Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh ung thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh ung thư. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Rất nhiều thuốc (như chống đông máu, ức chế u, trị Parkinson, chống động kinh…) có thể gây rụng tóc. Vì vậy, để chẩn đoán nguyên nhân, bác sĩ thường tìm hiểu xem trước đó bệnh nhân có uống thuốc gì không .

Bệnh rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Nó có thể xuất hiện sau khi bị ốm nặng (sốt rét, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết…), sau sẩy thai, sinh đẻ, sau chấn thương lớn, mất máu. Thường tóc thưa đều, hơi khô, xơ xác, khi cơ thể hồi phục nó sẽ mọc lại.

Các yếu tố cơ lý hóa (uốn tóc bằng lược, sức nóng, nhuộm, uốn tóc bằng hóa chất, chải tóc quá nhiều bằng lược cứng, căng kéo xoắn bện quá chặt…) cũng làm sợi tóc bị biến dạng, gãy rụng.

Trong rụng tóc pelade, vùng da đầu có một hay nhiều đám rụng tóc hình tròn, đường kính vài cm, da nhẵn trắng trông giống như sẹo, có khi các đám liên kết thành dải, vằn vèo “thể rắn bò”, một số trường hợp có thể rụng nhẵn toàn bộ da đầu, thậm chí rụng cả lông mày, lông nách, lông mi. Loại này thường liên quan yếu tố căng thẳng thần kinh.

Rụng tóc do nấm (chủng microsporum, trichophyton) khá phổ biến, thường gặp ở trẻ em lứa tuổi học đường, lây từ người sang người do dùng chung lược, mũ hoặc lây từ súc vật (chó, mèo) sang người do ôm, bế. Biểu hiện là da đầu có đám mảng viêm đỏ, có vảy trắng, tóc bị phạt gãy, chân tóc còn lại cách da đầu từ vài mm đến 1-2 cm hoặc chỉ còn chấm đen, có khi chân tóc được bao bởi lớp vảy trắng như bị “nhúng trong bột”. Có thể xác định bằng soi nấm, cấy nấm, điều trị bằng bôi kem nizoral, uống ketoconazol.

Bệnh rụng tóc da dầu (còn gọi rụng tóc liên quan androgen hay chứng hói tiến triển) thường do di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu, làm nang tóc giảm kích thước, dần dần teo và rụng. Loại này gặp ở nam nhiều hơn nữ, nam 30-40 tuổi trở lên, nữ xuất hiện muộn hơn (40% bị ở tuổi 60-70). Đầu tiên, tóc rụng thưa dần ở phía trước trán, tạo thành hình lượn sóng chữ M, sau rụng đến vùng giữa đỉnh đầu và dần dần hói hoàn toàn phía trên (trán và đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương hai bên và gáy vẫn còn tóc. Điều trị bằng xịt dung dịch minoxidil và tốt nhất là cấy tóc (hair transplantation). Lấy từng khóm tóc nhỏ vùng thái dương, gáy chẩm của người đó cấy lên vùng rụng tóc.

Rụng tóc do tật nhổ tóc hay gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam. Họ thường nhổ tóc vùng trán phía trước và hai bên thái dương làm tóc nham nhở không đều, chỗ mọc tốt xen kẽ chỗ thưa. Có khi bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, có cảm giác thúc giục không thể cưỡng lại và chỉ nhẹ nhõm sau khi nhổ tóc.

Người bị giang mai giai đoạn 2 (3 tháng sau khi nhiễm bệnh trở đi) cũng bị rụng tóc kiểu “rừng thưa”, tóc rụng nham nhở không đều hai bên thái dương như gián nhấm. Điều trị khỏi bệnh giang mai, tóc sẽ mọc lại.

Bệnh rụng tóc chuỗi hạt (monilethrix) liên quan đến yếu tố di truyền, gặp cả ở nam và nữ, thường xuất hiện từ nhỏ hoặc tuổi thiếu niên. Thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày phình to ra một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc, tóc bị gãy đứt đoạn. Da dầu, tóc thưa bị gãy, rụng trông như hói, da đầu phủ đầy tóc ngắn, dày sừng nang lông nên trông xù xì, thô ráp.

Rụng tóc còn là hậu quả của các bệnh da khác có đám tổn thương ở đầu. Các tổn thương này có quá trình viêm, tạo mủ, tạo sẹo, teo da… gây nên rụng tóc vùng đó, như lupút đỏ mạn dạng đĩa, viêm nang lông trụi tóc, nấm tóc loại kerion, xơ cứng bì khu trú, bệnh muxin nang lông, ung thư tế bào đáy…

Rụng tóc do nhiều nguyên nhân gây nên. Do đó, khi bị rụng tóc, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để xác định thể bệnh và có cách điều trị đúng đắn nhất.

BS Bùi Khánh Duy, Sức Khỏe & Đời Sống

Thuốc nào làm mệt thận?

Thuốc nào làm mệt thận?

Quá trình suy thận (thận mất khả năng lọc máu cho cơ thể) diễn ra một cách nhanh chóng (gọi là suy thận cấp) hoặc từ từ (suy thận mãn)

Ảnh: minh họa – Internet

Một số loại dược phẩm như thuốc kháng viêm không steroids (non-steroidal anti-inflammatory drugs – NSAIDs), thuốc trị cao huyết áp, một vài dạng thuốc kháng sinh, các phẩm màu dùng trong X – quang hay bức xạ có thể gây suy thận cấp.

Các thuốc NSAIDs can thiệp vào sự tổng hợp prostaglandin, vốn là một chất đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đủ lượng máu đi đến thận. Thiếu prostaglandin đồng nghĩa với việc giảm lưu lượng máu đến thận, làm cho thận hoạt động kém hiệu quả. Những bệnh nhân sử dụng NSAIDs liều cao, những bệnh nhân sẵn có các vấn đề về thận, bệnh nhân cao tuổi… rất dễ bị suy thận do NSAIDs gây ra. Bệnh nhân đang sử dụng thuốc lợi tiểu, nếu sử dụng thêm NSAIDs càng dễ bị suy thận. Vì vậy, những nhóm bệnh nhân này không nên tự ý mua thuốc NSAIDs để sử dụng mà cần phải có chỉ dẫn rõ ràng từ thầy thuốc .

Thuốc ức chế ACE và thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II là những nhóm thuốc dùng để trị bệnh cao huyết áp. Khi mới sử dụng những loại thuốc này, bệnh nhân nên khởi đầu ở liều thấp; sau đó, thường xuyên xét nghiệm máu để giám sát chức năng thận. Suy thận nhẹ thường xảy ra ở giai đoạn đầu sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu chức năng thận suy giảm quá 30% thì cần phải ngưng sử dụng thuốc ngay. Trong quá trình dùng, tuyệt đối không nên sử dụng kèm các thuốc NSAIDs.

Kháng sinh Aminoglycoside là những loại kháng sinh rất hữu dụng trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng 10% – 20% bệnh nhân bị suy thận khi sử dụng nhóm kháng sinh này, nhất là khi uống với liều cao hoặc dùng trong thời gian dài. Quá trình suy thận sẽ dễ thấy rõ chỉ sau một tuần sử dụng nhóm kháng sinh Aminoglycoside.

Những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường và bệnh thận càng dễ bị suy thận nếu được chụp X – quang có dùng màu phản quang. Khi lượng màu sử dụng nhiều, bệnh nhân bị mất nước thì càng dễ bị suy thận. Do vậy, bệnh nhân cần nạp vào cơ thể lượng nước thích hợp và dùng phẩm màu ít tác dụng phụ hơn.

Đối với những người dễ mắc bệnh thận, một vài loại dược phẩm như thuốc lợi tiểu sẽ làm cơ thể bị mất nước dẫn đến suy thận. Người bệnh cần lưu ý những loại thuốc kháng sinh, thuốc kháng nấm, thuốc kháng virus có thể gây suy thận. Trong trường hợp suy thận, bệnh nhân cần ngưng sử dụng các loại thuốc này; sau đó thông báo cho bác sĩ vì sử dụng chung nhiều loại dược phẩm cùng lúc thì đồng nghĩa với “bức tử” thận nhanh hơn.

Theo Người Lao Động

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù là hiện tượng ứ nước trong các tổ chức dưới da hoặc ở các tạng của cơ thể. Phù là một dấu hiệu của nhiều bệnh, nên khi bị phù phải tìm nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị mới có kết quả.

  Phát hiện phù

Bằng mắt thường mọi người có thể thấy ngay được, nhưng đôi khi rất khó xác định phù. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nặng chân. Nơi bị phù sưng to, căng mọng, làm mất đi các nếp nhăn, mắt cá, đầu xương bị phẳng lỳ. Da vùng phù nhạt màu, ấn vào nơi phù da lõm xuống, đặc biệt là ấn vào mặt trước trong xương chày.

Các dấu hiệu kèm theo như lượng nước tiểu ít đi, gan to, cổ trướng, khó thở… Phù giữ nước nên cân nặng có thể tăng hằng ngày từ 1 đến 2 kg. Sau đây là các nguyên nhân gây phù:

Phù toàn thân

Thường phù từ mặt, bụng, ngực, chân, tay, kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn. Hay gặp những bệnh sau:

Thận nhiễm mỡ: Phù rất to. Phù trắng, lúc đầu phù ở mặt, sau phù toàn thân. Thường kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng. Ăn nhạt không giảm phù. Nước tiểu có nhiều protein. Xét nghiệm máu: urê, creatinin không cao, protein giảm nhiều, cholesterol tăng nhiều.

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn: Phù trắng, mềm, ấn lõm, phù toàn thân, rõ ở hai chi dưới. Ăn nhạt phù giảm rõ. Có thể kèm theo tăng huyết áp , tràn dịch màng phổi, màng tim. Nước tiểu ít, vẩn đục, có protein, trụ niệu. Có thể thiếu máu. Chức năng thận rối loạn, creatinin tăng cao.

Suy dinh dưỡng: Phù toàn thân hoặc hai chi dưới, phù trắng, mềm, ấn lõm, mức độ phù buổi sáng và chiều như nhau. Nước tiểu không có protein. Thường do thiếu ăn hoặc đang mắc các bệnh mạn tính như: rối loạn tiêu hóa lâu ngày, lao, ung thư, các bệnh tê liệt, bị các bệnh mạn tính nằm lâu.

Phù do nội tiết: Phù do tăng aldosteron: Phù trắng, ấn lõm, phù chi dưới, có khi phù mặt, phù kín đáo, có trường hợp tự khỏi. Gặp ở phụ nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nước tiểu không có protein. Điều trị bằng spirolacton có hiệu quả.

Phù do thiểu năng tuyến giáp: phù cứng, ấn không lõm, mặt tròn mắt híp, môi dày, lưỡi to. Móng chân, tay có ngấn, khô rạn, tóc cứng, dễ gãy. Chậm chạp, trí tuệ kém phát triển, nhiệt độ giảm, huyết áp hạ, mạch chậm.

Phù do ưu năng tuyến thượng thận: Mặt tròn đỏ, phù cứng, huyết áp tăng. Gặp ở người có u ở vỏ thượng thận, người uống corticoid lâu ngày, nếu ngừng uống thì các triệu chứng sẽ hết.

Phù khu trú

Phù ngực: Còn gọi là phù áo khoác, phù từ ngực có thể phù lên cổ, mặt hoặc phù cả hai tay. Do u đè ép vào ống bạch mạch ở ngực và tĩnh mạch chủ trên. Trên da ngực nổi nhiều mạch máu ngoằn nghèo màu tím, bệnh nhân đau ngực, vú to. Chụp Xquang lồng ngực thường thấy khối u trung thất.

Phù hai chi dưới: Do suy tim và xơ gan:

- Do suy tim: lúc đầu phù 2 mắt cá chân, phù mềm, ấn lõm. Phù xuất hiện vào buổi chiều, mất đi lúc sáng sớm và lúc nghỉ ngơi. Hai chân phù rất to, có khi nứt da, nước vàng chảy rỉ ra. Ăn nhạt phù giảm rõ. Kèm theo tim to, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mạch nhanh, khó thở, đái ít. Suy tim nặng có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi.

- Do xơ gan: gan có thể to, cứng, thường gan bị teo. Phù ít, ấn lõm, sau phù to. Nước cổ trướng tái phát nhanh. Có thể kèm theo tràn dịch màng phổi, màng tinh hoàn, có mạch máu nổi ở da bụng. Chức năng gan suy giảm.

Phù do thiếu vitamin B1: (Bệnh Bêribêri hay bệnh tê phù). Phù hai chân, ấn lõm, thường phù rõ vào buổi chiều, hai chân thấy tê bì như kiến bò, hay bị chuột rút, phản xạ gân gối mất. Thường do ăn uống thiếu chất lâu dài. Điều trị bằng vitamin B1 phù mất đi rõ rệt. Nếu mẹ đang nuôi con thì con cũng bị thiếu vitamin B1, hay khóc về đêm, gọi là khóc “dạ đề”.

Phù do thai nghén: Gặp ở người có thai, có hoặc không có protein niệu. Cần phải khám thai định kỳ để xác định.

Phù một chi: Phần nhiều gặp ở chân hơn ở tay, do bệnh của các huyết quản.

Viêm tắc tĩnh mạch: Phù mềm, ấn lõm, da ấm. Rất đau khi nắn vào chi phù. Gác chân lên cao, nằm nghỉ thì bớt phù. Có sốt, gặp ở người sau đẻ, sau phẫu thuật vùng hố chậu, bệnh nhiễm khuẩn nặng.

Viêm mạch bạch huyết : phù mềm, ấn lõm, rất đau. Trên da nổi những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng trong vùng như bẹn, nách cũng sưng và đau. Đôi khi có sốt. Phát hiện có vết xước, vết thương, nhọt. Trong trường hợp mới mắc bệnh giun chỉ, có thể tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở máu tĩnh mạch vào ban đêm.

Phù cứng: Thường là phù chân voi, di chứng của viêm mạch bạch huyết do giun chỉ. Ống bạch huyết bị vỡ vào tổ chức dưới da, gây phù cứng. Da rất dầy và cứng, ấn không lõm. Thường bị một chân, có khi cả 2 chân nhưng không đều. Phù bộ phận sinh dục như bìu xù xì, to và cứng. Nếu ống bạch huyết vỡ vào bể thận, thì bệnh nhân đái ra dưỡng chấp màu đục như nước vo gạo.

Phù dị ứng: Thường xuất hiện đột ngột sau khi ăn hoặc tiếp xúc tác nhân dị ứng như thuốc , thức ăn, bụi nhà, phấn hoa, sâu róm… Phù xuống quanh mắt, mồm, da nổi cục và ngứa, mất đi rất nhanh khi dùng thuốc chống dị ứng, có khi tồn tại vài ngày.

Ngoài ra, phù còn do suy giảm hệ tĩnh mạch, do các nguyên nhân chèn ép tĩnh mạch do viêm, do ung thư hay bệnh toàn thân, bệnh thiếu máu.

Khi bị phù, bạn cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám, làm các xét nghiệm, xác định bệnh. Từ đó bạn sẽ nhận được lời khuyên và phương pháp điều trị theo từng nguyên nhân cụ thể của từng bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Tiểu máu

Tiểu máu

Tiểu máu! Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn.

Định nghĩa

Nhìn thấy máu trong nước tiểu có thể gây ra hơn một chút lo lắng. Tuy nhiên, máu trong nước tiểu không phải luôn luôn là một vấn đề cần quan tâm. Tập thể dục quá nặng có thể gây ra máu trong nước tiểu, có thể một số thuốc thông thường, bao gồm cả aspirin. Nhưng tiểu chảy máu cũng có thể chỉ ra một sự rối loạn nghiêm trọng.

Có hai loại máu trong nước tiểu. Máu mà có thể nhìn thấy được gọi là tiểu máu tổng thể. Tiểu máu (hematuria) chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi được gọi là tiểu máu kính hiển vi và được tìm thấy khi bác sĩ xét nghiệm nước tiểu. Dù bằng cách nào, điều quan trọng để xác định lý do chảy máu.

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản. Máu trong nước tiểu gây ra bởi tập thể dục thường trong vòng một hoặc hai ngày, nhưng các vấn đề khác thường đòi hỏi chăm sóc y tế.

Các triệu chứng

Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn. Nếu đông máu trong nước tiểu, có thể bị đau. Rất nhiều lần, tuy nhiên, nước tiểu đẫm máu xảy ra mà không có dấu hiệu hay triệu chứng khác.

Trong nhiều trường hợp, có thể có máu trong nước tiểu chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi.

Mặc dù nhiều trường hợp hematuria không nghiêm trọng, điều quan trọng để gặp bác sĩ bất kỳ lúc nào nhận thấy máu trong nước tiểu. Hãy ghi nhớ rằng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc nhuận tràng Ex và các loại thực phẩm nhất định, bao gồm củ cải đường, đại hoàng có thể gây ra nước tiểu chuyển sang màu đỏ. Sự thay đổi màu sắc nước tiểu gây ra bởi thuốc, thức ăn hoặc tập thể dục thường biến mất trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, có thể không tự nhận biết thuộc tính nước tiểu màu đỏ hoặc máu do thuốc hoặc tập thể dục, vì vậy tốt nhất gặp bác sĩ bất cứ lúc nào nhìn thấy máu trong nước tiểu.

Nguyên nhân

Đường tiết niệu được tạo ra bởi bàng quang, hai quả thận, hai niệu quản và niệu đạo. Thận loại bỏ chất thải và nước thừa ra khỏi máu và chuyển đổi nó thành nước tiểu. Nước tiểu sau đó chảy qua hai ống rỗng (niệu quản) – mỗi một từ thận để tới bàng quang, nơi nước tiểu được lưu giữ cho tới khi được ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Trong hematuria thận hoặc các bộ phận khác của đường tiết niệu, cho phép các tế bào máu bị rò rỉ vào nước tiểu. Một số vấn đề có thể gây ra rò rỉ này, bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Nhiễm trùng đường tiểu đặc biệt phổ biến ở phụ nữ, mặc dù đàn ông cũng gặp. Nó có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên trong bàng quang. Các nhiễm khuẩn đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, phát triển sau khi sinh hoạt tình dục. Các triệu chứng có thể bao gồm một sự liên tục kích thích để đi tiểu, đau và buốt khi đi tiểu, và nước tiểu có mùi rất mạnh. Đối với một số người, đặc biệt là người lớn tuổi, dấu hiệu của bệnh có thể được phát hiện bằng kính hiển vi.

Nhiễm trùng thận. Nhiễm trùng thận (viêm bể thận) có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập thận từ dòng máu hoặc di chuyển lên từ niệu quản đến thận. Các dấu hiệu và triệu chứng thường tương tự như nhiễm trùng bàng quang, mặc dù nhiễm trùng thận có nhiều khả năng gây sốt và đau sườn.

Sỏi bàng quang hoặc thận. Các khoáng chất trong nước tiểu tập trung đôi khi kết tủa, tạo thành các tinh thể trên các bức tường của thận hay bàng quang. Theo thời gian, các tinh thể có thể trở thành sỏi nhỏ, đá cứng. Các đá này thường không đau, và có thể sẽ không biết có nó trừ khi nó gây ra tắc nghẽn hoặc đang di chuyển. Sau đó, thường có triệu chứng sỏi thận, đặc biệt có thể gây ra đau đớn. Bàng quang hoặc sỏi thận cũng có thể làm cả đái máu tổng thể và vi chảy máu.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt nằm ngay dưới bàng quang và bao quanh phần trên của niệu đạo, thường bắt đầu phát triển cách tiếp cận khi nam giới tuổi trung niên. Khi các tuyến lớn, nén niệu đạo, một phần chặn dòng chảy nước tiểu. Các dấu hiệu và triệu chứng của một tuyến tiền liệt mở rộng (tuyến tiền liệt lành tính hyperplasia, hay BPH) bao gồm tiểu khó, một nhu cầu khẩn cấp hoặc liên tục để đi tiểu, và một trong hai chảy máu tổng thể hoặc vi chảy máu. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự.

Bệnh thận. Vi chảy máu là một triệu chứng phổ biến của viêm cầu thận, gây viêm nhiễm của hệ thống lọc của thận. Viêm cầu thận có thể là một phần của một bệnh hệ thống, chẳng hạn như tiểu đường, hoặc nó có thể xảy ra riêng một mình. Nó có thể được kích hoạt bởi nhiễm virus hoặc các bệnh mạch máu (viêm mạch), và các vấn đề miễn dịch như bệnh lí thận IgA, mà ảnh hưởng đến các mao mạch nhỏ, lọc máu trong thận.

Ung thư. Nhìn thấy nước tiểu chảy máu có thể là một dấu hiệu của thận, bàng quang hoặc ung thư tuyến tiền liệt. Thật không may, có thể không có dấu hiệu hoặc triệu chứng trong giai đoạn đầu, khi các bệnh ung thư được chữa trị thêm.

Rối loạn di truyền. Bệnh thiếu máu thiếu hụt kinh niên của các tế bào máu đỏ có thể là nguyên nhân gây ra máu trong nước tiểu, cả tổng và vi hematuria. Vì vậy, có thể có hội chứng Alport, ảnh hưởng đến các màng lọc ở cầu thận của thận.

Chấn thương thận. Một cú đánh hoặc thương tích khác với thận từ một tai nạn hoặc với môn thể thao có thể gây ra máu trong nước tiểu mà có thể nhìn thấy.

Thuốc. Thuốc thường gặp có thể gây ra có thể nhìn thấy máu tiết niệu bao gồm aspirin, penicillin, heparin và các thuốc chống ung thư cyclophosphamide.

Tập thể dục nặng. Không rõ ràng lý do tại sao tập thể dục gây ra hematuria tổng thể. Nó có thể tổn thương đến bàng quang, mất nước hoặc sự cố của các tế bào máu đỏ xảy ra với tập thể dục aerobic bền vững. Hầu hết các vận động viên có thể nhìn thấy chảy máu nước tiểu sau khi một buổi tập luyện dữ dội.

Yếu tố nguy cơ

Hầu như bất cứ ai, kể cả trẻ em và thanh thiếu niên có thể có tế bào hồng cầu trong nước tiểu. Yếu tố tạo nên nhiều khả năng này bao gồm:

Tuổi. Nhiều đàn ông lớn tuổi hơn 50 có hematuria thỉnh thoảng do một tuyến tiền liệt mở rộng.

Gới tính. Hơn một nửa của tất cả các phụ nữ sẽ có một nhiễm trùng đường tiết niệu ít nhất một lần trong cuộc sống của họ, có thể với một số chảy máu đường tiết niệu. Người đàn ông trẻ tuổi có nhiều khả năng có sỏi thận hoặc hội chứng Alport, một dạng của viêm thận di truyền có thể gây ra máu trong nước tiểu.

Một nhiễm trùng gần đây. Viêm thận sau khi bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn (postinfectious viêm cầu thận) là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nước tiểu có thể nhìn thấy máu ở trẻ em.

Lịch sử gia đình. Có thể dễ bị chảy máu đường tiểu nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh thận hoặc sỏi thận.

Một số thuốc. Aspirin và các thuốc giảm đau không steroid khác chống viêm và kháng sinh như penicillin được biết là làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiết niệu.

Vất vả tập thể dục. Chạy dài – xa đặc biệt dễ bị gây ra chảy máu đường tiết niệu. Trong thực tế, tình trạng này đôi khi được gọi là Jogger ‘s hematuria. Nhưng bất kỳ ai hoạt động kịch liệt có thể phát triển triệu chứng.

Những chuẩn bị cho việc khám bệnh

Trong một số trường hợp, mặc dù có thể gọi ngay cho một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu (tiết niệu).

Dưới đây là một số thông tin để giúp chuẩn bị cho buổi khám, và những gì mong đợi từ bác sĩ.

Những gì có thể làm

Hãy nhận biết của bất kỳ hạn chế trước khi khám. Đồng thời thực hiện việc khám, hãy chắc chắn để hỏi nếu có bất cứ điều gì cần làm trước để chuẩn bị cho chẩn đoán xét nghiệm thông thường.

Bất kỳ triệu chứng đã gặp, bao gồm bất kỳ mà có vẻ không liên quan đến lý do mà dự kiến khám.

Tạo một danh sách các thông tin y tế, bao gồm bất kỳ điều kiện nào khác mà đang được điều trị, và tên của bất cứ loại thuốc, vitamin bổ sung đang dùng.

Đối với hematuria, một số câu hỏi cơ bản để yêu cầu bác sĩ bao gồm

Các nguyên nhân có thể có các triệu chứng là gì?

Những loại kiểm tra cần? Những thử nghiệm này yêu cầu bất kỳ chuẩn bị đặc biệt không?

Tôi có cần điều trị?

Điều gì là phương pháp điều trị?

Có bất cứ tài liệu quảng cáo hay tài liệu in khác có thể mang về nhà?

Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn sàng để yêu cầu bác sĩ, đừng ngần ngại đặt câu hỏi bất kỳ lúc nào nếu không hiểu điều gì đó.

Bác sĩ hoặc nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe có thể sẽ hỏi một số câu hỏi. Sẵn sàng để trả lời họ.

Các câu hỏi bác sĩ hỏi có thể bao gồm

Có bị đau khi đi tiểu?

Có thấy máu trong nước tiểu, chỉ thỉnh thoảng hoặc tất cả thời gian?

Khi đi tiểu có máu trong thời điểm hiện tại? Ví dụ, có thấy máu khi lần đầu tiên bắt đầu đi tiểu hoặc nước tiểu có máu không trở nên rõ ràng vào cuối dòng nước tiểu? Hoặc có nhìn thấy dòng máu trong nước tiểu trong suốt thời gian đang đi tiểu?

Có cục máu đông trong thời gian qua đi tiểu? Kích thước và hình dạng gì?

Đã dùng thuốc gì?

Có hút thuốc không?

Có tiếp xúc với hóa chất trong công việc? Những loại?

Đã bao giờ điều trị bằng phóng xạ?

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để tìm một nguyên nhân cho chảy máu đường tiết niệu, các xét nghiệm sau đây và các buổi khám đóng một vai trò quan trọng:

Khám sức khỏe, trong đó bao gồm một cuộc thảo luận của lịch sử y tế.

Xét nghiệm nước tiểu. Ngay cả khi chảy máu lần đầu tiên được phát hiện qua kiểm tra nước tiểu, có thể có một thử nghiệm để xem nước tiểu vẫn còn chứa các tế bào máu đỏ. Hematuria xảy ra chỉ một lần thường không cần phải đánh giá thêm. Phân tích nước tiểu cũng có thể giúp xác định xem có một nhiễm trùng đường tiết niệu hay có bài tiết khoáng chất gây sỏi thận.

Hình ảnh. Hầu hết mọi người với hematuria có thể có một kiểm tra hình ảnh, cung cấp hình ảnh chi tiết của các cơ quan nội tạng. Điều này có thể là một máy vi tính chụp cắt lớp (CT scan), trong đó sử dụng bức xạ và một máy tính mạnh mẽ để tạo ra hình ảnh mặt cắt của các bên trong cơ thể; Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), trong đó sử dụng một từ trường và sóng radio thay vì X – quang để sản xuất hình ảnh, hoặc một siêu âm. Siêu âm sử dụng một sự kết hợp của sóng âm thanh tần số cao và chế biến máy tính để xem thận và bàng quang.

Soi bàng quang. Trong thủ tục này, một ống nhỏ được trang bị một máy ảnh thu nhỏ vào bàng quang để kiểm tra toàn bộ cả bàng quang và niệu đạo.

Nguyên nhân của chảy máu đường tiết niệu có thể không bao giờ được tìm thấy. Trong trường hợp đó, bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra thường xuyên theo dõi, đặc biệt là nếu có yếu tố nguy cơ ung thư bàng quang, chẳng hạn như hút thuốc lá, tiếp xúc với chất độc môi trường và lịch sử một liệu pháp bức xạ.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hematuria không có điều trị cụ thể. Thay vào đó, bác sĩ sẽ tập trung vào những điều kiện cơ bản:

Nhiễm trùng đường tiểu. Kháng sinh điều trị tiêu chuẩn cho nhiễm trùng đường tiểu. Các triệu chứng thường giảm dần trong vài ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc, nhưng bệnh nhiễm trùng định kỳ có thể cần nhiều phương pháp điều trị hoặc lâu hơn.

Sỏi thận. Có thể loại bỏ một sỏi thận do uống một lượng lớn nước và hoạt động. Nếu điều này không hiệu quả, bác sĩ có thể thử các biện pháp xâm lấn hơn. Chúng bao gồm sử dụng sóng xung kích để phá vỡ sỏi thành từng miếng nhỏ (sóng xung extracorporeal lithotripsy) và trong một số trường hợp, phẫu thuật để loại bỏ những sỏi.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Điều trị cho một tuyến tiền liệt mở rộng tìm cách giảm các triệu chứng và phục hồi chức năng bình thường của đường tiết niệu. Tất cả đều có hiệu quả đến mức độ khác nhau, và tất cả đều có một số nhược điểm. Thuốc men thường cố gắng đầu tiên, và nó cung cấp sự hỗ trợ lâu dài cho nhiều người đàn ông. Khi thuốc không giúp đỡ, điều trị xâm lấn tối thiểu bằng cách sử dụng nhiệt, tia laser hoặc sóng âm để tiêu diệt tế bào tuyến tiền liệt có thể là cố gắng quá mức.

Bệnh thận. Nhiều vấn đề về thận thường cần điều trị. Không có vấn đề gì là nguyên nhân cơ bản, mục đích là để làm giảm viêm nhiễm và hạn chế thiệt hại thêm cho thận.

Ung thư. Mặc dù có một số lựa chọn điều trị ung thư thận và bàng quang, phẫu thuật để loại bỏ các tế bào ung thư thường là lựa chọn đầu tiên bởi vì các tế bào là tương đối kháng bức xạ và hầu hết các loại hóa trị. Việc điều trị chính cho bệnh ung thư bàng quang là phẫu thuật cắt bỏ hoặc loại bỏ hoàn toàn bàng quang. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể được kết hợp với hóa trị. Trong những người khác, hệ thống miễn dịch trong bàng quang thúc đẩy mạnh mẽ với thuốc.

Rối loạn di truyền. Điều trị cho chứng rối loạn di truyền ảnh hưởng đến thận thay đổi rất nhiều. Hematuria gia đình lành tính thường không cần điều trị, ví dụ ,trong khi những người bị hội chứng Alport nghiêm trọng cuối cùng có thể cần phải chạy thận – một phương tiện nhân tạo loại bỏ các chất thải từ máu khi thận không còn có thể làm như vậy. Thiếu máu hồng cầu liềm được điều trị bằng truyền máu, hoặc trong trường hợp kịch bản tốt nhất, một cấy ghép tủy xương.

Phòng chống

Thường không thể ngăn chặn hematuria, mặc dù có những bước có thể làm để giảm nguy cơ của một số các bệnh gây ra nó. Phòng chống chiến lược bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Uống thật nhiều nước, đi tiểu khi cảm thấy có yêu cầu và càng sớm càng tốt sau khi giao hợp, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu, và các sản phẩm vệ sinh phụ nữ có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu.

Sỏi thận. Để giúp hạ thấp nguy cơ sỏi thận, uống nhiều nước và hạn chế muối, protein và các thực phẩm chứa oxalate, chẳng hạn như rau bina và đại hoàng.

Ung thư bàng quang. Ngưng hút thuốc, tránh tiếp xúc với hóa chất và uống nhiều nước có thể cắt giảm nguy cơ ung thư bàng quang.

Ung thư thận. Để giúp ngăn ngừa ung thư thận, hút thuốc dừng lại, duy trì một trọng lượng khỏe mạnh, ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, trở lại hoạt động, và tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Theo Dieutri.vn

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Bệnh suy thượng thận: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh suy thượng thận: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh suy tuyến thương thận mạn tính còn gọi là bệnh suy thượng thận mạn hay bệnh Addison, thường do lao vỏtuyến thượng thân, teo thượng thận, bệnh tựmiễn, Histoblast, thoái hóa tinh bột, ung thưdi căn, thoái hóa do nhiễm độc tếbào, nhiễm nấm, bệnh bạch cầu, di chứng xuất huyết não, nhiễm khuẩn, do trịliệu Corticoid kéo dài, phẫu thuật cắt tuyến thượng thận…

Đặc điểm lâm sàng chủyếu là bệnh nhân suy nhược, mệt mỏi, chán ăn, tăng nhiễm sắc tố, mất nước mất Natri, huyết áp hạ. Bệnh phát sinh phần lớn ởtuổi thành niên từ20 đến 50 tuổi. Tuy có tăng tụsắc tốnhưchứng “hắc đởm” nhưng bệnh có nhiều biểu hiện hưhàn,vì vậy được qui vào chứng “hưlao” trong chứng bệnh nội khoa y học cổtruyền.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH SUY THƯỢNG THẬN :

Nguyên nhân bệnh có nhiều, do tiên thiên bất túc, mắc bệnh ngoại cảm hoặc nội thương lâu ngày, do tư tưởng tình cảm có sự đột biến bất thường (thất tình) làm tổn thương tạng phủ, cũng có thể do sinh hoạt ăn uống, phòng dục, lao động không điều độ đều có thể gây nên âm dương mất điều hòa, khí huyết hư tổn, chức năng tạng phủ rối loạn. Và theo nhiều học giả trong bệnh suy tuyến thượng thận thì chức năng của 3 tạng thận, can, tỳ bị suy giảm nhiều nhất.

Có thể phân tích cơ chế bệnh lý như sau: Thận là gốc của tiên thiên, thận tàng tinh, chủ mệnh môn hỏa, là nguồn năng lương và cơ sở vật chất của sự sống, thúc đẩy sự sính trưởng và phát dục. Do mệnh môn hỏa suy, năng lượng khí hóa thiếu hụt nên bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối lạnh, mệt mỏi, tinh thần suy sụp, sinh lý yếu kém, sắc tố lắng đọng thành xạm đen. Tinh suy nguyên âm không đủ để nuôi cơ thể nên thể trạng âm hư, người gầy sụt cân, da xạm khô, ù tai, hoa mắt, ngủ ít, hay quên, lòng bàn chân tay nóng. Can thận đồng nguyên, thận tinh hư thì can âm huyết

cũng thiếu nên chóng mặt ù tai, tóc khô rụng, chân tay tê dại cơ giật run, tinh thần khó tập trung dễ bị kích động, can khí uất khí trệ sinh huyết ứ. Tỳ chủ vận hóa, thận dương không đủ thì tỳ dương phải thiếu nên người chân tay mệt mỏi. ăn kém, rối loạn

tiêu hóa . Cho nên trên lâm sàng thường gặp các thể bệnh chính là tỳ thận dương hư, can thận âm hư hoặc âm dương đều hư. Trường hợp bệnh tiến triển xấu mệnh môn hỏa và nguyên khí suy nặng, dẫn đến hội chứng bệnh lý: phù dương ngoại việt, âm dương ly quyết thì xuất hiện sốt cao hôn mê, nôn, huyết áp tụt, mạch Vi Tế muốn tuyệt, khó bắt, dễ nguy hiểm đến tính mạng.

II. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH SUY THƯỢNG THẬN :

Bệnh bắt đầu từ từ, bệnh nhân thường xuyên ở tình trạng suy yếu, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, nôn và buồn nôn, tiêu chảy, rối loạn sinh dục, có khi đau bụng, thèm ăn muối. Cơ thể bị mất nước mạn tính, suy mòn, huyết áp thấp, tim nhỏ lại, hạ đường huyết, nhiễm sắc tố ngày càng tăng, chủ yếu ở các vùng sinh dục, rốn nách, núm vú, các khớp khuỷu, niêm mạc miệng, hoặc nơi có sẹo, thường có màu nâu hơi xanh, hoặc xạm đen.

Nhiễm sắc tố nặng có thể lan ra toàn thân màu than đen hay đồng thau. Bệnh nhân dễ bực tức, tư tưởng không tập trung hoặc u uất, trầm cảm, đau đầu, mất ngủ, hồi hộp, khó thở, tóc khô dễ rụng, rối loạn kinh nguyệt, lưng đau, gối mỏi, chân tay lạnh, sợ lạnh, hoặc tiểu đêm nhiều, phù toàn thân, bệnh nặng dẫn đến hôn mê .

Chẩn Đoán: Chủ yếu dựa vào:

Người mệt mỏi, suy yếu ngày càng nặng hơn, chán ăn, buồn nôn, sút cân, nhiễm sắc tố ở da có xu hướng tăng dần.

. Huyết áp hạ.

. Có tiền sử nhiễm lao hoặc đang nhiễm lao.

. X quang ổ bụng phát hiện điểm vôi hóa ở vùng thượng thận.

. Điện tâm đồ, điện não đồ có điện thế thấp.

.Hocmôn cortison máu, 17 Setostéroid trong nước tiểu đều thấp.

III. ĐIỀU TRỊ BỆNH SUY THƯỢNG THẬN :

Thường gặp các thể bệnh thượng thận mạn và luận trị như sau:

l) Tỳ thận dương hư: Thường gặp ở những bệnh nhân thể chất dương hư, lưng đau mỏi, chân tay lạnh sợ lạnh, yếu sinh lý, tóc dễ rụng, tiểu trong hoặc phù toàn thân, nam thì liệt dương, di tinh, nữ thì bụng lạnh, huyết trắng nhiều, vô sinh, lưỡi bệu, sắc nhạt, rêu trắng hoạt, người gầy mệt mỏi, chán ăn, sắc mặt da xạm đen hoặc nâu thâm, mạch Trầm, Trì, Tế, Nhược.

Điều trị: ôn bổ tỳ thận. Dùng bài Hữu Qui Hoàn gia giảm: Thục địa, Sơn dược đều 15g, Bạch linh, Đơn sâm đều 15g, Sơn thù, Thỏ ti tử, Kỷ tử, Đỗ trọng, Bạch truật đều 12g, Nhục quế bột 4g (hòa thuốc ), Thục phụ tử 10g, Đương qui 12g, Lộc giác giao 10g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 3g, sắc uống.

- Gia giảm: Khí hư nặng bỏ Đảng sâm thêm Hồng sâm; Có ứ huyết thêm Kê huyết đằng; Nôn, buồn nôn thêm Khương Bán hạ, Trần bì; Bụng đầy thêm Hậu phác, Mộc hương; Tiêu chảy thêm Bổ cốt chi, Nhục đậu khấu; Chán ăn thêm Sa nhân, tiêu Sơn tra, Mạch nha; Tim hồi hộp thêm Ngũ vị tử, Long nhãn nhục, Sinh Mẫu lệ; Liệt dương thêm Dâm dương hoắc, Lộc nhung. Trường hợp đang mắc bệnh lao thêm Đông trùng hạ thảo, Bạch cập, Hoàng tinh…

Do bệnh kéo dài có thể dùng bài thuốc hoàn sau: Thục địa, Sinh cam thảo đều 240g, Sơn thù, Câu kỷ tử đều 180g, Thỏ ty tử 150g, Đỗ trọng 120g, Nhục quế 60g, Chế Phụ tử 100g, Hoàng kỳ 300g, Lộc nhung 60g, Tử hà xa 240g, tán bột mịn làm hoàn mỗi viên 6g, ngày uống 2 lần sáng chiều, mỗi lần 2 viên (Hiện Địa Nội Khoa Trung Y Học).

2- Can Thận Âm Hư: Thường gặp ở người thể tạng âm hư, triệu chứng chính là váng đầu, ù tai, lưng gối nhức mỏi, cơ run giật, chân tay tê dại, sốt ít, lòng bàn chân tay nóng, mất ngủ, mồ hôi trộm, sắc mặt da xạm và đen dần, táo bón, nam hoạt tinh, nữ kinh nguyệt rối loạn hoặc bế kinh, chất lưỡi đỏ khô, rêu ít, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sác.

Điều trị: T’ư thận, dưỡng can, sơ can, hóa ứ. Dùng Mạch đông, Sa sâm, Sinh địa, Nữ trinh tử, Qui bản, Miết giáp đều 15g, Hạn liên thảo, Đương qui, Thỏ ty tử, Bạch thược đều 12g, Đơn sâm, Kê huyết đằng đều 10g, Cam thảo 3g. Sắc uống (Hiện Đại Nội Khoa Tring Y Học).

Gia giảm: Can khí uất, ngực sườn đầy tức thêm Xuyên luyện tử, Sài hồ. Sốt âm ỉ kéo dài thêm Địa cốt bì, Tri mẫu. Di tinh thêm Kim anh tử, Phù tiểu mạch. Chán ăn thêm Sinh mạch nha, tiêu Sơn tra. Huyết ứ nặng thêm Bồ hoàng, Đào nhân, Địa long.

3- Âm Dương Lưỡng Hư: Có các triệu chứng của 2 thể bệnh trên đây đặc biệt chú ý người da khô, sốt nhẹ kéo dài, lưới bệu đỏ ít rêu, mạch Tế Sác vô lực nhưng sợ lạnh và chân tay lạnh, huyết áp hạ.

Điều trị: Song bổ âm dương. dùng bài Kim Quỹ Thận Khí Hoàn gia vị: Thục địa, Sơn dược, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả, Câu kỷ tử đều 15g, Thỏ ti tử, Đỗ trọng, Nữ trinh tử, Sơn thù đều 10g, Sinh Hoàng kỳ 20g, Nhục quế bột 4g (hòa uống) Chế Phụ tử 10g (sắc trước 30 phút), Cam thảo 4g, sắc uống.

4-Khí Huyết Lưỡng Hư: Bệnh nhân thường ngày có các triệu chứng váng đầu hoa mắt, mệt mỏi, ít nói, hồi hộp, mất ngủ, môi lưỡi nhợt, sắc da xanh tái, có vùng xạm đen, mạch Trầm Tế, Nhược.

Điều trị: Ích khí dưỡng huyết, kiêm bổ can thận. Dùng bài Bát Trân Thang gia giảm: Thục địa, Đương qui, Bạch thược, Long nhãn nhục, Đảng sâm đều 12g, Kỷ tử, Kê huyết đằng, Bạch truật đều 10g, Hoàng kỳ, Sao táo nhân đều 20g, Xuyên khung 8g, Cam thảo 4g sắc uống.

Bệnh suy tuyến thượng thận mạn tính là bệnh kéo dài hàng năm, biểu hiện chủ yếu là suy giảm chức năng can tỳ thận, âm dương khí huyết hư tổn nên phép trị chủ yếu là bổ nhưng bệnh lâu ngày nên không tránh khỏi khí trệ huyết ứ nên trong lúc điều đó bổ khí huyết âm dương cũng cần chú ý gia thêm thuốc hoạt huyết hành khí mới có hiệu quả trong điều trị. Ngoài ra trong điều trị cũng cần cảnh giác trường hợp bệnh đột ngột kịch phát chứng nguy (vong âm, vong dương hoặc âm dương đều thoát). Ngoài việc dùng phương pháp y học cổ truyền như hồi dương, cứu âm, cố thoát để cứu mạng, nhất thiết phải kết hợp phương pháp hồi sức cấp cứu của y học hiện đại.

Những Bài Thuốc Kinh Nghiệm

+ Ôn Thận Hóa Khí Lợi Thủy Phương: Bệnh viện trưc thuộc số 2 Học viện Trung y Hồ Nam): Thuc địa, Hoài sơn, Phục linh, Đơn sâm đều 15g, Sơn thù, Kỷ tử, Thỏ ti tử, Đỗ trọng, Đương qui đều 12g, Lộc giác giao, Qui bản giao, Chế Phụ tử đều 10g, Nhục quế bột 5g, bột Điền thất 3g, Cam thảo 3g, sắc uống. Đã trị 1 ca suy thượng thận phù toàn thân khỏi hẳn, 17 Setosteroit bình thường, trở lại công tác bình thường, 9 năm không tái phát.

+ Ngũ Ô Nhị Địa Thang (Tưởng Đại Linh, bệnh viện huyện Diêm Sơn, Hà Bắc).

Thục địa, Sinh địa đều 15g, Kỷ tử, Đơn bì đều 12g, Ngũ vị tử, Bạch thược, Hoàng cầm, Chỉ xác, Ngưu tất, Sơn thù, Tri mẫu đều 10g, Ô mai 3 quả, sắc nước uống. Đã

trị 2 ca đồng tử dãn, phản xạ ánh sáng yếu được hồi phục hoàn toàn.

+ Bổ Mệnh Môn Hỏa Phương (Trương Thụy Đình, bệnh viện Trung y Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long): Đảng sâm, Câu kỷ tử, Thục địa hoàng, Nữ trinh tử, Tiên linh tỳ, Bổ cốt chi đều 9g, Hoàng kỳ, Sơn dược đều 12g, Tang ký sinh 15g, Lộc giác giao 6g, sắc uống.

Thuốc có tác dụng ôn thận ích khí, đã dùng trị 6 ca có kết hợp cứu đều khỏi tốt.

+ Phụ Quế Ôn Thận Phương (Trình Ích Xuân, học viện Trung y Sơn Đông): Thục Phụ tử 12g, Nhục quế, Sơn dược, Sơn thù, Đơn bì, Trạch tả, Phục linh, Đơn sâm, Chích thảo đều 9g, Thục địa, Hoàng kỳ đều 15g, sắc uống.

 

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Phì đại tuyến tiền liệt là hiện tượng “phát phì” không bình thườngcủa tuyến tiền liệt ( TTL),  là sinh lý bình thường của người cao tuổi nhưng khi đã có những triệu chứng bất thường thì cần phải nghĩ ngay đến một tình trạng bệnh .

Khi tuổi càng cao, tuyến tiền liệt càng có nguy cơtăng kích thước, chèn ép vào niệu đạo và bàng quang, gây nên chứng bệnh này…. Và đây là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (50 – 60 tuổi trở lên).

Chức năng của tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt (TTL) là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở nam giới, nằm ngay dưới bàng quang và trước trực tràng. Khi mới sinh thì TTL nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam… Chức năng của TTL phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. Thông thường tuổi càng cao thì TTL càng to ra nên gọi là phì đại TTL (u xơTTL, bướu lành TTL). Đây là hiện tượng sinh lý bình thường của sự lão hóa cơthể.

Ảnh hưởng của phì đại tuyến tiền liệt

Sự phì đại TTL chèn ép niệu đạo (ống tiểu) và gây nên những rối loạn về đi tiểu. Khi phát triển lớn, u xơ sẽ gây chèn ép làm bế tắc ống tiểu và đôi khi còn kèm đau khi tiểu tiện. Đây là lúc TTL có trạng thái bệnh nên mọi người cần phải chú ý.

Khi nào tuyến tiền liệt có vấn đề?

Thông thường những người cao tuổi bị phì đại TTL sinh lý do tuổi tác, nếu chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ như hay tiểu tiện nhiều hơn so với thời trẻ thì chưa phải là bệnh nên không cần phải điều trị. Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như: tiểu gấp, đêm phải đi tiểu nhiều lần, phải rặn khởi động, tia nước tiểu yếu, tiểu xong có cảm giác là tiểu chưa hết, phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ, khó đi tiểu, tiểu đau buốt… thì đó là dấu hiệu bệnh lý nên cần phải đi khám ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay. Khi khám thì bác sĩ có thể khám bằng cách thăm dò trực tiếp trực tràng, siêu âm, chụp hình hệ niệu có cản quang, làm các xét nghiệm tổng quát để đánh giá tình trạng chung của người bệnh.
Các biến chứng có thể gặp của bướu lành tính TTL: Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mạn tính, suy giảm chức năng thận… và có thể suy thận.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên vừa qua cho thấy phì đại tiền liệt tuyến dễphát tán ởngười mà cuộc sống trước đây thường:

• Stress kinh niên.
• Uống không đủ nước trong giờ làm việc lại hay đổ mồ hôi.
• Sinh hoạt thường xuyên trong môi trường ô nhiễm nhưng thiếu phương tiện bảo vệ sức khoẻ • Có chế độ dinh dưỡng đơn điệu nên cơthể thiếu hụt sinh và khoáng tố thuộc nhóm kháng oxy-hóa.
• Lạm dụng bia rượu, chất béo động vật, chất kích thích (cà-phê, thuốc lá…) khiến sức đề kháng bị sói mòn.
• Mắc bệnh trên đường tiết niệu ( viêm bàng quang), bệnh nội tiết (tiểu đường, rối loạn chức năng tuyến giáp) không được điều trị đến nơi đến chốn.

Nói cách khác, bệnh có thể phòng ngừa không mấy khó nếu nạn nhân đừng quên khắc phục các nhược điểm vừa kể khi còn trẻ, khi tuyến tiền liệt hãy còn “chạy êm” Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơđầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng nhưchất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn, tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơthể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơcàng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơthể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

II. TRIỆU CHỨNG CỦA PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

-Bất chợt có một thôi thúc cấp bách muốn đi tiểu mà ta không kiểm soát, kiềm chếđược. Lý do là bàng quang bịcăng đầy nước tiểu.

-Mót tiểu là vậy mà khi vào nhà cầu thì nước chẳng chịu ra ngay, phải gồng bụng rặn, vì ống dẫn bị nhiếp tuyến đè nghẹt.

-Nếu có ra thì, vòi nước tiểu cũng yếu ngắt quãng vì “ đường ống” quá hẹp.

-Tiểu xong mà thấy vẫn như còn tưng tức có nước, muốn đi thêm.

-Nước tiểu sót lại trong bàng quang kích thích nên ta hay đi đái rắt, nhất là vào đêm khuya.

-Nước tiểu đôi khi có máu vì huyết quản dãn nở đứt vỡ;

Nhiều khi vì nằm lâu trong bàng quang, nên nước tiểu cũng bị nhiễm vi khuẩn, đưa tới bệnh đường niệu.

Người ta thường hay ví người bị u xơ tuyến tiền liệt là “tiểu ướt mũi giày” là do nước tiểu nhỏ giọt xuống mũi giày hay hội chứng bàn tay khai vì tay dính nước tiểu) hoặc tiểu bị tắc xong lại tiểu tiếp, đi tiểu rất lâu… và nặng hơn có thể bị bí tiểu hoàn toàn.

Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơ đầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng như chất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn,  tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơ thể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơ càng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơ thể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

III. ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Sau khi bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán thì bác sĩ sẽ cho biết là nên điều trị nội khoa hay phải phẫu thuật (dùng thuốc hay mổ). Ngày nay có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn đi tiểu của người bệnh, cũng nhưcó nhiều phương pháp can thiệp ngoại khoa. Nói chung là tùy theo thể trạng người bệnh, kích thước bướu và bướu có gây biến chứng gì lên đường tiết niệu hay chưa… mà bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Một điều cần lưu ý đối với người cao tuổi (từ 45 tuổi trở lên) rằng, bướu lành TTL là căn bệnh không thực sự nguy hiểm nhưng muốn điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và tự điều trị ở nhà thì bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Vì thực tế hiện nay, ngay cả khi đã mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của thầy thuốc thì người bệnh vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

 

Dấu hiệu suy thận

Dấu hiệu suy thận

Hai quả thận người có khoảng 1 triệu đơn vị thận. Người ta có thể mất 50% số đơn vị thận mà vẫn sống bình thường. Vì vậy mới có chuyện cho người khác một quả thận. Tuy nhiên, nếu mất trên số lượng đơn vị thận này, tình trạng suy thận sẽ bắt đầu.

Bệnh nhân suy thận mãn được chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Củ Chi, TP.HCM – Ảnh: L.T.H

Thận của một người có thể chết đi, tạm ngưng hoạt động hoặc không thể hoạt động được vì một bệnh lý nào đó. Nếu chỉ tạm ngưng hoạt động trong thời gian ngắn và được điều trị đúng, kịp thời, thận sẽ hoạt động trở lại.

Có thể nhận biết triệu chứng của suy thận cấp qua số lượng nước tiểu thải ra trong ngày. Nếu bệnh nhân không có nước tiểu, hoặc nước tiểu đi được có lượng dưới 100ml trong vòng 24g là dấu hiệu cho biết bị suy thận cấp. Ngoài ra, bệnh nhân còn có các dấu hiệu khác như phù, sưng mặt, sưng mi mắt do ứ nước trong cơ thể.

Trong khi đó, triệu chứng của bệnh suy thận mãn lại kín đáo hơn. Bệnh nhân thường chỉ có triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, không muốn ăn, thiếu máu (thận còn có chức năng tiết ra kích thích tố để sinh hồng cầu). Nếu không để ý, bệnh nhân sẽ không đi khám bệnh và bỏ qua các triệu chứng này.

Để chẩn đoán suy thận mãn, phải cần đến những xét nghiệm cơ bản là đánh giá nồng độ urê máu và créatinine máu. Để phát hiện sớm một bệnh nhân có bị suy thận mãn hay không, trong quá trình theo dõi các bệnh lý nội khoa (cao huyết áp, tiểu đường …) bác sĩ phải thường xuyên cho bệnh nhân kiểm tra định kỳ hai chỉ số urê và créatinine.

Để phòng ngừa suy thận mãn, khi bị nhiễm trùng đường tiểu phải đi khám và điều trị đúng cách; tránh bị sạn thận bằng cách uống nước nhiều. Khi bị sạn thận (cũng có thể gây ra nhiễm trùng đường tiểu) phải điều trị ngay để không gây bế tắc. Uống đủ nước để duy trì lượng nước tiểu khoảng 1,5 lít/ngày. Không nên ăn quá nhiều đạm động vật, vì ăn nhiều đạm sẽ làm thận phải hoạt động nhiều hơn (chức năng chính của thận là biến dưỡng chất đạm). Tránh ăn mật cá, mật rắn, tránh để nhiễm trùng, nhiễm độc… Khi bệnh nhân có bệnh cao huyết áp, tiểu đường… cần tuân thủ điều trị thuốc và thực hiện chế độ ăn uống theo lời khuyên của bác sĩ.

Với những người chỉ còn một thận (cho người khác một thận, có bệnh lý bị teo một thận, bị sạn thận làm hư mất một thận, bị chấn thương mất một thận…), không có dự trữ thứ hai, tuyệt đối tránh các biến chứng do những bệnh khác gây ra.

Vậy còn nước tiểu đục, tiểu ra máu, tiểu đêm, đau lưng liên quan đến bệnh thận hay không? Nước tiểu đục có ba nguyên nhân. Tiểu ra máu có đến hơn… 100 nguyên nhân. Đau lưng có nhiều nguyên nhân và cũng có nhiều lý do làm ta phải thức dậy tiểu đêm.

Vì vậy, để biết chính xác việc tiểu đục, tiểu ra máu, đau lưng, tiểu đêm… liên quan đến bệnh lý thận hay không, bệnh nhân đến bệnh viện để khám bệnh. Hiện nay ở TP.HCM, các bệnh viện đã làm được nhiều loại xét nghiệm, chẩn đoán cận lâm sàng… để tầm soát và phát hiện sớm các bệnh lý về thận.

Suy thận mãn ở tuổi 20

Khoa cấp cứu tiếp nhận bệnh nhân nam T.Đ.K., 21 tuổi, nhà ở quận Bình Thạnh, TP.HCM. K. khá mệt mỏi, nhức đầu nhiều, da niêm nhợt, nặng hai mi mắt do phù và hai chân từ bàn đến cẳng đều phù nhiều, tiểu rất ít.

Hai ngày trước K. có lọc máu cấp cứu bằng máy thận nhân tạo tại một bệnh viện ở quận Bình Thạnh vì đang bị đợt cấp của suy thận mãn, bệnh rất nguy hiểm đe dọa tính mạng. Sau lọc máu K. thoát khỏi nguy kịch, và được bác sĩ tư vấn là đến lúc lọc máu kéo dài, cần làm fistula động tĩnh mạch để tạo đường mạch máu lâu dài cho việc chạy thận. K. được chuyển đến bệnh viện chuyên khoa để làm fistula.

K. cho biết nghỉ học từ năm 16 tuổi do nhà khó khăn, sau đó đi làm thợ hồ và hay có những vết thương rách da hay sây sát chân tay do đụng chạm vật nặng hay nhọn. Do không hiểu biết đầy đủ nên K. cứ để vết thương tự lành mà không chăm sóc, trong đó có những vết thương mưng mủ.

Đến năm 19 tuổi thấy có hiện tượng hay đi tiểu máu sẫm màu hoặc màu đỏ. Hiện tượng này kéo dài đến bốn tháng thì K. cảm thấy mệt nhiều, tay chân phù, làm việc không nổi. K. đi khám bệnh phát hiện mình bị viêm cầu thận mãn tính, các bác sĩ điều trị cho K. tư vấn uống thuốc dài lâu nhằm làm chậm lại sự tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối ở những người viêm cầu thận mãn tính. Nhưng do việc mưu sinh nên sự hợp tác điều trị không được thường xuyên. Đến nay K. đã bị suy thận mãn tính mà không biết, bệnh cảnh đang bùng phát lên nhiều đợt cấp, đòi hỏi phải lọc máu kéo dài.

BS Trần Mạnh Hà

Theo PGS.TS VŨ LÊ CHUYÊN (Bệnh viện Bình Dân TP.HCM/Tuổi Trẻ)

Bể thận viêm mạn

Bể thận viêm mạn

Bể thận viêm mạn là bệnh phổ biến nhất trong các loại bệnh Thận. Đây cũng là bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở mọi lứa tuổi sau khi bị viêm phổi.

Bể Thận – Thận viêm thường bị cả hai bên, ít khi bị một bên nhưng mức độ tổn thương ở hai bên khác nhau, có khi một bên thận bị xơ, teo, bên kia vẫn hoạt động bình thường. Là một quá trình viêm mạn thành từng ổ: bên cạnh ổ mới, có những ổ cũ bị xơ hóa xâm lấn vào tổ chức thận. Rõ nét nhất là sự xâm lấn vào tế bào, lympho bào và tổ chức kẽ của thận, gây xơ hóa tổ chức kẽ của thận và tổ chức xơ xâm lấn chèn ép làm đảo lộn cấu trúc thận.

Đông y xếp vào loại ‘Lao Lâm’, ‘Yêu Thống’, ‘Hư Tổn’.

Nguyên nhân

Theo Đông y, Thận và bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, nếu tạng bị hư tổn thì phủ cũng bị ảnh hưởng theo và ngược lại. Chứng nhiệt lâm (bể thận viêm cấp) điều trị lâu ngày không khỏi hoặc do cơ thể vốn bị suy nhược, thấp nhiệt và tà khí ở trong, ứ huyết tích tụ lại gây nên tiểu nhiều, tiểu gắt, tiểu buốt, lưng đau. Nếu thấp nhiệt nung nấu lâu ngày sẽ làm hao tổn tân dịch, làm tổn thương chính khí, trên lâm sàng sẽ xuất hiện dấu hiệu thận âm bất túc. Nếu Tỳ Thận đều hư sẽ gây nên chính khí suy, tà khí thịnh.

Triệu chứng:

+ Đa số tiến triển âm thầm, triệu chứng rất sơ sài khiến cho người bệnh dễ bỏ qua.

+ Thỉnh thoảng sốt nhẹ, ngang thắt lưng đau, người mỏi mệt.

+ Thỉnh thoảng tiểu buốt, tiểu gắt, có khi không điều trị cũng khỏi.

+ Khoảng 1/3 số trường hợp thường có kèm các đợt cấp tính, sốt cao, đau vùng Thận hai bên hoặc một bên, tiểu đục. Triệu chứng giống như trong trường hợp viêm cấp nhưng chỉ là một đợt cấp trên gốc bệnh viêm mạn.

+ Dấu hiệu tương đối rõ nhất là ba dấu hiệu chính khi xét nghiệm gồm:

. Nước tiểu có vi khuẩn.

. Tiểu ra bạch cầu, thường trên 4 triệu bạch cầu trên 24 giờ.

. Tiểu ra protein: thường chỉ từ 50-200mg% (0,5 đến 2g) / lít nước tiểu.

Tiến Triển

Tiến triển dai dẳng hàng chục năm, có khi 29-30 năm. Có khi gây nên:

. Huyết áp cao tiến triển theo bể thận – thận viêm, nặng dần dẫn đến suy thận.

. Thận bị xơ, teo, mất chức năng hoạt động, năng thì phải cắt bỏ bên teo.

. Thận suy từng đợt: nặng nhất là giảm khả năng cô đặc nước tiểu, tiến triển trong nhiều năm trước khi bị suy thận hoàn toàn.

Điều trị

Thường dùng phép công và bổ cùng lúc.

Bệnh mới phát, dùng phép Thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, hoạt huyết hóa ứ. Khi bệnh đã ổn định, dùng bổ Tỳ, ích Thận để tăng sức đề kháng đối với bệnh.

Có thể dùng một số bài thuốc sau:

Thanh Hóa Thang (Trung Quốc Hương Tài Y Sinh Tạp Chí 1993: 4, 39):

Xích thược

6

Xuyên khung

6

Ngưu tất

6

Qui vĩ

6

Xuyên sơn giáp

6

Sa tiền

9

Tây thảo

9

Mao căn

15

Đã trị 42 ca, toàn bộ đều là nữ giới. Tuổi từ 21-62. Bệnh từ 3-18 năm. Tất cả đã được Tây chẩn đoán là bể thận viêm mạn tính. Uống thuốc này 3-5 thang nhiều lắm cũng không quá 6 thang đều khỏi. Đạt tỉ lệ 96%.

Thanh Lâm Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1991: 3, 16):

Hoàng bá

30

Ngân hoa

60

Hoàng cầm

20

Ngưu tất

12