Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh viện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh viện. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Bệnh da mùa nóng

Bệnh da mùa nóng

Mùa nóng trẻ dễ bị hăm, nhọt, nấm do đổ mồ hôi nhiều vì trẻ bị ủ ấm và mặc tã giấy lâu. Có trẻ nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng máuTrong những ngày gần đây, nhiệt độ cao nhất trong ngày dao động từ 35 o C – 37 o C. Thời tiết nóng nực làm cho cả trè em lẫn người lớn đều rất dễ mắc các bệnh về da, nhất là nhiễm trùng da.

Trẻ nhiễm trùng da do bị ủ ấm

Tại Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 2 TP.HCM, các bác sĩ thường gặp nhất là trẻ bị nhọt và hăm, lở các kẽ da do thời tiết nóng. Bác sĩ Nguyễn Thanh Hương, Trưởng Khoa Nội Tổng hợp, cho biết mặc dù trời nóng, nhưng còn rất nhiều bà mẹ khi thấy con ho, sổ mũi là lại mặc cho con áo trong, áo ngoài, vớ, nón đầy đủ. Trong khi đó, các bé ra mồ hôi nhiều sẽ ngứa ngáy, gãi nhiều, thêm vào đó da trẻ mỏng, mẫn cảm nên dễ bị đỏ, ngứa nhưng các bé chưa tự vệ sinh cá nhân được nên rất dễ nhiễm trùng da. Đầu tiên chỉ là những mụn rôm sảy nhỏ, vết xước trên da hoặc đôi khi chỉ là nốt muỗi đốt nhưng khi bội nhiễm sẽ trở thành nhọt, cụm nhọt nhiều nhất là ở vùng đầu, mặt, cổ.

Các bà mẹ không để ý hoặc cho rằng không sao, nhưng vài ba ngày sau, thấy bé đỏ da toàn thân kèm sốt, sưng hết mặt và toàn thân, thậm chí khi các bà mẹ phát hiện thì các mụn đỏ đã trở thành những mụn mủ sưng tấy ở xung quanh, nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng máu đòi hỏi điều trị khá tốn kém, thời gian chăm sóc rất lâu. Đã có những bệnh nhân bị đa nhọt, viêm mô tế bào ăn sâu vào trong da.

Còn đối với nhũ nhi, các bà mẹ lại hay có thói quen mang tã giấy cho tiện lợi nên bé dễ bị hăm, lở vùng bẹn, bìu, kèm nhiều mụn ở mông, thêm trời nóng kết hợp với phân và nước tiểu sẽ làm da bé bị nhiễm trùng. Trường hợp các bé bị thủy đậu (trái rạ), nhiều bà mẹ còn thói quen cử nước cử gió, bắt bé mặc đồ quá kín nên các nốt phỏng bị bội nhiễm mưng mủ và làm cho bệnh càng nặng hơn… Bác sĩ Nguyễn Thanh Hương khuyên các bà mẹ nên nhớ  vệ sinh da thường xuyên, nhất là sau khi bé tiêu tiểu; không dùng những loại xà bông có độ tẩy cao; trẻ cần được giữ vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng, tắm rửa và thay quần áo. Chú ý lau thật khô, thay tã thường xuyên và không quên thoa phấn cho trẻ.

Đặc biệt khi da bé bị bệnh cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng một loại thuốc bất kỳ nào đó bôi lên da trẻ bởi vì nếu sử dụng không đúng chỉ định, bệnh không bớt mà có thể nặng hơn hoặc có khi làm trẻ bị ngộ độc.

Người lớn dễ bị nấm da và mụn

Còn ở người lớn, theo bác sĩ Trần Ngọc Ánh, Khoa Khám bệnh - BV Da liễu, bệnh da liễu thường gặp vào mùa nóng là nấm (lác đồng tiền), đặc biệt là nấm kẽ tay, kẽ chân ở những người làm việc trong môi trường ẩm, thường xuyên tiếp xúc với nước. Những người mang giày kín suốt ngày, không thay vớ thường xuyên cũng tạo điều kiện cho bệnh nấm chân xuất hiện. Triệu chứng thường thấy là ở bàn chân hoặc gót chân có những mảng da màu đỏ, vết nứt hay những mụn nước. Nếu bệnh nhân phát hiện và điều trị sớm, bệnh sẽ không ảnh hưởng nhiều nhưng nếu tiếp tục tiếp xúc với không khí ẩm có thể bị bội nhiễm làm bàn chân sưng tấy, có mụn mủ, bóng mủ và kèm theo sốt.

Bác sĩ Nguyễn Văn Út, Phòng Khám Da liễu - BV Nguyễn Tri Phương, cũng ghi nhận bệnh nấm kẽ chân thường gặp ở nam, viêm kẽ thường gặp ở các kẽ ngón, đặc biệt kẽ ngón 4 và 5. Tổn thương trên có thể bị bội nhiễm vi khuẩn có mụn mủ, bóng mủ, sưng tấy bàn chân, nổi hạch háng và sốt. Còn nấm bẹn cũng xuất hiện ở nam nhiều nhưng tập trung ở những người thường xuyên  đổ mồ hôi nhiều hay mặc đồ ẩm ướt. Sang thương thường ở nếp gấp hai bên đùi. Từ một bên bẹn, nấm lan sang bên kia lên mông, thắt lưng và bệnh nhân thấy ngứa khi ẩm ướt. Còn nấm thân là những đốm hồng ban, có mụn nước ở rìa, gây ngứa nhiều khi ra nắng hoặc khi ra mồ hôi. Đối với những người đang có mụn, thời tiết nóng cũng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng hơn nếu giữ vệ sinh kém.

Không nên tự ý thoa thuốc

Những bệnh ngoài da không nặng nhưng diễn tiến nhanh trong môi trường ẩm ướt và bội nhiễm nặng do thiếu vệ sinh. Bác sĩ Trần Ngọc Ánh khuyên mọi người cần giữ cơ thể khô, thoáng vào mùa nóng, tránh tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong môi trường ẩm. Nấm được điều trị chủ yếu bằng thuốc, bệnh thường kéo dài đòi hỏi người bệnh cần kiên nhẫn. Bác sĩ Nguyễn Văn Út cũng khuyến cáo khi phát hiện những đốm tổn thương hay những vết ngứa trên da cần đi bác sĩ ngay, không nên gãi sẽ làm vết loét rộng hơn. Khi đó, việc điều trị sẽ kéo dài, có khi hàng tháng trời, chưa kể khi lành vết thương có thể  để lại sẹo. Đặc biệt, những người thường tiếp xúc với ánh nắng mùa nóng thì vết thương càng dễ bị thâm khi lành. Ngoài ra, nên tránh dùng thức ăn kích thích, cay  nóng. khi thấy ngứa, nổi mụn thì không nên tự ý mua thuốc để uống và bôi theo kinh nghiệm bản thân hoặc do bạn bè, người thân mách bảo.

Theo Người lao động

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Những ngày qua, khí hậu các tỉnh phía Bắc trở rét, hanh khô kéo dài khiến nhiều người có biểu hiện da khô ráp, nổi sẩn và ngứa.

Bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Da liễu Quốc gia cho hay, một ngày khoa tiếp nhận trên 15 bệnh nhân đến khám liên quan đến bệnh mày đay – một bệnh thường xảy ra vào những ngày mùa đông hanh khô.

Trên thực tế số người mắc các bệnh về da vào mùa đông rất cao nhưng không phải ai cũng đến viện khám. Đây là bệnh do thời tiết nên có thể tự điều trị tại nhà.

Ngứa khắp người, gãi xước da

”Mỗi lần tắm xong, mặc quần áo vào, nhất là đồ len dạ, cảm giác người nóng ran và ngứa khắp người, những lúc đó chỉ còn cách dùng kem dưỡng ẩm bôi lên mới hy vọng dứt cơn ngứa…”, chị Mai Dung, ở Hoàng Mai, Hà Nội đang ”say sưa” kể về nỗi khổ của mình với đồng nghiệp.

Hoá ra nỗi khổ đó không chỉ riêng của chị Dung mà nhiều người cũng bị trong những ngày qua. Người thì ngứa ở lưng, ở tay, ở chân… thậm chí cả mông.

Còn bàn tay của chị Hương, chủ cửa hàng làm đầu Thu Hương trên phố Cầu Giấy, Hà Nội mấy hôm nay đỏ tấy, khô ráp và ngứa. Công việc hàng ngày đòi hỏi chị phải tiếp xúc nhiều với hoá chất như dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc, hấp tóc… khiến đôi bàn tay bị ”xâm hại”. ”Sử dụng găng tay thì không thật và làm rất chậm nhưng bỏ ra thì bàn tay nứt nẻ hết. Ban ngày động nước nhiều còn đỡ nhưng tối đến nó khô hết lại cảm giác rát bỏng và ngứa hành hạ rất khó chịu. Kem dưỡng ẩm bôi không đỡ vì thời tiết này khô hanh quá lại tiếp xúc với hoá chất quá nhiều”, chị Hương nói.

Tất cả đều có chung biểu hiện lúc đầu là khô da rồi dần dần căng ra gây ngứa. Nếu cố chịu đựng không gãi, sử dụng kem dưỡng ẩm sẽ đỡ. Nhưng khi đã gãi thì vết mẩn đỏ càng lan và gây khó chịu. Tuy nhiên, khi thời tiết ấm, đỡ hanh khô thì tình trạng trên sẽ tự hết.

BS. Nguyễn Thành cho hay, đây là bệnh rất nhiều người mắc phải vào mùa đông, nhất là thời điểm hanh khô. Những bệnh nhân có cơ địa da khô càng dễ phát. Phản ứng của người bệnh khi bị khô da là ngứa, gãi gây xước da.

Cách chữa đơn giản và hiệu quả nhất mà mọi người thường áp dụng là hạn chế sử dụng nước quá nóng, tiếp xúc với hoá chất, đặc biệt nên sử dụng kem dưỡng ẩm.

Khô ráp da còn do bệnh mày đay

Theo BS. Nguyễn Thành, một trong những nguyên nhân bệnh mày đay gia tăng những ngày qua do biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn.

Người bệnh thường có biểu hiện da đỏ, xuất hiện phù nề nhanh nhưng cũng mất nhanh phụ thuộc vào khả năng điều trị.

Bệnh mày đay có 2 thể: cấp tính và mạn tính.

Mày đay cấp tính xảy ra đột ngột và xuất hiện ở bất kỳ vùng da, niêm mạc nào trên cơ thể, biểu hiện các nốt sẩn, phù nề màu hồng hoặc đỏ. Ngứa là triệu chứng điển hình nhất của mày đay. Ngứa rất dữ dội, càng gãi càng ngứa. Có khi gãi chảy máu vẫn không đỡ ngứa. Nốt sẩn ngứa kéo dài vài ba phút đến vài ba giờ rồi lặn. Bệnh có thể biểu hiện ở đường tiêu hóa gây đau quặn bụng, nôn, tiêu chảy, thậm chí xảy ra ở tổ chức não gây phù nề rất nguy hiểm.

Mày đay mạn tính xảy ra khi bệnh xuất hiện kế tiếp nhau nhiều lần hoặc cách quãng, không kể số lượng nốt sẩn nhiều hay ít. Mày đay mạn tính gặp ở nhiều dạng khác nhau như: mày đay thành vòng, thành vạch, mày đay xuất huyết, mày đay mụn nước.

Trong tuần này, khoa khám bệnh đã điều trị cho một bệnh nhân N.T.P. 35 tuổi, ở Hà Nội mắc mày đay mạn tính. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau bụng, nôn. Các cơn đau không liên tục mà theo từng đợt. Sau khi khám và cho thuốc uống thể trạng bệnh nhân đã khá hơn và được xuất viện ngay trong ngày.

BS. Nguyễn Thành cho hay, trường hợp như bệnh nhân này không phải ai cũng gặp. Tuy nhiên, khi bị bệnh mày đay, nên đến khám bác sĩ để được xác định nguyên nhân và có chỉ định thích hợp cho từng loại mày đay.

Những ngày này, khi độ ẩm xuống thấp, thời tiết hanh khô gây khó chịu cho làn da.

BS. Nguyễn Thành có lời khuyên với mọi người, nếu phải ra đường nên dùng khẩu trang, mũ và sử dụng kem dưỡng da trước khi ra đường 1 tiếng đồng hồ. Khi thấy da khô vùng nào có thể dùng kem bôi lên chỗ đó. Nếu người nào có da nhạy cảm không nên tiếp xúc nhiều với hoá chất, nếu buộc phải dùng nên đi găng tay. Với những trường hợp nặng, nên đến khám bác sĩ khi có biểu hiện ngứa.

Theo vietnamnet.vn

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

LTS: Mới đây, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật nội soi thận trái cho bệnh nhân Hứa Cẩm Tú, trong quá trình phẫu thuật đã phát hiện chị Tú có dị tật thận hình móng ngựa và phải cắt bỏ 2 thận. Đây là một dị dạng hệ tiết niệu sinh dục rất hiếm gặp, khó chẩn đoán, đồng thời khi phẫu thuật cũng dễ gặp các biến chứng. Để giúp độc giả hiểu thêm về bệnh này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây.

Một dị tật bẩm sinh

Bệnh thận hình móng ngựa là một bệnh mà trong đó hai thận nối với nhau bởi một “eo thận giả” ở giữa tạo nên hình móng ngựa đặc trưng. Về hình dạng bên ngoài, vẫn có hai quả thận hai bên là thận trái và thận phải. Nhưng có một điều thay đổi cấu trúc là hai thận này không nằm tách bạch mỗi bên một quả như người bình thường, mà chúng lại được nối với nhau bởi một thận giả ở giữa. Sở dĩ gọi nó là eo thận giả vì phần nối tiếp này rất bé, bé hơn so với thận chính, và đồng thời nó chỉ là một nhu mô mềm như thịt mà hoàn toàn không có chức năng gì.

Thận móng ngựa trên phim chụp CT scan.

Vì hai thận này nối tiếp với nhau bởi một eo thận giả nên người ta thường gọi nó là hai thận hợp nhất. Nhưng kỳ thực thì hai thận này không hoàn toàn hợp nhất vì nó vẫn có hai bể thận, hai niệu đạo hay nói một cách khác là nó vẫn có hai đường thoát nước tiểu riêng biệt.

Bệnh thận hình móng ngựa là một dị tật bẩm sinh. Qua theo dõi y học, người ta thấy rằng dị tật này hay gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ bị bệnh thận hình móng ngựa cũng giống như các dị tật bẩm sinh khác là khá ít. Chỉ vào khoảng 1/400 – 1/800 mà thôi. Nghĩa là khoảng 400-800 trẻ em sinh ra thì có một trẻ bị bệnh.

Bệnh có nguy hiểm không?

Có thể nói rằng, sự hiện diện thêm một phần “eo thịt” thừa ấy đã không đóng góp gì thêm cho chức năng thận mà nó còn là nguyên nhân gây ra thêm bao tình trạng bệnh tật khác. Điểm lại người ta thấy, nhiều biến chứng mới xuất hiện như thận ứ nước, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ung thư thận. Điều vô cùng đáng lưu tâm là tỷ lệ bị những biến chứng này cao hơn hẳn so với người có hai quả thận tách bạch. Điều này được chứng minh bằng số liệu thống kê.
Có tới 35% người bị bệnh thận hình móng ngựa bị tắc nghẽn đường tiết niệu. Điều này không có gì là quá khó hiểu. Bởi vì sự xuất hiện eo thận giả đã đẩy điểm tiếp nối niệu quản và bể thận ở tít trên cao. Sự định cư bất thường về điểm thoát nước tiểu đã làm cho nước tiểu không được thoát ra toàn bộ. Điểm tiếp nối cao thì rõ ràng là nước tiểu không thể chảy ra hết dẫn đến những hậu quả ứ nước tiểu, nhiễm khuẩn đường tiểu.
Nếu nói về sỏi thận thì có tới 20-60% người bị thận hình móng ngựa mắc phải. Tiếp theo có khoảng 30-40% tỷ lệ bệnh nhân bị thận móng ngựa bị nhiễm khuẩn đường niệu. Tệ hại hơn, 45% ung thư biểu mô thận thuộc các trường hợp dị dạng thận hình móng ngựa. Đó là hậu quả của một loạt sự tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố như sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ứ đọng nước tiểu.

Hình ảnh thận bình thường (bên trái ảnh) và thận móng ngựa (bên phải ảnh).

Có dễ phát hiện không?

Người bị bệnh thận hình móng ngựa không dễ gì tự phát hiện ra bệnh tật của mình. Tức là người bệnh chỉ được phát hiện tình cờ hay được phát hiện khi bệnh đã điển hình. Hiếm có ai phát hiện được ở trong giai đoạn sớm. Đó là bởi vì người bệnh vẫn có hai quả thận hoạt động bình thường. Vẫn bài tiết ra nước tiểu nên ít ai nghĩ rằng mình bị thận hình móng ngựa. Nhưng khi có biến chứng rồi thì đi khám mới vỡ lẽ ra, mình bị dị tật thận từ lúc mới sinh. Người ta có thể phát hiện thận móng ngựa bằng 2 cách: khám lâm sàng bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn tiết niệu như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu máu, sốt dai dẳng… và dựa vào cận lâm sàng như Xquang, siêu âm, CT scan… có hình ảnh hình móng ngựa trên phim.

TS. Trần Các – Chủ nhiệm Khoa Ngoại tiết niệu – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết: Trên lâm sàng, các loại dị dạng thận thường gặp gồm có dị dạng về số lượng (một thận hay nhiều thận), chất lượng (dị dạng phát triển thận, nhu mô thận phát triển không bình thường gọi là thiểu sản thận), dị dạng vị trí (thận lạc chỗ), thận di cư vị trí (chẳng hạn niệu quản không đổ vào bàng quang mà đổ vào âm đạo).
Thận móng ngựa là một dị dạng về hình thái thận. Có thể xác định thận móng ngựa bằng chụp cản quang, chụp CT scan. Ðối với người bệnh có thận móng ngựa, nếu không có bệnh lý kèm theo thì không cần phải điều trị gì. Tuy nhiên trên thực tế, người có thận móng ngựa là hai quả thận dính nhau bởi eo thận nên dễ mắc các bệnh về thận hơn những người bình thường. Tùy theo bệnh lý thận mắc phải mà có những biện pháp điều trị phù hợp.

BS. Yên Lâm Phúc (Học viện Quân y)

Nguồn: Suckhoedoisong

 

Thực đơn dưỡng thận

Thực đơn dưỡng thận

Làm thế nào để người chưa suy thận có thể bảo vệ được quả thận của mình? Người suy thận nhẹ không tiến triển thành suy thận nặng? Người suy thận nặng không tiến triển sang giai đoạn cuối? Người đang lọc thận sống khoẻ với liệu pháp điều trị của mình?

Một thực đơn tốt cho thận phải bảo đảm không quá nhiều đạm và muối. Ảnh: Hồng Thái

Thận có ba chức năng chính: thải độc đặc biệt là urê; điều hoà huyết áp và tạo máu; tạo xương. Vì vậy khi suy thận sẽ có các biểu hiện liên quan đến ba chức năng này: ngộ độc urê, cao huyết áp, thiếu máu và loãng xương.

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống khoa học, sẽ góp phần phòng ngừa bệnh thận cũng như làm chậm tiến triển của bệnh.

Đối với quả thận mạnh lành

70% bệnh nhân suy thận là do bệnh cao huyết áp và tiểu đường, vì vậy cần tránh lối sống nguy cơ cao như hút thuốc , uống rượu, ít vận động, ăn mặn, ăn nhiều chất béo.

Nên có nếp sống điều độ, ăn 3 – 4 bữa mỗi ngày, không bao giờ để bị quá đói và không nên ăn quá no. Tăng vận động mỗi ngày bằng mọi hình thức khi có thể như đi bộ thay vì đi xe máy, leo cầu thang thay vì đi thang máy… hoặc có một hình thức vận động đều đặn mỗi ngày như đi bộ, tập dưỡng sinh, khiêu vũ… Nên kiểm tra sức khoẻ định kỳ để tầm soát căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, biểu hiện sớm của suy thận như microalbumin. Khi dùng thuốc nên xin ý kiến bác sĩ điều trị về ảnh hưởng của thuốc đối với thận, không nên tự ý dùng thuốc. Nếu đã mắc bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bạn cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng và điều trị một cách nghiêm ngặt.

Thông thường, một chế độ ăn không quá nhiều đạm (0,8 – 1g/kg/ngày), muối ở mức cho phép (3 – 5g muối/ngày) sẽ có lợi cho quả thận của bạn. Với thói quen ăn 3 – 4 lần/tuần các loại thực phẩm có độ đạm thấp như miến dong, bột báng, các sản phẩm từ bột năng như bánh canh, bánh bột lọc, súp măng cua… bạn đã giúp quả thận của mình được giảm tần suất làm việc độ 20 – 30%.

Không quên nhắc bác sĩ điều trị về lợi ích bảo vệ thận của thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế Angiotensin trong điều trị cao huyết áp, đặc biệt nếu bạn bị tiểu đường, cao huyết áp.

Bảo vệ quả thận đã thương tổn

Chán ăn là biểu hiện phổ biến ở bệnh nhân suy thận. Và đây là nguyên nhân chính làm bệnh nhân ăn không đủ năng lượng nhu cầu, buộc cơ thể phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ do thoái hoá đạm từ các khối cơ và hậu quả là tăng sản xuất urê, một độc tố cần được thải ra khỏi cơ thể qua thận. Do vậy, người suy thận phải tăng đậm độ năng lượng khẩu phần từ các nguồn béo tinh bột không chứa đạm; giảm lượng đạm từ ngũ cốc, tăng lượng thực phẩm chứa đạm có giá trị sinh học cao như trứng, sữa, thịt, cá, đậu hũ; thải bớt natri, kali, phốtpho trong thực phẩm khi chế biến; giảm muối.

Làm thế nào biết mình suy thận?

Ở giai đoạn rất sớm là tổn thương nhu mô thận, người suy thận không hề có triệu chứng gì trừ triệu chứng tiểu đạm vi thể (microalbumin). Khi chức năng thận còn dưới 10% thì mới có biểu hiện rõ ràng như tiểu nhiều, thiếu máu, phù, cao huyết áp, mau mệt, chán ăn. Giai đoạn cuối của suy thận, bệnh nhân tiểu ít hoặc không tiểu, lúc này người bệnh cần được cung cấp liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận để duy trì sự sống.

Để tăng đậm độ năng lượng khẩu phần và giảm lượng đạm từ ngũ cốc, người suy thận nên thay những món ăn luộc, kho bằng những món xào chiên hoặc tẩm bột chiên. Có một bữa ăn trong ngày sử dụng miến dong hoặc các sản phẩm từ bột lọc (như thay một tô phở gà bằng một tô miến gà). Hoặc vào các bữa ăn phụ nên chọn bánh bột lọc, súp măng cua, bột sắn dây pha đường. Nếu bạn chỉ quen ăn cơm thì có thể nấu cơm độn miến với công thức 200g gạo, 100g miến: miến ngâm nước cho mềm cắt thành sợi ngắn độ 0,5cm để ráo, khi cơm sôi đổ miến vào ghế đều. Với một chén cơm độn miến (có 4,1g đạm) thay cho chén cơm thường (có 5,9g đạm), bạn đã giảm được 1,8g đạm. Với lượng đạm giảm này, bạn có thể ăn thêm nửa hũ yaourt, một cái trứng cút là các thực phẩm có giá trị sinh học cao.

Để thải bớt kali, phốtpho, natri: các loại rau củ nên cắt nhỏ, ngâm nước, luộc với nhiều nước (gấp 5 – 10 lượng rau củ), đổ nước và chỉ ăn xác.

Để giảm muối: ngoài lượng muối tự nhiên trong thực phẩm (trung bình 2g/ngày), lượng muối có thể dùng để nêm và ăn thêm mỗi ngày 3g tức một muỗng gạt càphê muối, ba muỗng canh nước mắm (13ml) hoặc năm muỗng canh nước tương (20ml). Lượng nước uống bằng lượng nước tiểu trong ngày cộng 500ml.

Bệnh nhân có quả thận bị tổn thương nặng, cần sử dụng các liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận… cũng ăn uống như bệnh nhân có thương tổn thận nhưng cần nghiêm ngặt hơn vì nguy cơ thừa nước, muối, kali cao có thể dẫn đến tử vong. Tốt nhất, các trường hợp này cần được tư vấn trực tiếp của bác sĩ để xây dựng thực đơn cụ thể phù hợp với phương pháp điều trị.

TS.BS Tạ Thị Tuyết Mai – Trưởng khoa dinh dưỡng, bệnh viện nhân dân Gia Định, TPHCM

Theo Cẩm nang gia đình

Mất nước

Mất nước

Mất nước! Khô miệng, buồn ngủ và mệt mỏi, khát nước, giảm lượng nước tiểu, khóc không nước mắt hoặc rất ít, cơ yếu, nhức đầu, chóng mặt, nhầm lẫn…Nếu nghiêm trọng: Khô da – miệng, thiếu mồ hôi, khát tột cùng, mắt trũng, nhịp tim nhanh, sốt, mê sảng hoặc bất tỉnh…

Định nghĩa

Mất nước xảy ra khi bị mất nhiều chất lỏng hơn đi vào, và cơ thể không có đủ nước và các chất lỏng khác để thực hiện chức năng bình thường của nó. Nếu không bổ sung chất lỏng bị mất, có thể phải chịu hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân thường gặp của mất nước bao gồm tiêu chảy dữ dội, nôn mửa, sốt hoặc đổ mồ hôi quá nhiều. Không đủ lượng nước trong thời tiết nóng hoặc tập thể dục cũng có thể gây mất nước. Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước, nhưng trẻ nhỏ, người cao niên và những người có bệnh mãn tính có nguy cơ cao nhất.

Thường có thể đảo ngược nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách tăng lượng chất lỏng, nhưng mất nước nặng cần điều trị y tế ngay lập tức. Phương pháp an toàn nhất là phòng ngừa mất nước. Trong thời tiết nóng, bệnh tật hoặc tập thể dục và uống chất lỏng đủ để thay thế những gì mất.

Các triệu chứng

Mất nước nhẹ đến vừa phải có thể gây ra:

- Khô, dính miệng.

- Buồn ngủ hoặc mệt mỏi – trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

- Khát.

- Giảm lượng nước tiểu – ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

- Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

- Cơ yếu.

- Nhức đầu.

- Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

- Khát tột cùng.

- Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

- Rất khô miệng, da và màng nhầy.

- Thiếu ra mồ hôi.

- Đi tiểu ít hoặc không có – bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

- Mắt trũng.

- Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

- Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng – sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

- Huyết áp thấp.

- Nhịp tim nhanh.

- Sốt.

- Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Thật không may, khát không phải là luôn luôn là một thước đo đáng tin cậy cần thiết của cơ thể đối với nước, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi. Một thước đo tốt hơn là màu của nước tiểu: Trong hoặc màu nước tiểu ánh sáng có nghĩa là cũng đang ngậm nước, trong khi một màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách thường là tín hiệu mất nước.

Nếu là một người lớn khỏe mạnh,  thường có thể xử lý nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách uống chất lỏng nhiều hơn nữa. Nhận chăm sóc y tế ngay nếu phát triển các dấu hiệu nặng và các triệu chứng như khát cùng cực, không đi tiểu được tám giờ, héo da, chóng mặt và nhầm lẫn.

Hãy đối xử với trẻ em và người lớn tuổi thận trọng hơn. Gọi cho bác sĩ gia đình ngay nếu trẻ:

- Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

- Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

- Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

- Không thể uống chất lỏng.

- Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

- Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Tới phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc gọi số khẩn cấp y tế nếu  nghĩ rằng một đứa trẻ hoặc người lớn tuổi mất nước nặng. Có thể giúp ngăn ngừa mất nước trở nên trầm trọng bằng cách cẩn thận theo dõi một người mắc bệnh và dùng dịch khi dấu hiệu đầu tiên của bệnh tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt và bằng cách khuyến khích trẻ em uống thật nhiều nước trước, trong và sau khi tập thể dục.

Nguyên nhân

Nước là thiết yếu cho đời sống con người: Nó tạo cơ sở cho tất cả các dịch cơ thể, bao gồm cả máu và nước tiêu hóa, nó viện trợ trong việc vận chuyển và hấp thụ các chất dinh dưỡng và nó giúp loại bỏ chất thải.

Nếu là một người lớn trung bình, mỗi ngày bị mất nhiều hơn gần 2,5 lít nước, đơn giản bằng cách ra mồ hôi, hơi thở và loại bỏ chất thải. Cũng bị mất điện giải – khoáng chất như natri, kali và canxi mà duy trì sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể. Thông thường,  có thể bổ sung những gì đã mất đi thông qua các loại thực phẩm và chất lỏng tiêu thụ, thậm chí khi đang hoạt động.

Nhưng khi loại bỏ nhiều nước hơn và các muối hơn thay thế, kết quả mất nước. Đôi khi xảy ra mất nước vì lý do đơn giản:  Không uống đủ bởi vì đang bị bệnh hoặc bận rộn, hay vì thiếu tiếp cận với nước uống khi đang đi du lịch, leo núi hoặc cắm trại.

Nguyên nhân mất nước khác bao gồm:

Tiêu chảy, ói mửa. Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Sốt. Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi.   Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Tăng đi tiểu. Điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể  sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường , đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Bỏng. Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước nếu sự mất mát chất lỏng vượt quá lượng nước nhận. Nhưng một số người có nguy cơ lớn hơn, bao gồm:

Trẻ sơ sinh và trẻ em. Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Người lớn tuổi. Lớn tuổi, trở nên dễ bị mất nước vì nhiều lý do: Cơ thể giảm khả năng để bảo tồn nước, cảm giác khát trở nên ít cấp tính và ít có khả năng đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ. Hơn nữa, người lớn tuổi, đặc biệt là những người trong nhà điều dưỡng hoặc sống một mình có xu hướng ăn ít hơn người trẻ tuổi và đôi khi có thể quên ăn hoặc uống hoàn toàn. Những vấn đề phức tạp bởi bệnh mãn tính như tiểu đường, thay đổi hoóc môn liên quan đến thời kỳ mãn kinh và do việc sử dụng các loại thuốc nhất định.

Những người có bệnh mãn tính. Có bệnh tiểu đường không kiểm soát được hoặc không được điều trị có nguy cơ cao mất nước. Nhưng căn bệnh mãn tính khác cũng làm cho nhiều khả năng trở thành mất nước. Chúng bao gồm bệnh thận, xơ nang, nghiện rượu và các rối loạn tuyến thượng thận. Thậm chí cảm lạnh hoặc đau cổ họng làm cho dễ bị mất nước vì ít ăn hoặc uống khi đang bị bệnh. Sốt làm tăng mất nước nhiều hơn.

Số lượng vận động. Bất cứ ai có thể trở thành mất nước, nhất là trong nóng, điều kiện ẩm ướt hoặc ở độ cao. Nhưng vận động viên đào tạo cho và tham gia ultramarathons, triathlons, leo núi thám hiểm và các giải đấu đi xe đạp có nguy cơ đặc biệt cao. Trong thời gian tập thể dục, cơ thể có thể hấp thụ khoảng 24 – 32 ounces nước một giờ, nhưng có thể mất hai lần đó trong thời tiết nóng. Mất nước cũng tích lũy trong một khoảng thời gian, có nghĩa là có thể trở nên mất nước với ngay cả tập thể dục vừa phải thường xuyên nếu không uống đủ để thay thế những gì bị mất trên một cơ sở hàng ngày.

Những người sống ở độ cao cao. Sống, làm việc và thực hiện ở độ cao cao (khoảng 2.400 đến 3.600 mét) hoặc độ cao rất lớn (khoảng 3.600 đến 5.400 mét) có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe . Một là mất nước, mà thường xảy ra khi cơ thể cố gắng để thích nghi với cao độ thông qua việc đi tiểu nhiều hơn và thở nhanh – để duy trì nồng độ oxy trong máu đầy đủ.

Các biến chứng

Mất nước có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng .

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ thường có thể chẩn đoán mất nước trên cơ sở các dấu hiệu và triệu chứng thể chất như đi tiểu ít hoặc không có, mắt trũng và làn da thiếu độ đàn hồi bình thường của nó và khả năng phục hồi khi bị chèn ép. Nếu đang mất nước, cũng có thể có huyết áp thấp, đặc biệt là khi di chuyển từ một vị trí nằm và đứng, nhịp tim nhanh hơn bình thường và lưu lượng máu giảm xuống.

Để giúp xác định chẩn đoán và xác định mức độ mất nước, có thể có các xét nghiệm khác, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Đây có thể được sử dụng để kiểm tra chất điện giải, đặc biệt là natri và kali, để tìm những dấu hiệu cô đặc máu và để đánh giá thận đang làm việc như thế nào.

Phân tích nước tiểu. Các màu sắc và độ trong của nước tiểu, sự hiện diện của các hợp chất carbon (xeton) và trọng lượng riêng nước tiểu, khối lượng của nước tiểu so với khối lượng của nước cất – tất cả chỉ giúp phân độ. Một tỷ trọng cao, chỉ ra mất nước đáng kể.

Nếu nó không rõ ràng lý do tại sao đang mất nước, bác sĩ có thể tự thêm các xét nghiệm để kiểm tra bệnh tiểu đường và cho gan hoặc vấn đề về thận.

Phương pháp điều trị và thuốc

Các chỉ dẫn hiệu quả điều trị mất nước là để thay thế chất dịch bị mất và điện giải bị mất. Cách tiếp cận tốt nhất để điều trị mất nước phụ thuộc vào tuổi, mức độ mất nước  và nguyên nhân của nó.

Điều trị mất nước ở trẻ em bị bệnh

Bác sĩ có thể cung cấp các đề xuất cụ thể để điều trị mất nước ở trẻ em, nhưng một số hướng dẫn chung bao gồm:

Sử dụng một giải pháp bù nước đường uống. Trừ khi bác sĩ khuyên nếu không hãy sử dụng một giải pháp bù nước đường uống như Pedialyte cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Những giải pháp này có chứa nước và muối theo tỷ lệ cụ thể để bổ sung cả chất lỏng và chất điện giải. Nó cũng có chứa glucose hay carbohydrate khác như gạo bột để tăng cường sự hấp thụ trong đường ruột. Các sản phẩm uống bù nước đang có sẵn trong hầu hết các nhà thuốc và nhiều thuốc mang thương hiệu riêng. Bắt đầu bù dịch khi khởi đầu quá trình bệnh tật thay vì chờ cho đến khi tình hình trở nên cấp bách.

Trong hầu hết các nước đang phát triển, có thể mua các gói bột uống của một giải pháp bù nước, WHO – ORS, ban đầu được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới để điều trị tiêu chảy và mất nước ở trẻ sơ sinh với bệnh tả. Bột trong nước theo các chỉ dẫn trên bao bì. Luôn làm sạch nước bằng cách đun sôi, lọc hoặc các phương pháp đã được chứng minh khác. Đo lượng nước, sau đó thêm các vật liệu dạng bột uống bù nước.

Trong một tình huống khẩn cấp một giải pháp xây dựng không có sẵn, có thể tạo riêng giải pháp bù nước qua miệng bằng cách trộn 1 / 2 muỗng cà phê muối, 1 / 2 muỗng cà phê baking soda, 3 muỗng canh đường và 1 lít nước. Hãy chắc chắn để đo lường một cách chính xác bởi vì không chính xác có thể làm cho giải pháp kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại. Nếu có thể, có một người nào khác kiểm tra các phép đo cho chính xác.

Bất cứ điều gì khác đã chọn, hãy chắc chắn để cung cấp cho giải pháp đủ. Bác sĩ có thể đề nghị cụ thể, tùy thuộc vào tuổi của trẻ và mức độ mất nước, nhưng một quy luật chung để giữ cho các chất lỏng từ từ cho đến khi nước tiểu của con trở nên rõ ràng trong màu sắc. Khi trẻ nôn mửa, hãy thử cho một lượng nhỏ dung dịch trong khoảng thời gian thường xuyên – 1 muỗng cà phê mỗi phút. Nếu trẻ không thể uống, chờ đợi 30 – 60 phút và thử lại. Nhiệt độ dịch giữ sao cho được tốt nhất.

Tiếp tục để nuôi con bằng sữa mẹ. Không ngừng cho con bú khi bé bị ốm, nhưng thêm một giải pháp bù nước đường uống là tốt. Nếu quý vị cho sữa bột trẻ em, hãy thử chuyển sang một trong đó là lactose, cho đến khi tiêu chảy cải thiện, lactose có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Không bao giờ công thức pha loãng hơn hướng dẫn tư vấn. Bác sĩ cũng có thể đề xuất thay thế một giải pháp bù nước uống cho các công thức cho 12 – 24 giờ.

Tránh một số loại thực phẩm và thức uống. Các chất lỏng tốt nhất cho một đứa trẻ bị bệnh là một giải pháp bù nước đường uống, nước tinh khiết không cung cấp điện giải cần thiết, và mặc dù thức uống thể thao bổ sung chất điện giải thay thế những người bị mất qua mồ hôi, không phải thông qua tiêu chảy hoặc nôn mửa. Tránh cho trẻ em  đồ mặn, sữa đặc biệt là đun sôi sữa – nước ngọt, nước trái cây hoặc keo động vật, không làm giảm mất nước và có thể làm triệu chứng nặng hơn.

Điều trị mất nước ở người lớn bị bệnh

Hầu hết người lớn bị mất nước nhẹ đến trung bình từ tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Có thể cải thiện tình trạng của họ bằng cách uống nhiều nước hơn. Nước là tốt nhất bởi vì các chất lỏng khác, chẳng hạn như nước quả, đồ uống có ga hay cà phê có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn.

Điều trị mất nước ở các vận động viên thuộc mọi lứa tuổi

Đối với tập thể dục liên quan đến mất nước. Thức uống thể thao có chứa điện giải và một giải pháp carbohydrate cũng có thể hữu ích. Không cần cho thuốc viên muối – quá nhiều muối có thể dẫn đến mất nước tăng natri huyết, một tình trạng mà cơ thể không chỉ là thiếu nước mà còn quá nhiều natri.

Điều trị mất nước trầm trọng

Trẻ em và người lớn, những người mất nước nặng cần được điều trị bởi nhân viên cấp cứu đến trong xe cứu thương hoặc trong một phòng cấp cứu bệnh viện, nơi họ có thể nhận được muối và các chất lỏng thông qua một tĩnh mạch hơn là bằng miệng. Tĩnh mạch hydrat hóa cung cấp cho cơ thể nước và chất dinh dưỡng cần thiết nhanh hơn nhiều so với các giải pháp uống – cái gì đó là cần thiết trong các tình huống đe dọa tính mạng.

Phòng chống

Để ngăn ngừa mất nước, tiêu thụ nhiều chất lỏng và các thực phẩm giàu nước như trái cây và rau quả. Chất lỏng có thể thu được không chỉ từ nước mà còn từ đồ uống và thực phẩm khác. Nhưng, nếu đang tập thể dục, không chờ đợi cho khát để theo kịp với chất dịch mất.

Một số trường hợp, có thể cần phải thực hiện trong chất lỏng nhiều hơn bình thường:

Bệnh tật. Bắt đầu cho thêm nước hoặc bù nước qua một giải pháp tại các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tật, không chờ đợi cho đến khi mất nước xảy ra. Và mặc dù có vẻ hấp dẫn, chất lỏng truyền thống như rượu bia gừng hoặc nước ngọt khác lại chứa quá nhiều đường và natri quá ít để bổ sung chất điện giải bị mất.

Tập thể dục. Nói chung, tốt nhất bắt đầu uống nước ngay trước khi tập thể dục vất vả. Sản xuất nhiều và pha loãng nước tiểu là một dấu hiệu tốt. Hai giờ trước khi một sự chịu đựng như một marathon, uống 2 ly nước. Một đến 2 ly nước đầy đủ thường trước khi tập thể dục ngắn hơn. Trong thời gian hoạt động, bổ sung chất lỏng ở các khoảng thời gian và tiếp tục uống nước hoặc chất dịch khác sau khi hoàn tất.

Hãy ghi nhớ rằng uống quá nhiều không chỉ có thể gây đầy hơi và khó chịu, mà có thể dẫn đến một tình trạng thể gây tử vong, trong đó natri máu  trở nên quá thấp. Điều này xảy ra khi uống nước nhiều hơn bị mất qua mồ hôi.

Môi trường. Cần uống nước bổ sung trong thời tiết nóng hoặc ẩm để giúp giảm nhiệt độ cơ thể và để thay thế những gì bị mất qua mồ hôi. Cũng có thể cần thêm nước trong thời tiết lạnh, nếu  đổ mồ hôi trong khi mặc quần áo cách nhiệt. Nước nóng, không khí trong nhà có thể gây ra làn da bị mất độ ẩm, tăng yêu cầu hàng ngày của chất dịch. Và độ cao lớn hơn 2.500 mét cũng có thể ảnh hưởng đến bao nhiêu nước cơ thể cần. Nếu mất nước xảy ra khi đang tập thể dục trong thời tiết nóng, vào một khu vực râm và bắt đầu bù nước.

Theo Dieutri.vn

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận! Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Định nghĩa

Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Một bệnh thận đòi hỏi phải được chăm sóc y tế . Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận, lây lan đến máu và gây ra nhiễm trùng đe dọa tính mạng.

Nhiễm trùng thận điều trị thường bao gồm thuốc kháng sinh và thường đòi hỏi phải nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận có thể bao gồm:

Sốt.

Đau bên (sườn) hoặc háng.

Đau bụng.

Thường xuyên đi tiểu.

Mạnh mẽ, liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Cảm giác nóng hoặc đau khi đi tiểu.

Mủ hoặc máu trong (tiểu máu) nước tiểu.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Cũng làm cho một cuộc hẹn nếu đang điều trị cho một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng không được cải thiện.

Nhiễm trùng thận nặng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có triệu chứng nhiễm trùng thận điển hình kết hợp với nước tiểu có máu hay buồn nôn và ói mửa.

Nguyên nhân

Nhiễm trùng thận thường xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Vi khuẩn từ một bệnh nhiễm trùng ở nơi khác trong cơ thể cũng có thể lan truyền qua máu đến thận. Nhiễm trùng thận là bất thường thông qua tuyến đường này, nhưng nó có thể xảy ra trong một số trường hợp – ví dụ, khi một cơ quan ngoại lai, chẳng hạn như khớp nhân tạo, van tim bị nhiễm bệnh. Hiếm khi kết quả nhiễm trùng sau khi phẫu thuật thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thận bao gồm:

Nữ – giải phẫu. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thận hơn so với nam giới. Một người phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nhiều so một người đàn ông, do đó, vi khuẩn có ít khoảng cách để di chuyển từ bên ngoài cơ thể đến bàng quang. Những nơi gần niệu đạo vào âm đạo và hậu môn cũng tạo ra nhiều cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. Một khi một bệnh nhiễm trùng trong bàng quang có thể lây lan đến thận.

Tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Bất cứ điều gì cản trở dòng chảy của nước tiểu, làm giảm khả năng hoàn toàn trống rỗng bàng quang khi đi tiểu, chẳng hạn như sỏi thận, bất thường cấu trúc trong hệ thống tiết niệu, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận.

Làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều kiện y tế làm suy yếu hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như ung thư, tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch vi rút ở người (HIV), làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Một số thuốc như thuốc dùng để ngăn chặn từ chối của các cơ quan cấy ghép có tác dụng tương tự.

Thiệt hại cho dây thần kinh xung quanh bàng quang. Dây thần kinh hoặc tổn thương tủy sống có thể ngăn chặn các cảm giác của một nhiễm trùng bàng quang, để không biết khi nó tiến tới một bệnh nhiễm trùng thận.

Kéo dài việc sử dụng một ống thông tiểu. Ống thông tiểu là ống dùng để thoát nước tiểu từ bàng quang. Có thể có một ống thông được đặt trong bàng quang  trong và sau khi một số thủ tục phẫu thuật và xét nghiệm chẩn đoán. Một ống thông có thể được sử dụng liên tục.

Một điều kiện mà nguyên nhân nước tiểu chảy không đúng cách. Trong trào ngược bàng quang niệu quản (vesicoureteral), số nhỏ dòng nước tiểu từ bàng quang trở lại lên niệu quản và thận. Những người bị trào ngược vesicoureteral có thể bị nhiễm trùng thận thường xuyên trong thời thơ ấu và có nguy cơ cao mắc bệnh thận trong cả tuổi thơ và tuổi trưởng thành.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh nhiễm trùng thận có thể dẫn đến khả năng biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Suy thận. Một bệnh thận có thể dẫn đến tổn thương thận thường là nguyên nhân gây suy thận mãn tính.

Ngộ độc máu (nhiễm trùng huyết). Thận lọc chất thải khỏi máu và sau đó trở lại trong máu với phần còn lại của cơ thể. Nếu có một nhiễm trùng thận, vi khuẩn có thể lây lan.

Biến chứng mang thai. Phụ nữ phát triển một nhiễm trùng thận trong thai kỳ có thể có tăng nguy cơ mang thai em bé nhẹ cân.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể nghi ngờ có một nhiễm trùng thận dựa trên dấu hiệu và triệu chứng như sốt và đau lưng. Nếu bác sĩ nghi ngờ có mắc bệnh thận, người đó có thể sẽ yêu cầu một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Thuốc kháng sinh cho bệnh thận

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thận. Những loại thuốc sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe   và các vi khuẩn tìm thấy trong xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận bắt đầu rõ ràng thuyên giảm trong vòng một vài ngày điều trị. Nhưng có thể cần phải tiếp tục dùng kháng sinh cho một tuần hoặc lâu hơn. Dùng toàn bộ khóa điều trị của thuốc kháng sinh được đề nghị của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn loại bỏ.

Các bệnh nhiễm trùng thận nặng

Đối với một nhiễm trùng thận nặng, bác sĩ có thể thừa nhận đến bệnh viện . Điều trị ở bệnh viện có thể bao gồm thuốc kháng sinh nhận được thông qua một tĩnh mạch ở cánh tay (tĩnh mạch). Bao lâu sẽ ở lại trong bệnh viện phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng.

Điều trị các bệnh nhiễm trùng thận tái phát

Khi nhiễm trùng thận tái diễn thường xuyên hoặc nhiễm trùng sẽ trở thành mãn tính, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế của một chuyên gia có thể xác định nguyên nhân tiềm ẩn và có khả năng điều trị được.

Nhiễm trùng thận thường xuyên có thể là kết quả của một vấn đề y tế cơ bản, chẳng hạn như là một sự bất thường về cấu trúc. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia thận (nephrologist) hoặc bác sĩ phẫu thuật tiết niệu thẩm định để xác định xem bất thường tiết niệu có thể gây ra nhiễm trùng. Một bất thường cấu trúc có thể cần phải được phẫu thuật sửa chữa.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để giảm đau hoặc khó chịu khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng thận, cố gắng:

Áp dụng nhiệt. Đặt một miếng đệm nóng trên lưng, bụng hoặc phía bên để làm giảm cảm giác áp lực hoặc đau đớn.

Sử dụng thuốc giảm đau. Đối với sốt hoặc khó chịu, một thuốc giảm đau có chứa acetaminophen (Tylenol…) không aspirin theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc có một toa thuốc bác sĩ cung cấp.

Uống nước. Uống nhiều nước sẽ giúp đỡ để tuôn vi khuẩn ra từ đường tiết niệu. Tránh các loại nước ép cam quýt, cà phê, rượu và nước giải khát có caffein cho đến khi bệnh đã xóa. Những sản phẩm này có thể làm trầm trọng thêm nhu cầu thường xuyên cấp bách để đi tiểu

Phòng chống

Giảm nguy cơ mắc bệnh thận bằng cách thực hiện những bước để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ, đặc biệt có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu nếu họ:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng có thể giúp loại bỏ vi khuẩn ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Đi tiểu thường xuyên. Tránh giữ lại khi cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu.

Rỗng bàng quang sau khi giao hợp. Đi tiểu càng sớm càng tốt sau khi giao hợp sẽ giúp cho sạch vi khuẩn từ niệu đạo, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Lau sạch cẩn thận. Đối với phụ nữ, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu và sau khi đi tiêu giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong khu vực hậu môn lan sang niệu đạo.

Rửa nhẹ nhàng. Rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn một cách cẩn thận mỗi ngày. Nhưng không sử dụng xà phòng mạnh hoặc rửa mạnh mẽ. Làn da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Tránh sử dụng các sản phẩm phụ nữ ở vùng sinh dục . Sử dụng các sản phẩm nữ tính, chẳng hạn như thuốc xịt khử mùi hoặc douches, trong khu vực bộ phận sinh dục có thể kích thích niệu đạo.

Theo Dieutri.vn

Bệnh lí thận AGL (bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận AGL ( bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận IgA có thể xảy ra ở những người ở tất cả các độ tuổi, nhưng thường ảnh hưởng nhất ở tuổi thiếu niên và sau 30 tuổi.

  Các tên tiếng anh

Nephropathy – IgA; Berger’s disease

Định nghĩa

Bệnh lí thận IgA là một rối loạn đặc trưng bởi sự có mặt của máu trong nước tiểu. Bệnh gây ra do sự viêm các kết cấu bên trong của thận và sự lắng đọng của các kháng thể IgA trong mô thận

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc và yếu tố có tính nguy cơ (mắc bệnh)

Bệnh lí thận kháng nguyên IgA (bệnh Berger’s) là một dạng của viêm tăng nhanh ở màng nâng cuộn mao mạch tiểu cầu. Ở bệnh này các kết cấu trong thận được gọi là các cuộn tiểu cầu bị viêm, và một loại của kháng thể được gọi là IgA lắng đọng trong thận. Rối loạn có thể xuất hiện ở dạng cấp, tiến triển nhanh chóng, hay viêm cuộn tiểu cần thận mãn, hay có biểu hiện rõ ràng, hay có máu trong nước tiểu.

Bệnh lí thận IgA thường được phát hiện sau một số các giai đoạn nước tiểu có màu sậm hay có máu ở nguời không có triệu chứng của rối loạn về thận. Nước tiểu có máu có thể bắt đầu sớm hơn hay trong khi nhiễm trùng hô hấp. Hội chứng thận hư cấp hay mãn (nhóm các triệu chứng liên quan tơi hoạt động sụt giảm của thận) có thể xảy ra.

Các yếu tố có tính nguy cơ bao gồm lịch sử cá nhân hay gia đình mắc bệnh lí thận IgA hay mắc bệnh Henoch Schonlein purpura (một dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các cơ quan của cơ thể, và có thể gây ra một thương tổn ở thận gi ống hệt với tổn thương ở bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận IgA có thể xảy ra ở những người ở tất cả các độ tuổi, nhưng thường ảnh hưởng nhất ở tuổi thiếu niên và sau 30 tuổi.

 

Hình dạng tiêu biểu của một quả thận, các mạch máu có màu đỏ, dòng nước tiểu được minh họa bằng màu vàng

Các triệu chứng

  • Các thay đổi trong màu của nước tiểu-có máu, sậm, nâu hay màu đỏ nhạt
  • Nước tiểu có máu hay sẫm lặp lại ở các giai đoạn.

Các dấu hiệu và các xét nghiệm .

Không có thay đổi cụ thể nào được phát hiện trong khi thăm khám sức khỏe . thông thường, áp lực máu có thể bị nâng lên hay phù trên có thể có thể xuất hiện.

  • Phân tích nước tiểu cho thấy máu và các cặn lắng của hồng cầu, và có thể cho thấy có protein và các chất béo.
  • Sinh thiết thận cho thấy sự lắng đọng của các kháng thể IgA và sẽ xác thực chuẩn đoán.
  • Xét nghiệm glubin miễn dịch nước tiểu cho thấy các kháng thể của IgA

Điều trị

 Mục tiêu của điều trị là làm dịu đi các triệu chứng và ngăn chặn hay trì hoãn suy thận mãn

Các thuốc hạ huyết áp và thuốc lợi tiểu có thể được kê để kiểm soát cao huyết áp và phù nề. Kiểm soát huyết áp là cách thức quan trọng nhất để trì hoãn sự hư hại về thận. Muối ăn và các thức uống có thể bị giới hạn để kiểm soát phù. Một chế độ ăn có protein ở mức vừa phải có thể được yêu cầu ở một số các ca bệnh.

Sử dụng các thuốc ức chế ACE là chìa khóa để ngăn chặn bệnh này xấu đi. Các thuốc Corticosteroid hay các thuốc ức chế miễn dịch khác, dầu cá cũng được sử dụng để điều trị rối loạn này.

Các nhóm hỗ trợ

Hiện Việtnam đang rất thiếu các nhóm hỗ trợ như thế này, hi vọng bệnh nhân đọc xong bài này sẽ để lại thông tin để chúng tôi có thể liên lạc hoặc tìm cách giúp đỡ các bạn. đường link sau sẽ giúp các bạn tìm hiểu thông tin kĩ lương hỡn về bệnh này đó là website của mạng lưới hỗ trợ bệnh lí thận IgA http://www.igansupport.org/ ).

Tiên lượng

Bệnh lí thận IgA tiến triển từ từ. Ở nhiều trường hợp, nó không tiến triển gì hết. Huyết áp cao, số lượng lớn của protein trong nước tiểu, và mức BUN (nito ure máu) hay creatinine tăng lên(các xét nghiệm máu phản ảnh chức năng thận) cho thấy nguy cơ tiến triển rối loạn (theo hướng xấu đi) là cao hơn.

Khoảng 25% người bệnh mắc bệnh lí thận IgA tiến triển đến suy thận gia đoạn cuối trong khoảng 25 năm.

Các biến chứng

  • Suy thận mãn
  • Bệnh thận giai đoạn cuối

Gọi tới chuyên gia chăm sóc y tế của bạn

Hãy gọi tới chuyên gia chăm sóc y tế của bạn nếu bạn có nước tiểu có máu hay nếu lượng nước tiểu của bạn sụt giảm.

Theo benhthan.com

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang! Đái rắt, nóng rát khi đi tiểu, máu trong nước tiểu, nước tiểu đục hoặc múi mạnh, khó chịu vùng xương chậu, sốt nhẹ, đái dầm ở trẻ nhỏ…Gặp bác sỹ nếu: Đau bên hông, sốt và ớn lạnh, buồn nôn và ói mửa…

Định nghĩa

Viêm bàng quang là một thuật ngữ y tế. Hầu hết trường hợp viêm là do vi khuẩn, nó có thể được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI). Nhiễm trùng bàng quang có thể đau và khó chịu, và có thể trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu nhiễm trùng lan đến thận.

Ít phổ biến hơn, viêm bàng quang có thể xảy ra như là một phản ứng đối với một số loại thuốc , liệu pháp bức xạ hoặc chất kích thích tiềm năng, chẳng hạn như phun vệ sinh phụ nữ, thuốc diệt tinh trùng hoặc sử dụng lâu dài của một ống thông. Viêm bàng quang cũng có thể xảy ra như là một biến chứng của bệnh khác.

Việc điều trị thông thường cho vi khuẩn viêm bàng quang là thuốc kháng sinh. Điều trị cho các loại viêm bàng quang phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng viêm bàng quang thường bao gồm:

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Một cảm giác nóng rát khi đi tiểu.

Thường xuyên đi một lượng nhỏ nước tiểu.

Máu trong nước tiểu.

Nước tiểu đục hoặc có mùi mạnh.

Khó chịu ở vùng xương chậu.

Một cảm giác áp lực ở bụng dưới.

Sốt nhẹ.

Ở trẻ nhỏ, đái dầm cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) – đặc biệt là nếu đái dầm xảy ra:

Cả vào ban đêm và trong ngày.

Chỉ trong ngày.

Ít nhất một lần mỗi tuần.

Đái dầm ban đêm là không có khả năng được liên kết với một UTI.

Gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu có các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho một nhiễm trùng thận, bao gồm:

Đau bên hông.

Sốt và ớn lạnh.

Buồn nôn và ói mửa.

Nếu phát triển cấp bách, thường xuyên hoặc đi tiểu đau đớn kéo dài trong vài giờ hoặc lâu hơn, hoặc nếu nhận thấy máu trong nước tiểu, hãy gọi bác sĩ. Nếu đã được chẩn đoán với một UTI trong quá khứ và phát triển các triệu chứng giống UTI lần trước, gọi bác sĩ.

Cũng gọi cho bác sĩ nếu các triệu chứng viêm bàng quang trở lại sau khi đã hoàn tất một đợt điều trị kháng sinh.

Nếu trẻ bắt đầu có đái dầm ngày, gọi bác sĩ nhi khoa.

Nguyên nhân

Hệ thống tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Đóng một vai trò trong việc loại bỏ chất thải từ cơ thể. Thận  – một cặp cơ quan hình hạt đậu nằm về phía sau của vùng bụng phía trên, lọc chất thải khỏi máu và điều chỉnh nồng độ các chất. Ống gọi là niệu quản từ thận vào bàng quang, nơi nước tiểu được lưu trữ cho đến khi nó thoát ra cơ thể thông qua niệu đạo.

Vi khuẩn viêm bàng quang

UTIs thường xảy ra khi vi khuẩn bên ngoài cơ thể nhập vào đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hệ thống tiết niệu được thiết kế để tránh những kẻ xâm lược. Bàng quang tiết ra một lớp phủ bảo vệ nhằm ngăn ngừa vi khuẩn gắn vào thành của nó. Nước tiểu cũng có các tính chất kháng khuẩn mà ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Tuy nhiên, một số yếu tố tăng cơ hội cho vi khuẩn và nhân vào một bệnh toàn diện.

Nhiễm vi khuẩn bàng quang có thể xảy ra ở phụ nữ là kết quả của giao hợp tình dục. Trong thời gian hoạt động tình dục, vi khuẩn có thể được đưa vào bàng quang qua niệu đạo. Nhưng ngay cả khi không hoạt động tình dục trẻ em gái và phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiểu, bởi vì ở vùng sinh dục nữ thường là bến cảng vi khuẩn có thể gây viêm bàng quang .

Hầu hết các trường hợp viêm bàng quang gây ra bởi Escherichia coli (E. coli ), một loài vi khuẩn thường được tìm thấy ở vùng sinh dục. Một chủng mới của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có thể là nguyên nhân gây ra khó điều trị UTIs ở phụ nữ.

Các loại nhiễm trùng chính

Hai loại chính của nhiễm trùng bàng quang của vi khuẩn là:

Cộng đồng nhiễm trùng bàng quang. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra khi những người không trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như một bệnh viện hoặc điều dưỡng tại nhà, phát triển một nhiễm trùng bàng quang. Tình trạng này là phổ biến ở phụ nữ ở độ tuổi 20 – 50, nhưng nó ít phổ biến ở nam giới cùng tuổi. Tuy nhiên, người đàn ông lớn tuổi hơn 55 có thể có nguy cơ bị loại nhiễm trùng do tuyến tiền liệt nở lớn, một tình trạng phổ biến mà có thể chặn lưu lượng nước tiểu ở nam giới lớn tuổi.

  Nhiễm trùng bàng quang bệnh viện. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra ở những người trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão. Thông thường chúng xảy ra ở những người đã có một ống thông đường tiểu đặt thông qua niệu đạo vào bàng quang để thu thập nước tiểu, một thực tế phổ biến trước khi một số thủ tục phẫu thuật, đối với một số xét nghiệm chẩn đoán, hoặc như một phương tiện thoát nước tiểu cho người lớn tuổi hoặc những người bị giới hạn.

Viêm bàng quang không lây nhiễm (noninfectious)

Mặc dù bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm bàng quang, một số yếu tố noninfectious cũng có thể gây ra viêm bàng quang. Một số ví dụ:

Viêm bàng quang kẽ. Nguyên nhân của viêm bàng quang mạn tính này, còn gọi là hội chứng đau bàng quang là không rõ ràng. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở phụ nữ. Các điều kiện có thể khó khăn để chẩn đoán và điều trị.

Thuốc gây ra viêm bàng quang. Một số thuốc, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị và cyclophosphamide ifosfamide có thể gây viêm bàng quang.

Bức xạ, viêm bàng quang. Bức xạ điều trị của khu vực xương chậu có thể gây ra những thay đổi trong mô viêm bàng quang.

Viêm bàng quang do ngoại lai. Sử dụng lâu dài ống thông có thể bị nhiễm trùng do vi khuẩn và tổn thương mô, cả hai đều có thể gây ra viêm.

Hóa chất viêm bàng quang. Một số người có thể bị quá mẫn cảm với hóa chất có trong sản phẩm nhất định, chẳng hạn như tắm bong bóng, thuốc xịt vệ sinh phụ nữ hay sứa diệt tinh trùng, và có thể phát triển một loại phản ứng dị ứng trong bàng quang, gây viêm.

Viêm bàng quang liên kết với các điều kiện khác. Viêm bàng quang đôi khi có thể xảy ra như là một biến chứng của rối loạn khác, chẳng hạn như ung thư phụ khoa, bệnh viêm vùng chậu, endometriosis, bệnh Crohn, diverticulitis, lupus và bệnh lao.

Yếu tố nguy cơ

Một số người có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển các bệnh nhiễm trùng bàng quang hay nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Phụ nữ là một trong những nhóm như vậy. Một lý do chính là giải phẫu. Phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn so với nam giới có.

Phụ nữ nguy cơ lớn nhất của UTIs bao gồm những người:

Sinh hoạt tình dục. Giao hợp tình dục có thể dẫn đến các vi khuẩn được đẩy vào niệu đạo.

Sử dụng một số loại ngừa thai. Những phụ nữ sử dụng diaphragms có nguy cơ gia tăng của UTI. Diaphragms có chứa chất diệt tinh trùng làm tăng thêm nguy cơ.

Đang mang thai. Thay đổi nội tiết khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bàng quang.

Yếu tố nguy cơ khác cả nam giới và phụ nữ bao gồm:

Can thiệp với dòng chảy của nước tiểu. Điều này có thể xảy ra trong điều kiện như một hòn sỏi trong bàng quang, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng.

Thay đổi trong hệ thống miễn dịch. Điều này có thể xảy ra với các điều kiện như tiểu đường , nhiễm HIV và điều trị ung thư. Một hệ thống miễn dịch giảm, tăng nguy cơ vi khuẩn và trong một số trường hợp nhiễm trùng bàng quang do virus.

Kéo dài việc sử dụng các ống thông bàng quang. Những ống có thể cần thiết ở những người bị bệnh mãn tính hoặc ở người lớn tuổi. Sử dụng kéo dài có thể dẫn đến tổn thương tăng lên đến nhiễm trùng do vi khuẩn cũng như các thiệt hại tế bào bàng quang.

Các biến chứng

Khi được điều trị kịp thời và đúng cách, nhiễm trùng bàng quang hiếm khi dẫn đến biến chứng. Nhưng không được chữa trị, có thể trở thành một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Các biến chứng có thể bao gồm:

Nhiễm trùng thận. Bị nhiễm trùng bàng quang không được điều trị có thể dẫn đến nhiễm trùng thận (viêm bể thận). Nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận. Trẻ nhỏ và người cao niên đang có nguy cơ lớn nhất của suy thận do nhiễm trùng bàng quang vì triệu chứng thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các điều kiện khác.

Máu trong nước tiểu. Viêm bàng quang đôi khi được đi kèm bởi các tế bào máu trong nước tiểu có thể được nhìn thấy chỉ với một kính hiển vi và thường giải quyết với điều trị. Nếu các tế bào máu vẫn còn sau khi đã được điều trị, bác sĩ có thể khuyên gặp một chuyên gia có thể xác định xem liệu có một nguyên nhân.

Trong khi máu trong nước tiểu có thể hiếm hoi nhìn thấy bằng mắt thường là điển hình của viêm bàng quang với vi khuẩn, nhưng không phải là không phổ biến bằng hóa trị hoặc xạ gây ra viêm bàng quang. Điều này đôi khi được gọi là viêm bàng quang xuất huyết. Tăng chất lượng thường là bước đầu tiên trong điều trị. Nếu chảy máu trở nên trầm trọng, việc điều trị hóa – xạ mà bắt đầu chảy máu thường được hoãn cho đến khi chảy máu dừng. Chảy máu nặng được điều trị bằng thuốc hoặc truyền máu, nếu cần thiết.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu có triệu chứng của viêm bàng quang, nói chuyện với bác sĩ càng sớm càng tốt. Ngoài ra để thảo luận về các dấu hiệu và triệu chứng và lịch sử y tế, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm này:

Phân tích nước tiểu. Nếu bị nghi ngờ có một nhiễm trùng bàng quang, bác sĩ có thể xin một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Soi bàng quang. Kiểm tra bàng quang với cystoscope – một ống mỏng với một ánh sáng và camera gắn có thể được chèn vào thông qua niệu đạo vào bàng quang có thể giúp chẩn đoán. Bác sĩ cũng có thể sử dụng cystoscope để loại bỏ một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để phân tích trong phòng thí nghiệm. Thử nghiệm này rất có thể sẽ không cần thiết nếu đây là lần đầu tiên có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm bàng quang.

Hình ảnh. Hình ảnh thường là không cần thiết nhưng trong một số trường hợp, đặc biệt là khi không có bằng chứng của nhiễm trùng được tìm thấy có thể hữu ích. Các xét nghiệm, chẳng hạn như X- quang hoặc siêu âm có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác của viêm bàng quang tiềm năng, chẳng hạn như một khối u hoặc bất thường cấu trúc.

Phương pháp điều trị và thuốc

Viêm bàng quang gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Điều trị viêm bàng quang không lây nhiễm phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Điều trị viêm bàng quang do vi khuẩn

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của điều trị cho viêm bàng quang gây ra bởi vi khuẩn. Loại thuốc được sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào sức khỏe tổng thể và các vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu.

Thông thường triệu chứng cải thiện đáng kể trong vòng một ngày. Tuy nhiên, có thể sẽ cần phải dùng thuốc kháng sinh trong ba ngày đến một tuần, tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh. Không có vấn đề gì về độ dài của điều trị, dùng toàn bộ đợt kháng sinh theo quy định của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn tận diệt.

Nếu có UTIs tái phát, bác sĩ có thể khuyên nên điều trị kháng sinh dài hơn hoặc giới thiệu đến một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu để đánh giá, để xem có bất thường về tiết niệu có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng. Đối với một số phụ nữ, dùng một liều duy nhất thuốc kháng sinh sau khi giao hợp tình dục có thể hữu ích.

Nhiễm trùng bàng quang tai bệnh viện có thể là một thách thức để xử lý, vì vi khuẩn được tìm thấy trong các bệnh viện thường đề kháng với các loại kháng sinh được sử dụng chung của cộng đồng. Vì lý do đó, các loại thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị khác nhau có thể cần thiết.

Điều trị viêm bàng quang kẽ

Với viêm bàng quang kẽ, nguyên nhân của viêm là không chắc chắn, vì vậy không điều trị duy nhất mà tốt nhất là phối hợp cho mọi trường hợp. Liệu pháp được sử dụng để giảm bớt những dấu hiệu và triệu chứng của viêm bàng quang kẽ bao gồm:

Thuốc được dùng qua đường miệng hoặc gieo trực tiếp vào bàng quang.

Thủ tục thao tác bàng quang để cải thiện triệu chứng, chẳng hạn như trướng bàng quang hoặc đôi khi phẫu thuật.

Kích thích thần kinh trong đó sử dụng các xung điện nhẹ để giảm đau vùng chậu, và trong một số trường hợp giảm tần số tiết niệu.

Điều trị các hình thức khác của viêm bàng quang không truyền nhiễm

Nếu đang quá mẫn cảm với hóa chất nhất định trong sản phẩm như tắm bong bóng hoặc chất diệt tinh trùng, tránh các sản phẩm này có thể giúp giảm triệu chứng và giúp ngăn ngừa viêm bàng quang.

Viêm bàng quang phát triển như là một biến chứng của hóa trị hoặc xạ trị liệu, điều trị tập trung vào quản lý đau, thường với thuốc men và hydrat hóa để loại ra chất kích thích bàng quang. Hầu hết các trường hợp điều trị hóa chất gây ra viêm bàng quang có xu hướng giải quyết sau khi hóa trị kết thúc.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Viêm bàng quang có thể bị đau, nhưng có thể thực hiện các bước để giảm bớt sự khó chịu:

Sử dụng một miếng đệm nóng. Đôi khi một miếng đệm nóng đặt trên bụng có thể giúp giảm thiểu cảm giác áp lực bàng quang hoặc đau đớn.

Uống nhiều chất lỏng nhưng tránh cà phê, rượu, nước giải khát có caffein, uống nước cam và các loại thực phẩm nhiều gia vị cho đến khi bệnh đã hết. Uống nhiều chất lỏng có thể kích thích bàng quang và làm tăng các nhu cầu thường xuyên hoặc khẩn cấp để đi tiểu.

Hãy tắm bồn ấm. Nó có thể hữu ích để đắm mình trong một bồn tắm nước ấm cho 15 – 20 phút.

Nếu có nhiễm trùng bàng quang tái phát, hãy để bác sĩ biết. Cùng với nhau có thể phát triển một chiến lược để giảm tái phát và những khó chịu mà viêm bàng quang có thể mang lại.

Phòng chống

Nước trái cây cranberry hoặc viên nén có chứa proanthocyanidin là các biện pháp khắc phục chứng minh để giảm nguy cơ nhiễm trùng bàng quang tái phát. Tuy nhiên, không uống nước trái cây cranberry nếu đang uống warfarin thuốc làm loãng máu. Có thể tương tác giữa dẫn đến chảy máu.

Mặc dù các bước phòng ngừa tự chăm sóc cũng chưa được nghiên cứu, các bác sĩ thường khuyên sau đây cho những phụ nữ đã có bệnh nhiễm trùng bàng quang lặp đi lặp lại:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng đặc biệt quan trọng nếu đang trải qua hóa trị hoặc xạ trị, đặc biệt vào những ngày điều trị.

Đi tiểu thường xuyên. Nếu cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu, không chậm trễ bằng cách sử dụng nhà vệ sinh.

Lau từ trước ra sau sau khi đi tiêu. Điều này ngăn cản các vi khuẩn trong khu vực lây lan qua đường hậu môn vào âm đạo và niệu đạo.

Tắm vòi sen thay vì tắm bồn. Nếu dễ bị nhiễm trùng, tắm vòi sen thay vì tắm bồn có thể giúp ngăn ngừa nó.

Nhẹ nhàng rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn. Làm điều này hàng ngày, nhưng không sử dụng xà phòng rửa quá khắc nghiệt hoặc mạnh mẽ. Da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Rỗng bàng quang càng sớm càng tốt sau khi giao hợp. Uống một ly nước đầy để giúp vi khuẩn tuôn ra.

Tránh sử dụng thuốc xịt khử mùi hoặc các sản phẩm xịt phụ nữ ở vùng sinh dục. Những sản phẩm này có thể kích thích niệu đạo và bàng quang.

Theo Dieutri.vn