loại bỏ nhiều nước hơn và các muối hơn thay thế, kết quả mất nước. Đôi khi xảy ra mất nước vì lý do đơn giản:  Không uống đủ bởi vì đang bị bệnh hoặc bận rộn, hay vì thiếu tiếp cận với nước uống khi đang đi du lịch, leo núi hoặc cắm trại.

Nguyên nhân mất nước khác bao gồm:

Tiêu chảy, ói mửa. Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Sốt. Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi.   Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Tăng đi tiểu. Điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể  sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường , đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Bỏng. Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước nếu sự mất mát chất lỏng vượt quá lượng nước nhận. Nhưng một số người có nguy cơ lớn hơn, bao gồm:

Trẻ sơ sinh và trẻ em. Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Người lớn tuổi. Lớn tuổi, trở nên dễ bị mất nước vì nhiều lý do: Cơ thể giảm khả năng để bảo tồn nước, cảm giác khát trở nên ít cấp tính và ít có khả năng đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ. Hơn nữa, người lớn tuổi, đặc biệt là những người trong nhà điều dưỡng hoặc sống một mình có xu hướng ăn ít hơn người trẻ tuổi và đôi khi có thể quên ăn hoặc uống hoàn toàn. Những vấn đề phức tạp bởi bệnh mãn tính như tiểu đường, thay đổi hoóc môn liên quan đến thời kỳ mãn kinh và do việc sử dụng các loại thuốc nhất định.

Những người có bệnh mãn tính. Có bệnh tiểu đường không kiểm soát được hoặc không được điều trị có nguy cơ cao mất nước. Nhưng căn bệnh mãn tính khác cũng làm cho nhiều khả năng trở thành mất nước. Chúng bao gồm bệnh thận, xơ nang, nghiện rượu và các rối loạn tuyến thượng thận. Thậm chí cảm lạnh hoặc đau cổ họng làm cho dễ bị mất nước vì ít ăn hoặc uống khi đang bị bệnh. Sốt làm tăng mất nước nhiều hơn.

Số lượng vận động. Bất cứ ai có thể trở thành mất nước, nhất là trong nóng, điều kiện ẩm ướt hoặc ở độ cao. Nhưng vận động viên đào tạo cho và tham gia ultramarathons, triathlons, leo núi thám hiểm và các giải đấu đi xe đạp có nguy cơ đặc biệt cao. Trong thời gian tập thể dục, cơ thể có thể hấp thụ khoảng 24 – 32 ounces nước một giờ, nhưng có thể mất hai lần đó trong thời tiết nóng. Mất nước cũng tích lũy trong một khoảng thời gian, có nghĩa là có thể trở nên mất nước với ngay cả tập thể dục vừa phải thường xuyên nếu không uống đủ để thay thế những gì bị mất trên một cơ sở hàng ngày.

Những người sống ở độ cao cao. Sống, làm việc và thực hiện ở độ cao cao (khoảng 2.400 đến 3.600 mét) hoặc độ cao rất lớn (khoảng 3.600 đến 5.400 mét) có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe . Một là mất nước, mà thường xảy ra khi cơ thể cố gắng để thích nghi với cao độ thông qua việc đi tiểu nhiều hơn và thở nhanh – để duy trì nồng độ oxy trong máu đầy đủ.

Các biến chứng

Mất nước có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng .

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ thường có thể chẩn đoán mất nước trên cơ sở các dấu hiệu và triệu chứng thể chất như đi tiểu ít hoặc không có, mắt trũng và làn da thiếu độ đàn hồi bình thường của nó và khả năng phục hồi khi bị chèn ép. Nếu đang mất nước, cũng có thể có huyết áp thấp, đặc biệt là khi di chuyển từ một vị trí nằm và đứng, nhịp tim nhanh hơn bình thường và lưu lượng máu giảm xuống.

Để giúp xác định chẩn đoán và xác định mức độ mất nước, có thể có các xét nghiệm khác, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Đây có thể được sử dụng để kiểm tra chất điện giải, đặc biệt là natri và kali, để tìm những dấu hiệu cô đặc máu và để đánh giá thận đang làm việc như thế nào.

Phân tích nước tiểu. Các màu sắc và độ trong của nước tiểu, sự hiện diện của các hợp chất carbon (xeton) và trọng lượng riêng nước tiểu, khối lượng của nước tiểu so với khối lượng của nước cất – tất cả chỉ giúp phân độ. Một tỷ trọng cao, chỉ ra mất nước đáng kể.

Nếu nó không rõ ràng lý do tại sao đang mất nước, bác sĩ có thể tự thêm các xét nghiệm để kiểm tra bệnh tiểu đường và cho gan hoặc vấn đề về thận.

Phương pháp điều trị và thuốc

Các chỉ dẫn hiệu quả điều trị mất nước là để thay thế chất dịch bị mất và điện giải bị mất. Cách tiếp cận tốt nhất để điều trị mất nước phụ thuộc vào tuổi, mức độ mất nước  và nguyên nhân của nó.

Điều trị mất nước ở trẻ em bị bệnh

Bác sĩ có thể cung cấp các đề xuất cụ thể để điều trị mất nước ở trẻ em, nhưng một số hướng dẫn chung bao gồm:

Sử dụng một giải pháp bù nước đường uống. Trừ khi bác sĩ khuyên nếu không hãy sử dụng một giải pháp bù nước đường uống như Pedialyte cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Những giải pháp này có chứa nước và muối theo tỷ lệ cụ thể để bổ sung cả chất lỏng và chất điện giải. Nó cũng có chứa glucose hay carbohydrate khác như gạo bột để tăng cường sự hấp thụ trong đường ruột. Các sản phẩm uống bù nước đang có sẵn trong hầu hết các nhà thuốc và nhiều thuốc mang thương hiệu riêng. Bắt đầu bù dịch khi khởi đầu quá trình bệnh tật thay vì chờ cho đến khi tình hình trở nên cấp bách.

Trong hầu hết các nước đang phát triển, có thể mua các gói bột uống của một giải pháp bù nước, WHO – ORS, ban đầu được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới để điều trị tiêu chảy và mất nước ở trẻ sơ sinh với bệnh tả. Bột trong nước theo các chỉ dẫn trên bao bì. Luôn làm sạch nước bằng cách đun sôi, lọc hoặc các phương pháp đã được chứng minh khác. Đo lượng nước, sau đó thêm các vật liệu dạng bột uống bù nước.

Trong một tình huống khẩn cấp một giải pháp xây dựng không có sẵn, có thể tạo riêng giải pháp bù nước qua miệng bằng cách trộn 1 / 2 muỗng cà phê muối, 1 / 2 muỗng cà phê baking soda, 3 muỗng canh đường và 1 lít nước. Hãy chắc chắn để đo lường một cách chính xác bởi vì không chính xác có thể làm cho giải pháp kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại. Nếu có thể, có một người nào khác kiểm tra các phép đo cho chính xác.

Bất cứ điều gì khác đã chọn, hãy chắc chắn để cung cấp cho giải pháp đủ. Bác sĩ có thể đề nghị cụ thể, tùy thuộc vào tuổi của trẻ và mức độ mất nước, nhưng một quy luật chung để giữ cho các chất lỏng từ từ cho đến khi nước tiểu của con trở nên rõ ràng trong màu sắc. Khi trẻ nôn mửa, hãy thử cho một lượng nhỏ dung dịch trong khoảng thời gian thường xuyên – 1 muỗng cà phê mỗi phút. Nếu trẻ không thể uống, chờ đợi 30 – 60 phút và thử lại. Nhiệt độ dịch giữ sao cho được tốt nhất.

Tiếp tục để nuôi con bằng sữa mẹ. Không ngừng cho con bú khi bé bị ốm, nhưng thêm một giải pháp bù nước đường uống là tốt. Nếu quý vị cho sữa bột trẻ em, hãy thử chuyển sang một trong đó là lactose, cho đến khi tiêu chảy cải thiện, lactose có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Không bao giờ công thức pha loãng hơn hướng dẫn tư vấn. Bác sĩ cũng có thể đề xuất thay thế một giải pháp bù nước uống cho các công thức cho 12 – 24 giờ.

Tránh một số loại thực phẩm và thức uống. Các chất lỏng tốt nhất cho một đứa trẻ bị bệnh là một giải pháp bù nước đường uống, nước tinh khiết không cung cấp điện giải cần thiết, và mặc dù thức uống thể thao bổ sung chất điện giải thay thế những người bị mất qua mồ hôi, không phải thông qua tiêu chảy hoặc nôn mửa. Tránh cho trẻ em  đồ mặn, sữa đặc biệt là đun sôi sữa – nước ngọt, nước trái cây hoặc keo động vật, không làm giảm mất nước và có thể làm triệu chứng nặng hơn.

Điều trị mất nước ở người lớn bị bệnh

Hầu hết người lớn bị mất nước nhẹ đến trung bình từ tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Có thể cải thiện tình trạng của họ bằng cách uống nhiều nước hơn. Nước là tốt nhất bởi vì các chất lỏng khác, chẳng hạn như nước quả, đồ uống có ga hay cà phê có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn.

Điều trị mất nước ở các vận động viên thuộc mọi lứa tuổi

Đối với tập thể dục liên quan đến mất nước. Thức uống thể thao có chứa điện giải và một giải pháp carbohydrate cũng có thể hữu ích. Không cần cho thuốc viên muối – quá nhiều muối có thể dẫn đến mất nước tăng natri huyết, một tình trạng mà cơ thể không chỉ là thiếu nước mà còn quá nhiều natri.

Điều trị mất nước trầm trọng

Trẻ em và người lớn, những người mất nước nặng cần được điều trị bởi nhân viên cấp cứu đến trong xe cứu thương hoặc trong một phòng cấp cứu bệnh viện, nơi họ có thể nhận được muối và các chất lỏng thông qua một tĩnh mạch hơn là bằng miệng. Tĩnh mạch hydrat hóa cung cấp cho cơ thể nước và chất dinh dưỡng cần thiết nhanh hơn nhiều so với các giải pháp uống – cái gì đó là cần thiết trong các tình huống đe dọa tính mạng.

Phòng chống

Để ngăn ngừa mất nước, tiêu thụ nhiều chất lỏng và các thực phẩm giàu nước như trái cây và rau quả. Chất lỏng có thể thu được không chỉ từ nước mà còn từ đồ uống và thực phẩm khác. Nhưng, nếu đang tập thể dục, không chờ đợi cho khát để theo kịp với chất dịch mất.

Một số trường hợp, có thể cần phải thực hiện trong chất lỏng nhiều hơn bình thường:

Bệnh tật. Bắt đầu cho thêm nước hoặc bù nước qua một giải pháp tại các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tật, không chờ đợi cho đến khi mất nước xảy ra. Và mặc dù có vẻ hấp dẫn, chất lỏng truyền thống như rượu bia gừng hoặc nước ngọt khác lại chứa quá nhiều đường và natri quá ít để bổ sung chất điện giải bị mất.

Tập thể dục. Nói chung, tốt nhất bắt đầu uống nước ngay trước khi tập thể dục vất vả. Sản xuất nhiều và pha loãng nước tiểu là một dấu hiệu tốt. Hai giờ trước khi một sự chịu đựng như một marathon, uống 2 ly nước. Một đến 2 ly nước đầy đủ thường trước khi tập thể dục ngắn hơn. Trong thời gian hoạt động, bổ sung chất lỏng ở các khoảng thời gian và tiếp tục uống nước hoặc chất dịch khác sau khi hoàn tất.

Hãy ghi nhớ rằng uống quá nhiều không chỉ có thể gây đầy hơi và khó chịu, mà có thể dẫn đến một tình trạng thể gây tử vong, trong đó natri máu  trở nên quá thấp. Điều này xảy ra khi uống nước nhiều hơn bị mất qua mồ hôi.

Môi trường. Cần uống nước bổ sung trong thời tiết nóng hoặc ẩm để giúp giảm nhiệt độ cơ thể và để thay thế những gì bị mất qua mồ hôi. Cũng có thể cần thêm nước trong thời tiết lạnh, nếu  đổ mồ hôi trong khi mặc quần áo cách nhiệt. Nước nóng, không khí trong nhà có thể gây ra làn da bị mất độ ẩm, tăng yêu cầu hàng ngày của chất dịch. Và độ cao lớn hơn 2.500 mét cũng có thể ảnh hưởng đến bao nhiêu nước cơ thể cần. Nếu mất nước xảy ra khi đang tập thể dục trong thời tiết nóng, vào một khu vực râm và bắt đầu bù nước.

Theo Dieutri.vn

Tiểu máu

Tiểu máu

Tiểu máu! Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn.

Định nghĩa

Nhìn thấy máu trong nước tiểu có thể gây ra hơn một chút lo lắng. Tuy nhiên, máu trong nước tiểu không phải luôn luôn là một vấn đề cần quan tâm. Tập thể dục quá nặng có thể gây ra máu trong nước tiểu, có thể một số thuốc thông thường, bao gồm cả aspirin. Nhưng tiểu chảy máu cũng có thể chỉ ra một sự rối loạn nghiêm trọng.

Có hai loại máu trong nước tiểu. Máu mà có thể nhìn thấy được gọi là tiểu máu tổng thể. Tiểu máu (hematuria) chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi được gọi là tiểu máu kính hiển vi và được tìm thấy khi bác sĩ xét nghiệm nước tiểu. Dù bằng cách nào, điều quan trọng để xác định lý do chảy máu.

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản. Máu trong nước tiểu gây ra bởi tập thể dục thường trong vòng một hoặc hai ngày, nhưng các vấn đề khác thường đòi hỏi chăm sóc y tế.

Các triệu chứng

Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn. Nếu đông máu trong nước tiểu, có thể bị đau. Rất nhiều lần, tuy nhiên, nước tiểu đẫm máu xảy ra mà không có dấu hiệu hay triệu chứng khác.

Trong nhiều trường hợp, có thể có máu trong nước tiểu chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi.

Mặc dù nhiều trường hợp hematuria không nghiêm trọng, điều quan trọng để gặp bác sĩ bất kỳ lúc nào nhận thấy máu trong nước tiểu. Hãy ghi nhớ rằng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc nhuận tràng Ex và các loại thực phẩm nhất định, bao gồm củ cải đường, đại hoàng có thể gây ra nước tiểu chuyển sang màu đỏ. Sự thay đổi màu sắc nước tiểu gây ra bởi thuốc, thức ăn hoặc tập thể dục thường biến mất trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, có thể không tự nhận biết thuộc tính nước tiểu màu đỏ hoặc máu do thuốc hoặc tập thể dục, vì vậy tốt nhất gặp bác sĩ bất cứ lúc nào nhìn thấy máu trong nước tiểu.

Nguyên nhân

Đường tiết niệu được tạo ra bởi bàng quang, hai quả thận, hai niệu quản và niệu đạo. Thận loại bỏ chất thải và nước thừa ra khỏi máu và chuyển đổi nó thành nước tiểu. Nước tiểu sau đó chảy qua hai ống rỗng (niệu quản) – mỗi một từ thận để tới bàng quang, nơi nước tiểu được lưu giữ cho tới khi được ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Trong hematuria thận hoặc các bộ phận khác của đường tiết niệu, cho phép các tế bào máu bị rò rỉ vào nước tiểu. Một số vấn đề có thể gây ra rò rỉ này, bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Nhiễm trùng đường tiểu đặc biệt phổ biến ở phụ nữ, mặc dù đàn ông cũng gặp. Nó có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên trong bàng quang. Các nhiễm khuẩn đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, phát triển sau khi sinh hoạt tình dục. Các triệu chứng có thể bao gồm một sự liên tục kích thích để đi tiểu, đau và buốt khi đi tiểu, và nước tiểu có mùi rất mạnh. Đối với một số người, đặc biệt là người lớn tuổi, dấu hiệu của bệnh có thể được phát hiện bằng kính hiển vi.

Nhiễm trùng thận. Nhiễm trùng thận (viêm bể thận) có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập thận từ dòng máu hoặc di chuyển lên từ niệu quản đến thận. Các dấu hiệu và triệu chứng thường tương tự như nhiễm trùng bàng quang, mặc dù nhiễm trùng thận có nhiều khả năng gây sốt và đau sườn.

Sỏi bàng quang hoặc thận. Các khoáng chất trong nước tiểu tập trung đôi khi kết tủa, tạo thành các tinh thể trên các bức tường của thận hay bàng quang. Theo thời gian, các tinh thể có thể trở thành sỏi nhỏ, đá cứng. Các đá này thường không đau, và có thể sẽ không biết có nó trừ khi nó gây ra tắc nghẽn hoặc đang di chuyển. Sau đó, thường có triệu chứng sỏi thận, đặc biệt có thể gây ra đau đớn. Bàng quang hoặc sỏi thận cũng có thể làm cả đái máu tổng thể và vi chảy máu.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt nằm ngay dưới bàng quang và bao quanh phần trên của niệu đạo, thường bắt đầu phát triển cách tiếp cận khi nam giới tuổi trung niên. Khi các tuyến lớn, nén niệu đạo, một phần chặn dòng chảy nước tiểu. Các dấu hiệu và triệu chứng của một tuyến tiền liệt mở rộng (tuyến tiền liệt lành tính hyperplasia, hay BPH) bao gồm tiểu khó, một nhu cầu khẩn cấp hoặc liên tục để đi tiểu, và một trong hai chảy máu tổng thể hoặc vi chảy máu. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự.

Bệnh thận. Vi chảy máu là một triệu chứng phổ biến của viêm cầu thận, gây viêm nhiễm của hệ thống lọc của thận. Viêm cầu thận có thể là một phần của một bệnh hệ thống, chẳng hạn như tiểu đường, hoặc nó có thể xảy ra riêng một mình. Nó có thể được kích hoạt bởi nhiễm virus hoặc các bệnh mạch máu (viêm mạch), và các vấn đề miễn dịch như bệnh lí thận IgA, mà ảnh hưởng đến các mao mạch nhỏ, lọc máu trong thận.

Ung thư. Nhìn thấy nước tiểu chảy máu có thể là một dấu hiệu của thận, bàng quang hoặc ung thư tuyến tiền liệt. Thật không may, có thể không có dấu hiệu hoặc triệu chứng trong giai đoạn đầu, khi các bệnh ung thư được chữa trị thêm.

Rối loạn di truyền. Bệnh thiếu máu thiếu hụt kinh niên của các tế bào máu đỏ có thể là nguyên nhân gây ra máu trong nước tiểu, cả tổng và vi hematuria. Vì vậy, có thể có hội chứng Alport, ảnh hưởng đến các màng lọc ở cầu thận của thận.

Chấn thương thận. Một cú đánh hoặc thương tích khác với thận từ một tai nạn hoặc với môn thể thao có thể gây ra máu trong nước tiểu mà có thể nhìn thấy.

Thuốc. Thuốc thường gặp có thể gây ra có thể nhìn thấy máu tiết niệu bao gồm aspirin, penicillin, heparin và các thuốc chống ung thư cyclophosphamide.

Tập thể dục nặng. Không rõ ràng lý do tại sao tập thể dục gây ra hematuria tổng thể. Nó có thể tổn thương đến bàng quang, mất nước hoặc sự cố của các tế bào máu đỏ xảy ra với tập thể dục aerobic bền vững. Hầu hết các vận động viên có thể nhìn thấy chảy máu nước tiểu sau khi một buổi tập luyện dữ dội.

Yếu tố nguy cơ

Hầu như bất cứ ai, kể cả trẻ em và thanh thiếu niên có thể có tế bào hồng cầu trong nước tiểu. Yếu tố tạo nên nhiều khả năng này bao gồm:

Tuổi. Nhiều đàn ông lớn tuổi hơn 50 có hematuria thỉnh thoảng do một tuyến tiền liệt mở rộng.

Gới tính. Hơn một nửa của tất cả các phụ nữ sẽ có một nhiễm trùng đường tiết niệu ít nhất một lần trong cuộc sống của họ, có thể với một số chảy máu đường tiết niệu. Người đàn ông trẻ tuổi có nhiều khả năng có sỏi thận hoặc hội chứng Alport, một dạng của viêm thận di truyền có thể gây ra máu trong nước tiểu.

Một nhiễm trùng gần đây. Viêm thận sau khi bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn (postinfectious viêm cầu thận) là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nước tiểu có thể nhìn thấy máu ở trẻ em.

Lịch sử gia đình. Có thể dễ bị chảy máu đường tiểu nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh thận hoặc sỏi thận.

Một số thuốc. Aspirin và các thuốc giảm đau không steroid khác chống viêm và kháng sinh như penicillin được biết là làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiết niệu.

Vất vả tập thể dục. Chạy dài – xa đặc biệt dễ bị gây ra chảy máu đường tiết niệu. Trong thực tế, tình trạng này đôi khi được gọi là Jogger ‘s hematuria. Nhưng bất kỳ ai hoạt động kịch liệt có thể phát triển triệu chứng.

Những chuẩn bị cho việc khám bệnh

Trong một số trường hợp, mặc dù có thể gọi ngay cho một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu (tiết niệu).

Dưới đây là một số thông tin để giúp chuẩn bị cho buổi khám, và những gì mong đợi từ bác sĩ.

Những gì có thể làm

Hãy nhận biết của bất kỳ hạn chế trước khi khám. Đồng thời thực hiện việc khám, hãy chắc chắn để hỏi nếu có bất cứ điều gì cần làm trước để chuẩn bị cho chẩn đoán xét nghiệm thông thường.

Bất kỳ triệu chứng đã gặp, bao gồm bất kỳ mà có vẻ không liên quan đến lý do mà dự kiến khám.

Tạo một danh sách các thông tin y tế, bao gồm bất kỳ điều kiện nào khác mà đang được điều trị, và tên của bất cứ loại thuốc, vitamin bổ sung đang dùng.

Đối với hematuria, một số câu hỏi cơ bản để yêu cầu bác sĩ bao gồm

Các nguyên nhân có thể có các triệu chứng là gì?

Những loại kiểm tra cần? Những thử nghiệm này yêu cầu bất kỳ chuẩn bị đặc biệt không?

Tôi có cần điều trị?

Điều gì là phương pháp điều trị?

Có bất cứ tài liệu quảng cáo hay tài liệu in khác có thể mang về nhà?

Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn sàng để yêu cầu bác sĩ, đừng ngần ngại đặt câu hỏi bất kỳ lúc nào nếu không hiểu điều gì đó.

Bác sĩ hoặc nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe có thể sẽ hỏi một số câu hỏi. Sẵn sàng để trả lời họ.

Các câu hỏi bác sĩ hỏi có thể bao gồm

Có bị đau khi đi tiểu?

Có thấy máu trong nước tiểu, chỉ thỉnh thoảng hoặc tất cả thời gian?

Khi đi tiểu có máu trong thời điểm hiện tại? Ví dụ, có thấy máu khi lần đầu tiên bắt đầu đi tiểu hoặc nước tiểu có máu không trở nên rõ ràng vào cuối dòng nước tiểu? Hoặc có nhìn thấy dòng máu trong nước tiểu trong suốt thời gian đang đi tiểu?

Có cục máu đông trong thời gian qua đi tiểu? Kích thước và hình dạng gì?

Đã dùng thuốc gì?

Có hút thuốc không?

Có tiếp xúc với hóa chất trong công việc? Những loại?

Đã bao giờ điều trị bằng phóng xạ?

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để tìm một nguyên nhân cho chảy máu đường tiết niệu, các xét nghiệm sau đây và các buổi khám đóng một vai trò quan trọng:

Khám sức khỏe, trong đó bao gồm một cuộc thảo luận của lịch sử y tế.

Xét nghiệm nước tiểu. Ngay cả khi chảy máu lần đầu tiên được phát hiện qua kiểm tra nước tiểu, có thể có một thử nghiệm để xem nước tiểu vẫn còn chứa các tế bào máu đỏ. Hematuria xảy ra chỉ một lần thường không cần phải đánh giá thêm. Phân tích nước tiểu cũng có thể giúp xác định xem có một nhiễm trùng đường tiết niệu hay có bài tiết khoáng chất gây sỏi thận.

Hình ảnh. Hầu hết mọi người với hematuria có thể có một kiểm tra hình ảnh, cung cấp hình ảnh chi tiết của các cơ quan nội tạng. Điều này có thể là một máy vi tính chụp cắt lớp (CT scan), trong đó sử dụng bức xạ và một máy tính mạnh mẽ để tạo ra hình ảnh mặt cắt của các bên trong cơ thể; Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), trong đó sử dụng một từ trường và sóng radio thay vì X – quang để sản xuất hình ảnh, hoặc một siêu âm. Siêu âm sử dụng một sự kết hợp của sóng âm thanh tần số cao và chế biến máy tính để xem thận và bàng quang.

Soi bàng quang. Trong thủ tục này, một ống nhỏ được trang bị một máy ảnh thu nhỏ vào bàng quang để kiểm tra toàn bộ cả bàng quang và niệu đạo.

Nguyên nhân của chảy máu đường tiết niệu có thể không bao giờ được tìm thấy. Trong trường hợp đó, bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra thường xuyên theo dõi, đặc biệt là nếu có yếu tố nguy cơ ung thư bàng quang, chẳng hạn như hút thuốc lá, tiếp xúc với chất độc môi trường và lịch sử một liệu pháp bức xạ.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hematuria không có điều trị cụ thể. Thay vào đó, bác sĩ sẽ tập trung vào những điều kiện cơ bản:

Nhiễm trùng đường tiểu. Kháng sinh điều trị tiêu chuẩn cho nhiễm trùng đường tiểu. Các triệu chứng thường giảm dần trong vài ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc, nhưng bệnh nhiễm trùng định kỳ có thể cần nhiều phương pháp điều trị hoặc lâu hơn.

Sỏi thận. Có thể loại bỏ một sỏi thận do uống một lượng lớn nước và hoạt động. Nếu điều này không hiệu quả, bác sĩ có thể thử các biện pháp xâm lấn hơn. Chúng bao gồm sử dụng sóng xung kích để phá vỡ sỏi thành từng miếng nhỏ (sóng xung extracorporeal lithotripsy) và trong một số trường hợp, phẫu thuật để loại bỏ những sỏi.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Điều trị cho một tuyến tiền liệt mở rộng tìm cách giảm các triệu chứng và phục hồi chức năng bình thường của đường tiết niệu. Tất cả đều có hiệu quả đến mức độ khác nhau, và tất cả đều có một số nhược điểm. Thuốc men thường cố gắng đầu tiên, và nó cung cấp sự hỗ trợ lâu dài cho nhiều người đàn ông. Khi thuốc không giúp đỡ, điều trị xâm lấn tối thiểu bằng cách sử dụng nhiệt, tia laser hoặc sóng âm để tiêu diệt tế bào tuyến tiền liệt có thể là cố gắng quá mức.

Bệnh thận. Nhiều vấn đề về thận thường cần điều trị. Không có vấn đề gì là nguyên nhân cơ bản, mục đích là để làm giảm viêm nhiễm và hạn chế thiệt hại thêm cho thận.

Ung thư. Mặc dù có một số lựa chọn điều trị ung thư thận và bàng quang, phẫu thuật để loại bỏ các tế bào ung thư thường là lựa chọn đầu tiên bởi vì các tế bào là tương đối kháng bức xạ và hầu hết các loại hóa trị. Việc điều trị chính cho bệnh ung thư bàng quang là phẫu thuật cắt bỏ hoặc loại bỏ hoàn toàn bàng quang. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể được kết hợp với hóa trị. Trong những người khác, hệ thống miễn dịch trong bàng quang thúc đẩy mạnh mẽ với thuốc.

Rối loạn di truyền. Điều trị cho chứng rối loạn di truyền ảnh hưởng đến thận thay đổi rất nhiều. Hematuria gia đình lành tính thường không cần điều trị, ví dụ ,trong khi những người bị hội chứng Alport nghiêm trọng cuối cùng có thể cần phải chạy thận – một phương tiện nhân tạo loại bỏ các chất thải từ máu khi thận không còn có thể làm như vậy. Thiếu máu hồng cầu liềm được điều trị bằng truyền máu, hoặc trong trường hợp kịch bản tốt nhất, một cấy ghép tủy xương.

Phòng chống

Thường không thể ngăn chặn hematuria, mặc dù có những bước có thể làm để giảm nguy cơ của một số các bệnh gây ra nó. Phòng chống chiến lược bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Uống thật nhiều nước, đi tiểu khi cảm thấy có yêu cầu và càng sớm càng tốt sau khi giao hợp, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu, và các sản phẩm vệ sinh phụ nữ có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu.

Sỏi thận. Để giúp hạ thấp nguy cơ sỏi thận, uống nhiều nước và hạn chế muối, protein và các thực phẩm chứa oxalate, chẳng hạn như rau bina và đại hoàng.

Ung thư bàng quang. Ngưng hút thuốc, tránh tiếp xúc với hóa chất và uống nhiều nước có thể cắt giảm nguy cơ ung thư bàng quang.

Ung thư thận. Để giúp ngăn ngừa ung thư thận, hút thuốc dừng lại, duy trì một trọng lượng khỏe mạnh, ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, trở lại hoạt động, và tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Theo Dieutri.vn