Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyến tụy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyến tụy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Ngứa da trong mùa lạnh

Ngứa da trong mùa lạnh

Càng gãi càng ngứa. Gãi tới sần sùi, gãi rách da, chảy máu, ít ngày sau đóng vẩy hay làm mủ và lây sang chỗ da lành chung quanh. Mất ngủ vì gãi ngứa ban đêm. Sáng dậy mệt mỏi; tới sở làm ngủ gục; gây tai nạn trên đường. Da dẻ đang mịn màng hóa mốc meo, khô sượng; mắc cở bị bắt gặp “gẩy đờn” ngay tại đám đông… Trên đây là một vài trong những khó chịu do Chứng Ngứa Ngoài Da gây ra.

Nếu da ngứa bắt đầu từ “mùa lạnh”, thì 90% hy vọng có thể dập tắt với những cách chữa trị đơn giản, ít tốn tiền.

Chức năng sinh học của da

Da giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng:

· Da che chở chống xâm nhập của vi-sinh-vật gây bịnh, nhờ cấu trúc và các chất acid hữu cơ do da tiết ra.

· Da bài tiết mồ hôi, thải các chất biến dưỡng dư thừa, tương tự như sự bài tiết nước tiểu tiến hành trong thận.

· Da “thở” giúp mất bớt nước. Da điều chỉnh thân nhiệt qua hệ thống các mạch máu và thần kinh ở da.

· Da làm dịu những bực tức, buồn phiền trong cuộc sống xã hội.

· Da góp phần biểu lộ niềm vui, tiếp nhận dẫn truyền cảm giác săn sóc, vuốt ve, đem cảm quan hạnh phúc cho con người trong đời sống.

· Da báo cho óc biết nguy cơ đe dọa hóa học (acid, chua, mặn) hay vật-lý (phỏng lửa, gai nhọn, mồi thuốc lá đang cháy, dẫn lối trong đêm tránh vấp té) tàn phá sự vẹn toàn của cơ thể.

Ngoài những hữu dụng kể trên, da còn nhiều chức năng khác nữa.

Khi da dở chứng

Da tiết ra những chất acid hữu cơ (organic acids, trong đó có oleanic acid, một acid hữu cơ quan trọng) lẫn trong mồ hôi. Những acid hữu cơ này giữ cho da nhờn, giúp da mềm, bền bỉ, chống sự xâm nhập của vi-sinh-vật như vi-khuẩn, nấm, ký-sinh-trùng, bụi bậm chứa độc tố, v.v… không chui nổi qua da mà vô người chúng ta.

Mùa lạnh vì không khí khô, nhà đốt máy sưởi, đôi khi có thêm một vài bịnh khác nữa (chẳng hạn dị ứng, suy-giáp-trạng-tuyến)…, nên làm da bốc hơi mau và khô. Bao lâu các chất acid hữu cơ do da tiết ra vẫn còn đủ để giữ cho da trơn, mềm, nhờn và toàn vẹn thì chúng ta còn ăn ngon ngủ yên. Song tới một mức độ lạnh và khô nào đó, nhất là những người mới tới chưa quen chịu lạnh, lại hốt hoảng, mất bình tĩnh, tự tay “bẻ gẫy” cơ-năng bảo vệ an toàn của da, sẽ mở màn cho da ngứa.

Khi cơ năng điều chỉnh chạm giới hạn an toàn của cơ-thể, da không căng dãn thêm, không tiết thêm được mồ hôi thì cơ-thể bắt đầu đầu hàng “kẻ thù”. Lớp da ngoài cùng (biểu bì, epiderm) ngày càng mỏng, mất đàn hồi và nứt nẻ. Sự rạn nứt ở da được báo về hệ-thần-kinh. Trung-tâm thần-kinh bèn đối phó điều chỉnh lại bằng một “huấn lệnh” gãi để giải tỏa nạn ngứa. Gãi cho đã ngứa, nhưng gãi làm da rách thêm. Da rách thêm, tín hiệu báo về não bộ là “ngứa thêm”. Cứ thế mà gãi, càng gãi lại càng ngứa. Gãi lên gãi xuống, nên dân gian mới đặt tên tật hay gãi là “gẩy đờn”. Đờn gẩy rách da, mở cửa cho vi-sinh-vật xâm nhập. Da mưng mủ, có khi nóng sốt, tính tình bẳn gắt, quơ quào tìm thuốc chữa. Càng uống thuốc ngứa mua ngoài tiệm càng làm da khô, ngứa càng hung, gãi càng mạnh.

Vòng lẩn quẩn tái diễn tồi tệ. Rồi chứng ngứa da có thể đưa dẫn tới bịnh khác ngoài da.

Chữa và tránh chứng ngứa da trong mùa lạnh

1. Giữ cho da nhờn, bằng cách mặc ấm, giữ hơi nước da “thở” ra ở lại dưới áo, giúp da ẩm và mềm.

2. Tránh nước nóng vào mùa lạnh: trước khi tắm, lấy tay thử nước, đủ ấm là được. Đừng xài nước nóng quá trong mùa lạnh. Mùa hè, muốn nóng bao nhiêu xài mặc sức.

3. Chỉ xát xà-bông vô những nơi thật cần xà-bông, chỗ phải có xà-bông mới sạch và hết mùi hôi. Ngoài ra, tránh xà-bông trên mặt ngoài như vai, đùi, bụng, lưng, tay chân, v.v…

4. Lựa loại xà-bông mềm và yếu. Tránh các hiệu xà-bông cứng và mạnh cho mùa lạnh. Mùa hè, xà-bông khô, mạnh; nước nóng bao nhiêu tùy thích.

5. Từ phòng tắm bước ra chớ vội lau khô. Mua sẵn dầu paraffin (vaseline bất cứ hiệu gì) đổ vô lòng bàn tay, thoa đều thật nhiều khắp người. Mặc áo lại cho ấm và kín.

6. Trong ngày, hạn chế tối thiểu số lần rửa tay chân bằng nước nóng và xà-bông. Cực chẳng đã hãy xài nước nóng và xà-bông. Rửa xong, tay còn ướt nước, thoa một lớp mỏng emolient lotion hay cream (bất cứ hiệu nào loại nào dễ mua). Xong, giữ da ấm và kín, tránh khô.

7. Ngủ cho đủ giờ. Ăn cho đủ no và ngon, thoải mái với các đồ ăn thịt, cá, mè, đậu phọng tùy sở thích và nhu-cầu. Cần đưa cả nhà thoát ra khỏi lối suy nghĩ sai lầm gán tội “phong hay nhiệt” cho đồ biển tôm, cá, bò, gà. Lối suy nghĩ nhảm nhí đó làm cho dân tộc ta không ngẩng mặt nổi với đời mấy ngàn năm qua.

8. Tránh các thứ thuốc ngứa xưa nay người xứ nóng thường xài theo thói quen. Các loại thuốc chống ngứa, chống dị ứng (anti-allergics, anti-histaminics) như phenergan, benadryl làm cho da đã khô càng thêm khô, dễ nứt ra, và ngứa hơn nữa.

9. Cực chẳng đã ban đêm ngứa quá, thì xài tạm những thuốc chống ngứa sẵn có ở nhà, trong lúc chờ điều chỉnh, sửa chữa những cố tật gây khô, nứt da khiến da ngứa mùa lạnh.

Chín bước trên đây giúp chữa và tránh ngứa da trong mùa lạnh. Ít khi ta cần đi khám bác sĩ.

Bạn thực hành ngay ngày hôm nay đi. Hiệu quả sẽ chứng nghiệm trong vòng vài ba ngày tới.

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa tìm thấy loại gien làm tăng nguy cơ ung thư da ở những người có màu tóc đen lên gấp đôi trong khi những người tóc vàng hay đỏ không hề bị ảnh hưởng.

Trưởng nhóm nghiên cứu, TS Peter Kanetsky, ĐH Pennsylvania, cho biết: “Theo truyền thống, làn da của những người có màu tóc đen không dễ bị cháy nắng và vì thế họ được phân vào nhóm ít có nguy cơ ung thư da. Nhưng nghiên cứu sâu cho thấy điều này không đúng”.

Nhóm nghiên cứu của TS Kanetsky đã so sánh AND của 779 bệnh nhân ung thư da với 325 người khỏe mạnh. Kết quả là những người mang gien MC1R sẽ có nguy cơ ung thư da sắc tố cao gấp đôi. Nhưng nguy cơ sẽ lớn hơn nữa đối với những bệnh nhân mà làn da không dễ bị tổn thương bởi ánh nắng mặt trời.

Và những người thích tắm nắng mang gien này sẽ có màu da rám nắng ngay lập tức mà không hề bị cháy nắng sẽ có nguy cơ ung thư da cao gấp 10 lần, các nhà khoa học cảnh báo.

Sự biến đổi của gen MC1R cũng cao gấp 3 ở người có màu mắt đen và gấp 8 ở những người không có tàn nhang.

Phát hiện được công bố tại Hội thảo thường niên của Hiệp hội Nghiên cứu ung bướu Hoa Kỳ (tổ chức tại Denver, bang Colorado).

Theo Thu Uyên
Dân trí

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona, theo từ chuyên môn là Herpes zoster, là mẫn đỏ da gây ra do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu. Vi-rút gây bệnh này có tên là Varicella zoster. Sau khi bị bệnh thuỷ đậu, vi-rút sống trong dây thần kinh, nguyên nhân tại sao vẫn chưa có lời giải đáp.

Trong một số hoàn cảnh nào đó như xúc động, stress, suy giảm miễn dịch ( AIDS , hoá trị liệu ) hay ung thư, vi rút sẽ hoạt động trở lại gây bệnh zona. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, nguyên nhân hoạt động trở lại của virút vẫn chưa có căn cứ. Vi rút này gây ra bệnh thuỷ đậu và bệnh zona, không giống với virút gây mụn nước ở cơ quan sinh dục và ở miệng.

Bệnh zona khởi phát và tiến triển như thế nào?

Trước khi thấy được những mẫn đỏ, bệnh nhân có thể có cảm giác đau rát và nhạy cảm vùng da trước đó vài ngày đến 1 tuần. Bệnh zona khởi đầu là những mụn rộp (mụn nước) trên nền da màu đỏ, những mụn nước mới tiếp tục hình thành từ 3-5 ngày. Mụn nước này thường đi theo đường dây thần kinh của tuỷ sống.

Toàn bộ dây thần kinh liên quan có thể bị, hay những vùng khác không có liên quan đến phân bố dây thần kinh cũng có thể bị. Thường thì bệnh zona chỉ ăn theo một dây thần kinh, hiếm khi bị nhiều hơn một dây thần kinh.

Cuối cùng thì các mụn nước này vỡ ra và bắt đầu chảy nước, bề mặt bên trên khô đi và hoá sẹo. Quá trình này có thể kéo dài 3-4 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh đến khi khỏi. Thỉnh thoảng, đau vẫn còn mặc dù không bao giờ nhìn thấy mụn nước, làm dễ lầm lẫn với nguyên nhân đau tại chỗ.

Bệnh zona có lây không ?

Vâng. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác.

Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa.

Điều trị zona như thế nào ? Tôi sẽ chăm sóc sức khoẻ của mình như thế nào ?

Có một số cách điều trị zona. Thuốc kháng vi-rút như acyclovir (Zovirax) hay famciclovir (Famvir) có thể làm rút ngắn thời gian bị mẫn đỏ da, nếu bắt đầu dùng sớm trong vòng 48 giờ khi xuất hiện mẫn đỏ. Phối hợp thêm thuốc nhóm steroid cũng có thể hạn chế và rút ngắn thời gian bị đau do zona. Tuy nhiên, lợi ích của 2 loại thuốc này vẫn còn hạn chế.

Ngoài thuốc kháng vi-rút, thuốc giảm đau cũng cần thiết để kiểm soát triệu chứng . Vùng da bị bệnh cần phải được giữ sạch sẽ và khô ráo. Người bệnh vẫn có thể được tắm rữa, kỳ cọ bằng xà phòng và nước nơi bị zona mà không bị cấm. Dung dịch aluminum acetate (Burows hay Domeboro”s, có bán ở nhà thuốc) có thể được sử dụng giúp làm khô bề mặt da bị zona và nơi rĩ dịch.

Biến chứng của bệnh zona là gì?

Thường thì bệnh zona được chữa khỏi, và bệnh zona cũng có một số vấn đề. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau.

Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này.

Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế.

Đau dây thần kinh sau bệnh zona là gì ? Và cần phải làm gì khi bị như vậy?

Đau dây thần kinh sau zona là đau khu trú ở vùng có liên quan đến bệnh zona, cơn đau này có thể kéo dài cả tháng.

Biến chứng thường gặp nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau bệnh zona Đau dây thần kinh sau zona thường kéo dài cả tháng, thậm chí ngay sau khi bệnh zona đã khỏi mà đau thì vẫn còn. Ở những người trên 50 tuổi, bị zona lần đầu, thường bệnh zona gây đau nhiều hơn, người bệnh dễ bị suy sụp hơn. Rõ ràng là điều trị zona bằng steroid và thuốc kháng vi-rút có thể rút ngắn thời gian và tai biến đau dây thần kinh sau zona. Tuy nhiên, chỉ giảm đi đôi chút.

Đau dây thần kinh sau zona có thể được điều trị bằng nhiều loại thuốc như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng amitriptyline (Elavil), và các thuốc khác như thuốc chống động kinh gabapentin (Neurontin), carbamazipine (Tegretol), được dùng để giảm đau dây thần kinh do zona.

Cuối cùng, kem capsaicin (Zostrix), là một chất được chiết xuất từ trái ớt, có thể được dùng để thoa lên vùng da bị zona để làm giảm đau, sau khi các mụn nước đã khô. Châm cứu và kích thích điện thần kinh vùng da bị bệnh cũng giúp ích được cho vài bệnh nhân. Lidocain dạng dán da cũng có thể giúp giảm đau dây thần kinh do zona.

Việc chọn lựa thuốc nào là tốt nhất cho bạn, cần phải thảo luận với thầy thuốc của bạn.

Tóm lược bệnh zona

Bệnh zona do vi-rút cùng loại với virút gây bệnh thuỷ đậu, bệnh lây sang người mà người đó trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh zona còn được gọi là Herpes zoster, bệnh này không liên quan gì đến bệnh nhiễm herpes sinh dục.

Bệnh zona có thể gây đau kéo dài, ngay cả sau khi hết mẫn đỏ da.

Steroids và thuốc kháng virút có thể giúp ngăn ngừa đau lâu dài sau nhiễm zona, nếu bắt đầu điều trị trong vòng 2 ngày đầu sau khi xuất hiện mẫn đỏ da.

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Đối với người mắc bệnh thận – tiết niệu mạn tính thì nỗi lo lớn nhất là dẫn đến suy thận mạn tính. Khi đã bị suy thận, người bệnh không chỉ phải đối mặt với nỗi ám ảnh mỗi lần lọc máu mà hy vọng cuối cùng là được ghép thận cũng gặp nhiều khó khăn do kinh tế eo hẹp và khan hiếm nguồn hiến tặng.

Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh thận mạn tính?

Bệnh thận mạn tính liên quan nhiều đến tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch , gút, đái tháo đường và các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ, suy thận mạn tính được xác định khi có sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận trên 3 tháng, cụ thể có protein trong nước tiểu, tăng creatinin máu, mức lọc cầu thận giảm, mô học thận thay đổi. Trong cơ thể người, tạng thận có vai trò quan trọng như điều chỉnh nội môi, bài tiết chất cặn bã sinh ra trong quá trình chuyển hóa, điều chỉnh kiềm toan và điều hòa điện giải, tham gia tạo máu, điều hòa chuyển hóa canxi, điều hòa huyết áp…

Khi thận bị suy, các chức năng hoạt động giảm, dần dần dẫn đến mất chức năng khiến bệnh nhân tử vong do nhiễm toan, tăng kali máu, suy tim, phù phổi, tai biến mạch máu não. Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 12 triệu người tử vong vì biến chứng tim mạch liên quan đến suy thận mạn tính. Các biện pháp điều trị suy thận phổ biến và hiệu quả hiện nay đang được thực hiện là lọc máu chu kỳ và ghép thận. Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng.

Lọc máu chu kỳ – Nỗi ám ảnh của người bệnh

T heo Hội Thận học Thế giới, hiện nay có trên 500 triệu người (chiếm 10%) người trưởng thành trên thế giới bị bệnh thận mạn tính ở các mức độ khác nhau. Trong đó trên 4,5 triệu người được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú, ghép thận. Ước tính con số này sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới. Ở Việt Nam, theo điều tra năm 1990, tỷ lệ suy thận mạn dao động khoảng từ 0,6% đến 0,81% tùy từng vùng. Nhu cầu ghép thận khoảng 5,5/100.000 người. Hiện nay có khoảng hơn 5.500 bệnh nhân được lọc máu chu kỳ, hơn 1.100 người được lọc màng bụng liên tục ngoại trú và hơn 300 người được ghép thận.

Hiện nay số bệnh nhân suy thận mạn tính ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng tăng, do đó số lượng bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải được điều trị lọc máu (chạy thận nhân tạo) cũng tăng theo. Nhiều trung tâm thận nhân tạo ra đời cùng với kỹ thuật lọc máu không ngừng được hoàn thiện, đã làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu chu kỳ cải thiện đáng kể. Đại đa số bệnh nhân phát hiện suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải lọc máu chu kỳ do tình cờ đi khám và xét nghiệm máu thấy: u rê máu, creatinin máu tăng cao, thiếu máu.

Nhiều bệnh nhân suy sụp về tinh thần khi được bác sĩ cho biết kết quả chẩn đoán suy thận độ III – độ IV phải lọc máu (chạy thận nhân tạo chu kỳ). Có những bệnh nhân quá sợ hãi đã bỏ về, rồi sau đó bệnh diễn biến nặng mới quay trở lại để lọc máu nên chức năng thận càng suy giảm. Đa số bệnh nhân lần đầu tiên lọc máu đều rất lo âu, vì cuộc sống sẽ gắn liền với máy thận nhân tạo. Nói đúng hơn, bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cũng có thể sống kéo dài trong nhiều năm và hoàn toàn phụ thuộc vào chạy thận nhân tạo, nhưng bệnh nhân sống trong trạng thái ốm yếu, bất lực, nỗi bất hạnh luôn ám ảnh họ với hàng loạt bệnh lý nội khoa khó lường như: suy tim, tai biến mạch máu não, viêm gan, phù phổi cấp, xuất huyết tiêu hóa…
 Thận bình thường (trái)                      và suy thận (phải)

Ghép thận – giải pháp tối ưu

Sự thành công của ghép thận đã mở ra viễn cảnh mới cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối; Ghép thận đã trả lại cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cuộc sống tốt đẹp cả về thể lực lẫn trí tuệ, có cuộc sống như người bình thường, lấy vợ, lấy chồng và sinh con cái. Tuy nhiên, ở Việt Nam khi số bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối được ghép thận quá ít vì: người cho thận chủ yếu là người trong gia đình. Mặc dù Luật hiến tạng đã ra đời, nhưng người tình nguyện cho tạng từ người mất não, hoặc tử vong do tai nạn giao thông mới đếm trên đầu ngón tay. Thiết nghĩ, nếu những người rủi ro chết do tai nạn giao thông mà hiến thận thì cứu được bao nhiêu người đang mong được ghép thận. Hy vọng trong tương lai, việc hiến mô, tạng sẽ đi vào lòng người Việt Nam như đạo Phật đã dạy “Cứu một người phúc đẳng hà sa”. Khi người mất đi mà hiến tạng cho người khác thì người thân vẫn thấy và cảm nhận một phần cơ thể của người mất đang tồn tại “cuộc sống trở lại sau cái chết”. Để làm được điều đó, ngoài những nỗ lực lớn lao của các thầy thuốc , giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng sẽ không thể thiếu được những nghĩa cử cao đẹp và sự thấu hiểu của cộng đồng.

Tóm lại, bệnh thận mạn tính có thể phòng ngừa được bằng cách điều trị triệt để khi bị viêm cầu thận, sỏi đường tiết niệu, tránh béo phì, thừa cân; kiểm soát tốt tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, chế độ ăn ít muối, không lạm dụng bia rượu, không hút thuốc lá.

BS.CKII.  Phạm Quốc Cường – Theo suckhoedoisong

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang! Đái rắt, nóng rát khi đi tiểu, máu trong nước tiểu, nước tiểu đục hoặc múi mạnh, khó chịu vùng xương chậu, sốt nhẹ, đái dầm ở trẻ nhỏ…Gặp bác sỹ nếu: Đau bên hông, sốt và ớn lạnh, buồn nôn và ói mửa…

Định nghĩa

Viêm bàng quang là một thuật ngữ y tế. Hầu hết trường hợp viêm là do vi khuẩn, nó có thể được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI). Nhiễm trùng bàng quang có thể đau và khó chịu, và có thể trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu nhiễm trùng lan đến thận.

Ít phổ biến hơn, viêm bàng quang có thể xảy ra như là một phản ứng đối với một số loại thuốc , liệu pháp bức xạ hoặc chất kích thích tiềm năng, chẳng hạn như phun vệ sinh phụ nữ, thuốc diệt tinh trùng hoặc sử dụng lâu dài của một ống thông. Viêm bàng quang cũng có thể xảy ra như là một biến chứng của bệnh khác.

Việc điều trị thông thường cho vi khuẩn viêm bàng quang là thuốc kháng sinh. Điều trị cho các loại viêm bàng quang phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng viêm bàng quang thường bao gồm:

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Một cảm giác nóng rát khi đi tiểu.

Thường xuyên đi một lượng nhỏ nước tiểu.

Máu trong nước tiểu.

Nước tiểu đục hoặc có mùi mạnh.

Khó chịu ở vùng xương chậu.

Một cảm giác áp lực ở bụng dưới.

Sốt nhẹ.

Ở trẻ nhỏ, đái dầm cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) – đặc biệt là nếu đái dầm xảy ra:

Cả vào ban đêm và trong ngày.

Chỉ trong ngày.

Ít nhất một lần mỗi tuần.

Đái dầm ban đêm là không có khả năng được liên kết với một UTI.

Gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu có các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho một nhiễm trùng thận, bao gồm:

Đau bên hông.

Sốt và ớn lạnh.

Buồn nôn và ói mửa.

Nếu phát triển cấp bách, thường xuyên hoặc đi tiểu đau đớn kéo dài trong vài giờ hoặc lâu hơn, hoặc nếu nhận thấy máu trong nước tiểu, hãy gọi bác sĩ. Nếu đã được chẩn đoán với một UTI trong quá khứ và phát triển các triệu chứng giống UTI lần trước, gọi bác sĩ.

Cũng gọi cho bác sĩ nếu các triệu chứng viêm bàng quang trở lại sau khi đã hoàn tất một đợt điều trị kháng sinh.

Nếu trẻ bắt đầu có đái dầm ngày, gọi bác sĩ nhi khoa.

Nguyên nhân

Hệ thống tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Đóng một vai trò trong việc loại bỏ chất thải từ cơ thể. Thận  – một cặp cơ quan hình hạt đậu nằm về phía sau của vùng bụng phía trên, lọc chất thải khỏi máu và điều chỉnh nồng độ các chất. Ống gọi là niệu quản từ thận vào bàng quang, nơi nước tiểu được lưu trữ cho đến khi nó thoát ra cơ thể thông qua niệu đạo.

Vi khuẩn viêm bàng quang

UTIs thường xảy ra khi vi khuẩn bên ngoài cơ thể nhập vào đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hệ thống tiết niệu được thiết kế để tránh những kẻ xâm lược. Bàng quang tiết ra một lớp phủ bảo vệ nhằm ngăn ngừa vi khuẩn gắn vào thành của nó. Nước tiểu cũng có các tính chất kháng khuẩn mà ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Tuy nhiên, một số yếu tố tăng cơ hội cho vi khuẩn và nhân vào một bệnh toàn diện.

Nhiễm vi khuẩn bàng quang có thể xảy ra ở phụ nữ là kết quả của giao hợp tình dục. Trong thời gian hoạt động tình dục, vi khuẩn có thể được đưa vào bàng quang qua niệu đạo. Nhưng ngay cả khi không hoạt động tình dục trẻ em gái và phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiểu, bởi vì ở vùng sinh dục nữ thường là bến cảng vi khuẩn có thể gây viêm bàng quang .

Hầu hết các trường hợp viêm bàng quang gây ra bởi Escherichia coli (E. coli ), một loài vi khuẩn thường được tìm thấy ở vùng sinh dục. Một chủng mới của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có thể là nguyên nhân gây ra khó điều trị UTIs ở phụ nữ.

Các loại nhiễm trùng chính

Hai loại chính của nhiễm trùng bàng quang của vi khuẩn là:

Cộng đồng nhiễm trùng bàng quang. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra khi những người không trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như một bệnh viện hoặc điều dưỡng tại nhà, phát triển một nhiễm trùng bàng quang. Tình trạng này là phổ biến ở phụ nữ ở độ tuổi 20 – 50, nhưng nó ít phổ biến ở nam giới cùng tuổi. Tuy nhiên, người đàn ông lớn tuổi hơn 55 có thể có nguy cơ bị loại nhiễm trùng do tuyến tiền liệt nở lớn, một tình trạng phổ biến mà có thể chặn lưu lượng nước tiểu ở nam giới lớn tuổi.

  Nhiễm trùng bàng quang bệnh viện. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra ở những người trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão. Thông thường chúng xảy ra ở những người đã có một ống thông đường tiểu đặt thông qua niệu đạo vào bàng quang để thu thập nước tiểu, một thực tế phổ biến trước khi một số thủ tục phẫu thuật, đối với một số xét nghiệm chẩn đoán, hoặc như một phương tiện thoát nước tiểu cho người lớn tuổi hoặc những người bị giới hạn.

Viêm bàng quang không lây nhiễm (noninfectious)

Mặc dù bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm bàng quang, một số yếu tố noninfectious cũng có thể gây ra viêm bàng quang. Một số ví dụ:

Viêm bàng quang kẽ. Nguyên nhân của viêm bàng quang mạn tính này, còn gọi là hội chứng đau bàng quang là không rõ ràng. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở phụ nữ. Các điều kiện có thể khó khăn để chẩn đoán và điều trị.

Thuốc gây ra viêm bàng quang. Một số thuốc, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị và cyclophosphamide ifosfamide có thể gây viêm bàng quang.

Bức xạ, viêm bàng quang. Bức xạ điều trị của khu vực xương chậu có thể gây ra những thay đổi trong mô viêm bàng quang.

Viêm bàng quang do ngoại lai. Sử dụng lâu dài ống thông có thể bị nhiễm trùng do vi khuẩn và tổn thương mô, cả hai đều có thể gây ra viêm.

Hóa chất viêm bàng quang. Một số người có thể bị quá mẫn cảm với hóa chất có trong sản phẩm nhất định, chẳng hạn như tắm bong bóng, thuốc xịt vệ sinh phụ nữ hay sứa diệt tinh trùng, và có thể phát triển một loại phản ứng dị ứng trong bàng quang, gây viêm.

Viêm bàng quang liên kết với các điều kiện khác. Viêm bàng quang đôi khi có thể xảy ra như là một biến chứng của rối loạn khác, chẳng hạn như ung thư phụ khoa, bệnh viêm vùng chậu, endometriosis, bệnh Crohn, diverticulitis, lupus và bệnh lao.

Yếu tố nguy cơ

Một số người có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển các bệnh nhiễm trùng bàng quang hay nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Phụ nữ là một trong những nhóm như vậy. Một lý do chính là giải phẫu. Phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn so với nam giới có.

Phụ nữ nguy cơ lớn nhất của UTIs bao gồm những người:

Sinh hoạt tình dục. Giao hợp tình dục có thể dẫn đến các vi khuẩn được đẩy vào niệu đạo.

Sử dụng một số loại ngừa thai. Những phụ nữ sử dụng diaphragms có nguy cơ gia tăng của UTI. Diaphragms có chứa chất diệt tinh trùng làm tăng thêm nguy cơ.

Đang mang thai. Thay đổi nội tiết khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bàng quang.

Yếu tố nguy cơ khác cả nam giới và phụ nữ bao gồm:

Can thiệp với dòng chảy của nước tiểu. Điều này có thể xảy ra trong điều kiện như một hòn sỏi trong bàng quang, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng.

Thay đổi trong hệ thống miễn dịch. Điều này có thể xảy ra với các điều kiện như tiểu đường , nhiễm HIV và điều trị ung thư. Một hệ thống miễn dịch giảm, tăng nguy cơ vi khuẩn và trong một số trường hợp nhiễm trùng bàng quang do virus.

Kéo dài việc sử dụng các ống thông bàng quang. Những ống có thể cần thiết ở những người bị bệnh mãn tính hoặc ở người lớn tuổi. Sử dụng kéo dài có thể dẫn đến tổn thương tăng lên đến nhiễm trùng do vi khuẩn cũng như các thiệt hại tế bào bàng quang.

Các biến chứng

Khi được điều trị kịp thời và đúng cách, nhiễm trùng bàng quang hiếm khi dẫn đến biến chứng. Nhưng không được chữa trị, có thể trở thành một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Các biến chứng có thể bao gồm:

Nhiễm trùng thận. Bị nhiễm trùng bàng quang không được điều trị có thể dẫn đến nhiễm trùng thận (viêm bể thận). Nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận. Trẻ nhỏ và người cao niên đang có nguy cơ lớn nhất của suy thận do nhiễm trùng bàng quang vì triệu chứng thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các điều kiện khác.

Máu trong nước tiểu. Viêm bàng quang đôi khi được đi kèm bởi các tế bào máu trong nước tiểu có thể được nhìn thấy chỉ với một kính hiển vi và thường giải quyết với điều trị. Nếu các tế bào máu vẫn còn sau khi đã được điều trị, bác sĩ có thể khuyên gặp một chuyên gia có thể xác định xem liệu có một nguyên nhân.

Trong khi máu trong nước tiểu có thể hiếm hoi nhìn thấy bằng mắt thường là điển hình của viêm bàng quang với vi khuẩn, nhưng không phải là không phổ biến bằng hóa trị hoặc xạ gây ra viêm bàng quang. Điều này đôi khi được gọi là viêm bàng quang xuất huyết. Tăng chất lượng thường là bước đầu tiên trong điều trị. Nếu chảy máu trở nên trầm trọng, việc điều trị hóa – xạ mà bắt đầu chảy máu thường được hoãn cho đến khi chảy máu dừng. Chảy máu nặng được điều trị bằng thuốc hoặc truyền máu, nếu cần thiết.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu có triệu chứng của viêm bàng quang, nói chuyện với bác sĩ càng sớm càng tốt. Ngoài ra để thảo luận về các dấu hiệu và triệu chứng và lịch sử y tế, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm này:

Phân tích nước tiểu. Nếu bị nghi ngờ có một nhiễm trùng bàng quang, bác sĩ có thể xin một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Soi bàng quang. Kiểm tra bàng quang với cystoscope – một ống mỏng với một ánh sáng và camera gắn có thể được chèn vào thông qua niệu đạo vào bàng quang có thể giúp chẩn đoán. Bác sĩ cũng có thể sử dụng cystoscope để loại bỏ một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để phân tích trong phòng thí nghiệm. Thử nghiệm này rất có thể sẽ không cần thiết nếu đây là lần đầu tiên có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm bàng quang.

Hình ảnh. Hình ảnh thường là không cần thiết nhưng trong một số trường hợp, đặc biệt là khi không có bằng chứng của nhiễm trùng được tìm thấy có thể hữu ích. Các xét nghiệm, chẳng hạn như X- quang hoặc siêu âm có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác của viêm bàng quang tiềm năng, chẳng hạn như một khối u hoặc bất thường cấu trúc.

Phương pháp điều trị và thuốc

Viêm bàng quang gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Điều trị viêm bàng quang không lây nhiễm phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Điều trị viêm bàng quang do vi khuẩn

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của điều trị cho viêm bàng quang gây ra bởi vi khuẩn. Loại thuốc được sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào sức khỏe tổng thể và các vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu.

Thông thường triệu chứng cải thiện đáng kể trong vòng một ngày. Tuy nhiên, có thể sẽ cần phải dùng thuốc kháng sinh trong ba ngày đến một tuần, tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh. Không có vấn đề gì về độ dài của điều trị, dùng toàn bộ đợt kháng sinh theo quy định của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn tận diệt.

Nếu có UTIs tái phát, bác sĩ có thể khuyên nên điều trị kháng sinh dài hơn hoặc giới thiệu đến một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu để đánh giá, để xem có bất thường về tiết niệu có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng. Đối với một số phụ nữ, dùng một liều duy nhất thuốc kháng sinh sau khi giao hợp tình dục có thể hữu ích.

Nhiễm trùng bàng quang tai bệnh viện có thể là một thách thức để xử lý, vì vi khuẩn được tìm thấy trong các bệnh viện thường đề kháng với các loại kháng sinh được sử dụng chung của cộng đồng. Vì lý do đó, các loại thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị khác nhau có thể cần thiết.

Điều trị viêm bàng quang kẽ

Với viêm bàng quang kẽ, nguyên nhân của viêm là không chắc chắn, vì vậy không điều trị duy nhất mà tốt nhất là phối hợp cho mọi trường hợp. Liệu pháp được sử dụng để giảm bớt những dấu hiệu và triệu chứng của viêm bàng quang kẽ bao gồm:

Thuốc được dùng qua đường miệng hoặc gieo trực tiếp vào bàng quang.

Thủ tục thao tác bàng quang để cải thiện triệu chứng, chẳng hạn như trướng bàng quang hoặc đôi khi phẫu thuật.

Kích thích thần kinh trong đó sử dụng các xung điện nhẹ để giảm đau vùng chậu, và trong một số trường hợp giảm tần số tiết niệu.

Điều trị các hình thức khác của viêm bàng quang không truyền nhiễm

Nếu đang quá mẫn cảm với hóa chất nhất định trong sản phẩm như tắm bong bóng hoặc chất diệt tinh trùng, tránh các sản phẩm này có thể giúp giảm triệu chứng và giúp ngăn ngừa viêm bàng quang.

Viêm bàng quang phát triển như là một biến chứng của hóa trị hoặc xạ trị liệu, điều trị tập trung vào quản lý đau, thường với thuốc men và hydrat hóa để loại ra chất kích thích bàng quang. Hầu hết các trường hợp điều trị hóa chất gây ra viêm bàng quang có xu hướng giải quyết sau khi hóa trị kết thúc.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Viêm bàng quang có thể bị đau, nhưng có thể thực hiện các bước để giảm bớt sự khó chịu:

Sử dụng một miếng đệm nóng. Đôi khi một miếng đệm nóng đặt trên bụng có thể giúp giảm thiểu cảm giác áp lực bàng quang hoặc đau đớn.

Uống nhiều chất lỏng nhưng tránh cà phê, rượu, nước giải khát có caffein, uống nước cam và các loại thực phẩm nhiều gia vị cho đến khi bệnh đã hết. Uống nhiều chất lỏng có thể kích thích bàng quang và làm tăng các nhu cầu thường xuyên hoặc khẩn cấp để đi tiểu.

Hãy tắm bồn ấm. Nó có thể hữu ích để đắm mình trong một bồn tắm nước ấm cho 15 – 20 phút.

Nếu có nhiễm trùng bàng quang tái phát, hãy để bác sĩ biết. Cùng với nhau có thể phát triển một chiến lược để giảm tái phát và những khó chịu mà viêm bàng quang có thể mang lại.

Phòng chống

Nước trái cây cranberry hoặc viên nén có chứa proanthocyanidin là các biện pháp khắc phục chứng minh để giảm nguy cơ nhiễm trùng bàng quang tái phát. Tuy nhiên, không uống nước trái cây cranberry nếu đang uống warfarin thuốc làm loãng máu. Có thể tương tác giữa dẫn đến chảy máu.

Mặc dù các bước phòng ngừa tự chăm sóc cũng chưa được nghiên cứu, các bác sĩ thường khuyên sau đây cho những phụ nữ đã có bệnh nhiễm trùng bàng quang lặp đi lặp lại:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng đặc biệt quan trọng nếu đang trải qua hóa trị hoặc xạ trị, đặc biệt vào những ngày điều trị.

Đi tiểu thường xuyên. Nếu cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu, không chậm trễ bằng cách sử dụng nhà vệ sinh.

Lau từ trước ra sau sau khi đi tiêu. Điều này ngăn cản các vi khuẩn trong khu vực lây lan qua đường hậu môn vào âm đạo và niệu đạo.

Tắm vòi sen thay vì tắm bồn. Nếu dễ bị nhiễm trùng, tắm vòi sen thay vì tắm bồn có thể giúp ngăn ngừa nó.

Nhẹ nhàng rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn. Làm điều này hàng ngày, nhưng không sử dụng xà phòng rửa quá khắc nghiệt hoặc mạnh mẽ. Da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Rỗng bàng quang càng sớm càng tốt sau khi giao hợp. Uống một ly nước đầy để giúp vi khuẩn tuôn ra.

Tránh sử dụng thuốc xịt khử mùi hoặc các sản phẩm xịt phụ nữ ở vùng sinh dục. Những sản phẩm này có thể kích thích niệu đạo và bàng quang.

Theo Dieutri.vn

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Người viêm cầu thận cấp chỉ nên ăn nhẹ

Người viêm cầu thận cấp chỉ nên ăn nhẹ

Nguyên tắc ăn uống với những bệnh nhân viêm cầu thận cấp là ăn nhẹ và ăn nhạt. Nếu tiểu ít hoặc vô niệu thì bỏ hẳn hoa quả.

Viêm cầu thận cấp thường xuất hiện sau một đợt nhiễm khuẩn cấp tính ở cổ họng, ngoài da, răng miệng; đa số là do liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A. Bệnh thường gặp ở trẻ em. Cách điều trị chủ yếu là nghỉ ngơi và có chế độ ăn, dinh dưỡng hợp lý.

Viêm cầu thận cấp được xác định khi: Có tiền sử nhiễm khuẩn cổ họng, ngoài da đã khỏi hẳn 1-2 tuần trước; cũng có thể hiện tại còn nhiễm khuẩn; phù, đái ít (phù có thể rất ít, chỉ mọng mi mắt, cũng có thể phù to, trắng, mềm, ấn lõm); đái máu; tăng huyết áp (thường là 140/90 mmHg trở lên).

Bệnh có thể khỏi nhanh trong vòng 4-6 tuần; cá biệt có biến chứng nặng như phù phổi cấp do phù và tăng huyết áp, suy thận cấp, suy thận tiến triển nhanh; một số chuyển thành tiềm tàng, mạn tính.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân viêm cầu thận cấp không có biến chứng nặng là ăn nhẹ, ăn nhạt . Cụ thể:

Đạm (protein): 0,6 g/kg cân nặng mỗi ngày. Đề phòng urê máu tăng; khi bệnh nhân đái tốt, urê máu không tăng thì cho 1 g/kg cân nặng mỗi ngày.

Bột đường: 30 Kcal/kg cân nặng mỗi ngày bao gồm gạo, mỳ, khoai củ, bánh ngọt.

Chất béo: 20 g/ngày.

Nên bớt muối và mì chính, tối đa 2 g muối/ngày, tốt nhất là bỏ hẳn mì chính. Nếu có phù, tăng huyết áp thì phải ăn nhạt tuyệt đối. Uống nước ít hơn lượng đái ra trong ngày. Nếu đái ít hoặc vô niệu thì bỏ hẳn rau quả để phòng tăng kali máu. Bổ sung vitamin dạng thuốc bằng đường uống.

Cần theo dõi lượng nước tiểu, phù, huyết áp, urê máu để gia giảm thức ăn. Sau một tuần nếu thấy urê máu không tăng thì có thể tăng đạm lên 0,8 g/kg cân nặng mỗi ngày. Nếu tiểu tiện bình thường thì ăn rau quả tự do, nước uống bằng lượng đái ra.

BS Nguyễn Thị Hà , Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Són tiểu là khi bệnh nhân không kiểm soát được lúc nào họ đi tiểu.  Kết qủa là họ tiểu són ra quần, nhiều khi phải mang tã khi đi ra đường.  Chứng bệnh ngại ngùng nhưng chữa được.

Chứng bệnh này xẩy ra thường nhất ở những người phụ nữ trên 50 tuổi.  Và cũng có thể xẩy ra ở người phụ nữ trẻ hơn, nhất là trong khi mang thai, hoặc vừa sanh đẻ xong. 

Nên nói với bác sĩ của mình khi bị chứng này.  Nếu không thì lại đâm ra ngượng, không dám đi ra ngoài, gặp bạn bè và gia đình, lại còn bị sải, rôm da và nhiễm trùng đường tiểu.

Các loại són tiểu:

Có tất cả 3 loại:

1.  Són tiểu khi tăng áp lực trong bụng (Stress incontinence):

Triệu chứng này xẩy ra khi áp lực trong bụng dưới đột ngột tăng lên, chẳng hạn như khi ho, cười, khuân nặng hay tập thể thao.  Lý do là vì các bắp cơ khu bàn tọa bị suy yếu, thường là vì sanh đẻ hay sau khi giải phẫu phần hạ bộ.

2.  Són tiểu cấp kỳ (Urge incontinence):

Chứng này xẩy ra khi cơn mắc tiểu xẩy ra cấp kỳ, không kịp thời gian cho người bệnh nhân đi đến nhà cầu.  Triệu chứng này thường xẩy ra ở những người lớn tuổi và có thể là triệu chứng của bệnh nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng thân hay bệnh tiểu đường .

3.  Són tiểu khi đầy bọng đái (Overflow incontinence):

Người bệnh này lúc nào cũng nhỏ giọt nước tiểu.  Chứng này bị gây ra bởi bọng đái bị tràn đầy.  Người bệnh nhân cảm thấy như họ không đi tiểu hoàn toàn được.  Chứng này thường xẩy ra ở người đàn ông vì bị sưng nhiếp hộ tuyến.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH SÓN TIỂU:

Chứng này có thể xảy ra trong khi có thai, khi ho hoặc ách xì, hoặc khi thực hiện một động tác nào đó làm tăng sức ép vào bọng đái (bàng quang). Nó cũng có thể liên quan đến nhiễm trùng đường tiểu, tổn thương của vùng chậu, xạ trị, hoặc gây ra do một số bệnh của hệ thần kinh hoặc các hệ thống khác của cơthể. Rượu, cà phê, và một số thuốc cũng có thể là nguyên nhân hoặc góp phần gây ra tiểu són. Trong một số trường hợp, có người chỉ cần nghe tiếng nước chảy là són tiểu. Trong trường hợp quá sợ hãi, “sợ đến… “tè” ra quần” là chuyện không phải hiếm gặp.

Tiểu són thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn ở nam giới, vì đường tiểu của phụ nữ ngắn hơn của nam giới nhiều. Ở phụ nữ trẻ, nguyên nhân thường gặp nhất là do thiếu sự nâng đỡ ở cổ bọng đái (nơi tiếp giáp của bọng đái với niệu đạo). Ở phụ nữ lớn tuổi, nguyên nhân thường gặp là do bọng đái bị yếu hoặc quá… “hăng hái” .

Ngoài ra còn có những nguyên nhân sau:

- Ở phụ nữ, lớp niêm mạc trong âm đạo bị mỏng và khô, nhất là sau khi tắt kinh nguyệt.

- Ở đàn ông, sưng nhiếp hộ tuyến hoặc sau khi giải phẫu nhiếp hộ tuyến.

- Suy thoái các bắp thịt ở bàn tọa.

- Bị táo bón.

- Tê liệt nằm tại chỗ.

- Nhiễm trùng đường tiểu.

- Bệnh tiểu đường.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH SÓN TIỂU:

Triệu chứng chính của tiểu són, dĩ nhiên là… són tiểu. Sự són nước tiểu này có thể thường xuyên và nhiều, hoặc không thường xuyên và ít. Đối với những người còn hoạt động (đi làm, dự tiệc tùng nhiều), hoặc những người bị són nhiều nước tiểu, ngay cả một lần mỗi tuần (nhất là vào lúc không thích hợp) cũng có thể đã là quá nhiều.

Các triệu chứng có thể đi kèm là:

- Tiểu lắt nhắt hơn một lần mỗi hai tiếng đồng hồ, hoặc trên bảy lần một ngày.

- Phải thức dậy để đi tiểu ít nhất hai lần một đêm.

- Tiểu gắt.

- Đái dầm.

III. XÉT NGHIỆM CHUẨN ĐOÁN CHỨNG SÓN TIỂU:

Để chữa trị thích hợp, bác sĩ sẽ phải hỏi bệnh tỉ mỉ, làm các xét nghiệm thích hợp. Đầu tiên, là bệnh sử của bệnh nhân, ví dụ như:

- Những thuốc gì đang dùng.

- Số lần có thai.

- Có những bệnh gì khác ngoài chứng són tiểu.

- Số lần bị són tiểu và số lượng nước tiểu són mỗi lần, trong vòng 24 đến 72 giờ.

- Số lượng nước và chất lỏng (canh, phở…) dùng trong thời gian đó.

- Các hoạt động, cười, ho… trong hay trước khi bị són tiểu.

- Số lượng cà phê, rượu đã dùng cũng có thể giúp bác sĩ trong việc chẩn đoán són tiểu.

Sau khi hỏi bệnh, bác sĩ sẽ phải khám xem có bệnh tổng quát gì không, khám vùng đi tiểu (vùng chậu – pelvic examination), và làm một số thử nghiệm để đo số lượng nước tiểu mỗi lần đi tiểu và số nước tiểu còn trong bàng quang sau khi đi tiểu.

Xét nghiệm nước tiểu xem có bị nhiễm trùng không, xét nghiệm xem thận có vấn đề gì không, cũng nằm trong số những điều cần phải làm để có chẩn đoán chính xác.

Một số thử nghiệm để xem nước tiểu có bị són ra (khi bọng đái đang đầy) trong lúc ho, đeo tả để xem nước tiểu ra nhiều hay ít, đo áp lực và thể tích của bọng đái khi đầy nước, vân vân là các cách để phân loại tiểu són và có cách trị thích hợp.

Khi đã có chẩn đoán chính xác, sẽ có nhiều cách hiệu quả để điều trị tiểu són.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH SÓN TIỂU:

Đầu tiên, việc đơn giản nhất là trị hoặc tránh các yếu tố có thể góp phần vào việc tiểu són, đái dầm. Ví dụ, như tránh không uống nhiều nước vào buổi tối, giảm bớt rượu, cà phê nếu đó có thể là nguyên nhân. Sau khi kiểm tra các thuốc đang dùng, bác sĩ có thể ngưng hoặc thay các thuốc có thể góp phần vào việc tiểu són.

Tập đi tiểu thường xuyên dù chưa mắc tiểu cũng là một cách để giảm tiểu són. Trong trường hợp tiểu són vì cơ kiểm soát đường tiểu bị yếu, một phương pháp tập luyện các cơ ở vùng chậu (được gọi là Kegel exercises) tương đối đơn giản sẽ được hướng dẫn cho bệnh nhân để làm cho đường tiểu được kiểm soát tốt hơn.

Nếu ho, ách xì… gây ra són tiểu, trị các triệu chứng này cũng sẽ giúp rất nhiều. Một số bệnh khác, tổng quát hay thần kinh, có thể là nguyên nhân, và trị nguyên nhân, nếu được thường là cách tốt để tiệt nguồn gốc của triệu chứng.

Có nhiều thuốc để trị triệu chứng són tiểu. Các thuốc này có thể là thuốc điều khiển sự co bóp của bọng đái; thuốc tăng cường cơ kiểm soát niệu đạo (ống tiểu).

Nếu bị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ kê toa kháng sinh. Đôi khi estrogen cần thiết để làm tăng độ đàn hồi của các cơ bắp ở vùng chậu ở phụ nữ đã mãn kinh. Tuy nhiên, bác sĩ sẽ chỉ dùng khi thật cần thiết và với liều thấp nhất có thể được. Các loại kem estrogen có thể giúp giảm triệu chứng nhiều hơn trong khi ít bị hấp thu vào cơ thể hơn so với các loại estrogen dán hoặc uống.

Một số dụng cụ có thể được dùng để giúp tập cho các bắp thịt ở đường tiểu co bóp hiệu quả hơn.

Cuối cùng, thường thì khi các phương pháp khác đã thất bại, phẫu thuật có thể giúp ích. Phẫu thuật cũng có nhiều phương pháp khác nhau.

Trong nhiều trường hợp, phụ nữ có thể phòng ngừa (hoặc chữa) chứng són tiểu bằng các thể dục đơn giản làm tăng độ dẻo dai và sức mạnh của các bắp thịt xung quanh ống dẫn tiểu, âm đạo và hậu môn (kegel exercises). Bác sĩ và y tá có thể hướng dẫn để tập các thể dục này một cách hiệu quả.

Giảm cân, tập thể dục bụng, giảm ho, tránh nâng vật nặng quá, bỏ hút thuốc, trị bón cũng có thể giúp phòng són tiểu.

Đi tiểu đều đặn dù chưa cảm thấy “mắc tiểu” cũng có thể giúp phòng chứng són tiểu.

Tóm lại, són tiểu là một chứng thường gặp, cũng là một loại bệnh tật như các loại bệnh tật khác. Ta không nên quá mắc cỡ đến nỗi giấu cả bác sĩ, khiến cho bệnh không được chữa trị đúng mức và vào lúc còn nhẹ. Tùy theo nguyên nhân, có nhiều cách từ (thường là) đơn giản đến phức tạp để trị và phòng són tiểu có hiệu quả. Khi có triệu chứng, nên gặp bác sĩ sớm để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

 

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Các vấn đề ở thận chẳng chừa bất kỳ ai. Nguyên nhân có thể xuất phát từ 1 bệnh không liên quan hay do gen.

Nếu bạn trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi nào dưới đây, bạn có thể nằm trong nhóm nguy cơ mắc bệnh thận. Hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu được phát hiện sớm, các vấn đề ở thận sẽ không khó giải quyết.

1. Bạn có bị đái tháo đường không?

Khoảng 30-50% trường hợp suy thận là ở người bị bệnh đái tháo đường.

2. Bạn có bị huyết áp cao mà không thể kiểm soát không?

Khoảng 20-25% trường hợp suy thận là do việc kiểm soát huyết áp chưa tốt.

3. Bạn đã từng bị viêm 1 bên thận hơn 1 lần chưa?

Viêm cầu thận không được điều trị và kiểm soát triệt để có thể gây ra 20% trường hợp suy thận (đặc biệt hay gặp ở các nước đang phát triển).

4. Bạn có bệnh thận bẩm sinh như bệnh lý thận IgA, bệnh lý thận có vách hoặc ung thư thận?

Hãy chú ý hơn tới việc kiểm tra sức khỏe .

5. Bạn đã từng dùng ống thông tiểu?

Hãy cảnh giác với bệnh viêm thận và cần chắc chắn là phải điều trị nhanh và triệt để.

6. Bạn đã từng dùng thuốc kháng viêm cho tình trạng đau, viêm hay sốt mỗi ngày trong vài năm nào đó không?

7. Bạn có thừa cân hay bị huyết áp cao không?

8. Mức cholesterol trong máu có cao không?

9. Bạn có thường xuyên bị hít khói có chì hay thủy ngân không?

Translate from: http://www.health32.com/kidney-disease-are-you-at-risk/

Ngộ độc rượu

Ngộ độc rượu

Ngộ độc rượu! Không giống như thực phẩm, có thể mất thời gian để tiêu hóa, rượu được hấp thu nhanh chóng bởi cơ thể trước hầu hết các chất dinh dưỡng khác. Nếu uống khi đói, khoảng 20 phần trăm rượu được hấp thụ trực tiếp từ dạ dày và có thể tới não trong ít hơn một phút.

Định nghĩa

Ngộ độc rượu là một nghiêm trọng và đôi khi gây chết người – hậu quả của lượng rượu tiêu thụ lớn trong một thời gian ngắn. Uống quá nhiều, quá nhanh có thể ảnh hưởng đến hô hấp, nhịp tim và có khả năng dẫn đến hôn mê và tử vong.

Uống nhanh chóng hoặc nhiều đồ uống trong một ngày là nguyên nhân chính của ngộ độc rượu. Ngộ độc rượu cũng có thể xảy ra khi vô tình ăn sản phẩm gia dụng có chứa rượu.

Một người bị ngộ độc rượu cần có nhu cầu chăm sóc y tế ngay lập tức. Nếu nghi ngờ ai đó đã bị ngộ độc rượu, hãy cấp cứu y tế.

Điều trị bao gồm việc cung cấp hỗ trợ thở và dịch truyền tĩnh mạch cho đến khi hoàn toàn loại bỏ rượu khỏi cơ thể.

Điều trị cho bệnh nhân ngộ độc rượu.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của ngộ độc rượu gồm:

- Lẫn lộn, trạng thái kinh ngạc.

- Ói mửa.

- Động kinh.

- Thở chậm (ít hơn tám hơi thở một phút).

- Không thường xuyên hít thở.

- Da xanh.

- Thân nhiệt thấp.

- Bất tỉnh.

Không cần thiết tất cả các triệu chứng có mặt trước khi tìm sự giúp đỡ. Một người bất tỉnh hoặc không thể đánh thức được có nguy cơ tử vong.

Nếu nghi ngờ rằng ai đó đã bị ngộ độc rượu, thậm chí nếu không thấy các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.

Trong trường hợp khẩn cấp, hãy làm theo các gợi ý:

- Nếu một người bất tỉnh, Thở ít hơn tám lần một phút hoặc đã lặp đi lặp lại nôn không kiểm soát được, hãy gọi số khẩn cấp địa phương ngay lập tức. Hãy ghi nhớ rằng ngay cả khi một người nào đó bất tỉnh hoặc đã ngừng uống, rượu vẫn tiếp tục được phát hành vào máu và mức độ của rượu trong cơ thể tiếp tục tăng. Không bao giờ giả định rằng một người “sẽ ngủ” trong ngộ độc rượu.

- Nếu người đó có ý thức. Các nhân viên tại trung tâm kiểm soát chất độc hoặc trung tâm gọi khẩn cấp có thể hướng dẫn là chăn sóc tại nhà hay trực tiếp đến bệnh viện . Tất cả các cuộc gọi đến trung tâm kiểm soát chất độc đều được giữ kín.

- Hãy sẵn sàng để cung cấp thông tin. Nếu biết, hãy chắc chắn để nói với nhân viên cấp cứu bệnh viện về các loại rượu uống, số lượng và khi nào.

- Không để một người bất tỉnh một mình. Trong khi chờ đợi để được giúp đỡ, không cố gắng để làm cho người nôn mửa. Những người đã bị ngộ độc rượu có giảm phản xạ và có thể sặc chất nôn của chính họ hoặc vô tình hít chất nôn vào phổi, mà có thể gây ra một chấn thương phổi gây tử vong.

Nguyên nhân

Rượu có trong nhiều hình thức, bao gồm:

- Isopropyl, Được tìm thấy trong rượu xát, sữa và một số sản phẩm tẩy rửa.

- Methanol, một thành phần phổ biến trong các chất chống đông, sơn và dung môi.

- Ethanol, tìm thấy trong đồ uống có cồn, nước súc miệng và một số thuốc.

Mặc dù ngộ độc rượu có thể xảy ra khi vô tình hoặc thậm chí cố ý tiêu thụ sản phẩm gia dụng có chứa rượu, hầu hết kết quả ngộ độc rượu do uống quá nhiều đồ uống có cồn, đặc biệt là trong một thời gian ngắn.

Bao nhiêu là quá nhiều?

- Không giống như thực phẩm, có thể mất thời gian để tiêu hóa, rượu được hấp thu nhanh chóng bởi cơ thể trước hầu hết các chất dinh dưỡng khác. Nếu uống khi đói, khoảng 20 phần trăm rượu được hấp thụ trực tiếp từ dạ dày và có thể tới não trong ít hơn một phút.

- Hầu hết rượu, mặc dù được xử lý bởi gan. Mất khoảng một giờ cho gan xử lý (chuyển hóa) rượu – nghĩa là 355 ml bia, 148 ml rượu vang hoặc 44 ml rượu mạnh. Đồ uống hỗn hợp đòi hỏi thời gian chuyển hóa lâu hơn.

- Tỷ lệ rượu được xử lý có thể thay đổi đáng kể từ người sang người và phụ thuộc vào một số yếu tố.

Điều gì xảy ra với cơ thể khi uống rượu?

- Rượu làm chậm kiểm soát dây thần kinh các hành động không tự nguyện như hơi thở, nhịp tim. Uống rượu quá nhiều có thể làm chậm và trong một số trường hợp có thể ngừng chức năng hô hấp và tuần hoàn. Nhiệt độ cơ thể cũng có thể hạ, dẫn đến ngừng tim. Và lượng đường trong máu có thể giảm thấp, đủ để gây ra cơn động kinh.

Yếu tố nguy cơ

Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc rượu, bao gồm:

- Tuổi. Trẻ thiếu niên và sinh viên đại học có nhiều khả năng uống, và bởi vì nhiều người lần đầu hoặc người uống thiếu kinh nghiệm, họ đang đặc biệt dễ bị ảnh hưởng của rượu. Tuy nhiên, trái với niềm tin phổ biến, đa số tử vong do ngộ độc rượu xảy ra ở những người độ tuổi 45 – 54.

- Giới tính. Theo truyền thống, trẻ em trai và đàn ông nhiều khả năng có ngộ độc rượu hơn em gái và phụ nữ. Trong những năm gần đây, tuy nhiên, khoảng cách đã thu hẹp. Ngày càng có nhiều phụ nữ uống hơn trong quá khứ, và nhiều hơn nữa là say rượu. Phụ nữ cũng dễ bị ảnh hưởng của rượu nói chung bởi vì họ sản xuất ít hơn một loại enzyme làm chậm sự hấp thu của rượu trong dạ dày.

- Trọng lượng. Cơ thể nhỏ hơn, hấp thụ rượu nhanh hơn, làm cho dễ bị ngộ độc rượu.

- Sức khỏe tổng thể. Có vấn đề sức khỏe , chẳng hạn như bệnh tim hoặc tiểu đường , làm cho dễ bị các tác hại của rượu.

- Trạng thái dạ dày. Có thức ăn trong dạ dày làm rượu hấp thu vào máu chậm hơn nhưng không ngăn cản rượu xâm nhập vào máu.

- Việc sử dụng ma túy. Kết hợp rượu với các thuốc khác, bao gồm cả một số thuốc theo toa, làm tăng rất nhiều nguy cơ của quá liều rượu gây tử vong.

Các biến chứng

- Rượu là một chất kích thích dạ dày và có thể gây nôn mửa. Nó cũng làm giảm phản xạ há miệng. Điều này làm tăng nguy cơ bị nghẹt thở vì chất nôn nếu uống rượu quá mức. Còn là một nguy cơ vô tình hít phải chất nôn vào phổi, có thể dẫn đến một sự gián đoạn nguy hiểm hoặc gây tử vong do ngạt thở. Nôn quá nhiều cũng có thể dẫn đến mất nước nặng.

- Ngộ độc rượu nặng có thể gây tử vong. Những người sống sót có thể có tổn thương não không thể đảo ngược.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Ngoài việc kiểm tra các dấu hiệu nhìn thấy được và triệu chứng của ngộ độc rượu, bác sĩ có khả năng chỉ định xét nghiệm máu để kiểm tra mức độ rượu trong máu và xác định các dấu hiệu khác của độc rượu, chẳng hạn như lượng đường trong máu thấp. Xét nghiệm nước tiểu cũng có thể giúp để xác nhận chẩn đoán ngộ độc rượu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị ngộ độc rượu thường bao gồm việc chăm sóc hỗ trợ trong khi cơ thể tự chuyển hóa rượu. Điều này thường bao gồm :

- Theo dõi cẩn thận.

- Bảo vệ đường thở để ngăn chặn nghẹn thở hoặc các vấn đề khác.

- Ôxy liệu pháp.

- Quản lý chất lỏng thông qua một tĩnh mạch để ngăn ngừa mất nước.

Người lớn và trẻ em đã vô tình nuốt phải methanol hoặc rượu isopropyl có thể cần phải chạy thận để lọc cơ học chất thải và độc tố từ hệ thống, để tăng tốc độ loại bỏ rượu từ máu.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục tại nhà

Tự khắc phục ngộ độc rượu tại nhà hầu hết không hiệu quả, và một số có thể nguy hiểm. Đây là những việc không làm:

- Dùng cà phê đen.

- Tắm vòi sen lạnh – những cú sốc của cảm lạnh có thể gây ra mất ý thức.

- Đi bộ.

- Có thể mất ý thức trong khi ngủ.

Nếu nghi ngờ rằng ai đó đã bị ngộ độc rượu, đây là những gì cần làm:

- Ở lại với một người đang nôn mửa và cố gắng giữ tư thế ngồi. Nếu phải nằm xuống, hãy chắc chắn để quay đầu sang một bên, điều này sẽ giúp ngăn ngừa nghẹn.

- Cố gắng giữ cho người tỉnh táo để tránh mất ý thức.

Đừng sợ để có được sự giúp đỡ cho một người, ngay cả khi nghĩ rằng nó sẽ không được đánh giá cao. Không để lái xe khi say rượu và cũng không để cho họ chết vì ngộ độc rượu.

Phòng chống

Đây là một số lời khuyên để tránh ngộ độc rượu:

- Để ngăn ngừa ngộ độc rượu, tiêu thụ đồ uống có cồn vừa phải. Hầu hết các bác sĩ khuyên nên không có nhiều hơn một lần uống một ngày cho phụ nữ và không quá hai lần uống trong ngày cho nam giới. Khi uống, hãy uống chậm.

- Giao tiếp với thanh thiếu niên. Nói chuyện với trẻ em tuổi teen về sự nguy hiểm của rượu. Say rượu tăng trong thời niên thiếu và thường là đỉnh trong độ tuổi từ 18 và 22, giảm sau đó. Bằng chứng cho thấy rằng trẻ em có cảnh báo về rượu của cha mẹ và những người quan hệ gần gũi với cha mẹ của họ ít có khả năng bắt đầu uống.

- Lưu trữ một cách an toàn. Nếu có con nhỏ ở nhà, cửa hàng rượu có chứa sản phẩm, bao gồm cả mỹ phẩm và thuốc men, để ngoài tầm tay của trẻ em. Trẻ em được cách ly với phòng tắm và tủ bếp để ngăn chặn truy cập vào các chất tẩy rửa, và giữ cho các hộ gia đình có chất độc hại trong nhà để xe hoặc khu vực lưu trữ một cách an toàn ngoài tầm với. Xem xét giữ đồ uống có cồn có khóa và chìa khóa.

- Nhận chăm sóc tiếp theo. Nếu đã được điều trị ngộ độc rượu, nhớ hỏi về việc chăm sóc tiếp theo. Gặp gỡ với một nhân viên y tế hoặc nhân viên tư vấn có thể giúp sắp xếp thông qua các vấn đề có thể dẫn đến uống và hành vi nguy hiểm khác. Giúp đỡ này có sẵn nhưng thường không được cung cấp.

Theo Dieutri.vn

Xơ gan mật

Xơ gan mật

Nguyên nhân chính xác của xơ gan mật là không biết đến, nhưng nó dường như là một chứng rối loạn hệ miễn dịch từ từ phá hủy các đường mật trong gan. Di truyền và môi trường cũng có thể đóng một vai trò trong bệnh này

Định nghĩa

Xơ gan mật chính là một căn bệnh, trong đó đường mật trong gan đang dần bị phá hủy. Mật, một chất lỏng được sản xuất trong gan, cần thiết cho việc tiêu hóa thích hợp của chất béo. Nó cũng giúp cơ thể loại bỏ cholesterol, các tế bào và các chất độc. Trong xơ gan đường mật, sự phá hủy của đường mật có thể gây ra các chất độc hại tích tụ trong gan và đôi khi dẫn đến sẹo không thể đảo ngược của mô gan (xơ gan).

Các nguyên nhân gây ra xơ gan đường mật vẫn chưa rõ ràng. Nhiều chuyên gia xem xét xơ gan đường mật là một bệnh tự miễn, trong đó cơ thể chống lại các tế bào của riêng của mình, mặc dù nó có thể là yếu tố di truyền và môi trường cũng đóng một phần. Xơ gan đường mật phát triển chậm. Thuốc có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh, đặc biệt là nếu bắt đầu điều trị sớm.

Các triệu chứng

Giai đoạn đầu

Mặc dù một số người bị xơ gan đường mật vẫn còn triệu chứng năm sau khi họ chẩn đoán, những người khác trải nghiệm một số triệu chứng ban đầu:

Mệt mỏi. Một triệu chứng phổ biến của xơ gan mật là mệt mỏi, nhưng các bác sĩ đã không tìm thấy bất kỳ sự tương quan giữa mức độ kiệt sức và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Điều này có nghĩa rằng những người bị đường mật xơ gan nhẹ và những người có bệnh nghiêm trọng hơn có thể là mệt mỏi như nhau.

Ngứa. Một triệu chứng phổ biến, ngứa thường khó chịu nhất trên chân, tay và lưng. Các mức độ nghiêm trọng của triệu chứng ngứa có thể thay đổi, thường trở thành tồi tệ hơn vào ban đêm và cải thiện trong ngày. Ban đêm ngứa có thể làm nhiễu loạn giấc ngủ, làm cho mệt mỏi tồi tệ hơn và đôi khi dẫn đến trầm cảm. Nguyên nhân của điều ngứa trầm trọng này là không rõ ràng.

Khô mắt và miệng (hội chứng sicca). Sicca thường xảy ra ở những người bị rối loạn tự miễn khác. Nó gây ra viêm nhiễm trong các tuyến tiết độ ẩm của mắt và miệng, dẫn đến giảm sản xuất của nước mắt và nước bọt.

Giai đoạn sau
Là sự hủy diệt của ống mật và tế bào gan tiến triển, các dấu hiệu và triệu chứng có thể phát triển, chẳng hạn như:

Vàng da. Một dấu hiệu phổ biến của bệnh gan nặng, vàng da biến làn da và, đôi mắt màu vàng. Sự đổi màu là do nồng độ trong máu bilirubin cao, một sản phẩm phụ của sự phân hủy của hemoglobin từ tế bào hồng cầu bị hư hỏng hoặc cũ. Thông thường, mật mang bilirubin trong gan để nó có thể được bài tiết ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, như nhiều ống dẫn mật bị phá hủy và làm chậm dòng chảy của mật, bilirubin bắt đầu xây dựng trong máu và cuối cùng trở nên vàng da có thể nhìn thấy trong ánh mắt và da.

Tăng sắc tố. Thiếu lưu lượng mật làm tăng sản xuất sắc tố melanin của da. Điều này làm cho làn da trở nên tối hơn, ngay cả trong khu vực không được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Đôi khi màu sắc sâu hơn là không đồng đều, và da xuất hiện vết trên da.

Sưng chân (phù) và bụng (cổ trướng). Khi tổn thương gan tiến triển, cơ thể bắt đầu để giữ muối và nước. Lúc đầu, các muối và nước dư thừa tích tụ chủ yếu ở bàn chân và mắt cá chân (phù nề), có xu hướng trở nên sưng lên vào cuối ngày. Theo thời gian, chất lỏng cũng có thể thu thập ở bụng.

Cholesterol máu tăng lên (xanthomas). Cơ thể sử dụng mật như là phương pháp chính của loại bỏ cholesterol dư thừa. Khi bệnh cản trở quá trình này, lượng cholesterol trong máu tăng lên. Điều này có thể dẫn đến sự hình thành mỡ trong da quanh mắt, mi mắt, hoặc trong các nếp gấp ở lòng bàn chân lòng bàn tay, khuỷu tay hoặc đầu gối. Tăng trưởng sáp thường không xuất hiện cho đến khi cholesterol trong máu đạt mức rất cao. Thậm chí sau đó, không phải tất cả mọi người bị xơ gan đường mật chính phát triển chúng.

Vấn đề tiêu hóa. Bởi vì mật là cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu chất béo, xơ gan đường mật chính có thể gây ra các vấn đề về đường ruột. Chúng bao gồm tiêu chảy và phân nhờn mỡ, phân có mùi xấu là kết quả của sự tiêu hóa chất béo kém.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính xác của xơ gan mật là không biết đến, nhưng nó dường như là một chứng rối loạn hệ miễn dịch từ từ phá hủy các đường mật trong gan. Di truyền và môi trường cũng có thể đóng một vai trò trong bệnh này.

Thông thường, mật được bài tiết vào không gian, kênh giữa các tế bào gan, chảy vào một loạt các kết nối của các ống nhỏ (ống dẫn). Các ống dẫn ban đầu là khá nhỏ, nhưng dần dần trở nên lớn hơn khi chúng lan qua gan, giống như các nhánh của một cái cây.

Nguồn gốc của tình trạng này

Các vấn đề trong xơ gan mật bắt đầu với viêm trong các ống nhỏ trong gan. Trong thời gian, viêm lan rộng và phá hủy tế bào gan ở gần đó. Khi các tế bào này bị tiêu diệt, chúng được thay thế bằng mô sẹo (xơ hóa). Trong khoảng thời gian hàng năm, sự kết hợp của viêm đang diễn ra, sẹo và độc tính từ mật bị mắc kẹt có thể dẫn đến xơ gan. Sẹo xơ gan liên quan đến việc không thể đảo ngược của mô gan làm cho nó không thể cho gan để thực hiện các chức năng cần thiết.

Viêm bắt đầu khi tế bào lympho T (T cells) bắt đầu tích tụ trong gan. T là những tế bào máu trắng là một phần của hệ thống đáp ứng miễn dịch. Thông thường, tế bào T nhận ra và giúp bảo vệ chống lại vi khuẩn và nấm. Nhưng trong xơ gan mật, các tế bào T xâm nhập và phá hủy các tế bào lót đường mật nhỏ. Các tế bào T cũng sản xuất hóa chất kích thích tế bào gan tiết ra các protein thu hút nhiều hơn các tế bào T, từ đó tạo ra một chu trình liên tục của các thiệt hại.

Các nhà nghiên cứu nghi ngờ tính nhạy cảm di truyền kết hợp với một kích hoạt môi trường, chẳng hạn như nhiễm trùng, có thể ở gốc của phản ứng miễn dịch bất thường:

Di truyền học. Xơ gan đường mật có vẻ chạy trong gia đình, và các nhà khoa học tin rằng một số người có thể kế thừa hệ thống miễn dịch dị tật nào đó làm cho họ dễ bị rối loạn. Nghiên cứu đã xác định được ba biến thể gen liên quan đến xơ gan đường mật Phát hiện này cuối cùng có thể giúp các nhà nghiên cứu thu hẹp vào nguyên nhân gây xơ gan đường mật.

Nhiễm trùng. Trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu nghi ngờ xơ gan mật có thể chính là kết quả của nấm hay ký sinh trùng lây nhiễm vi khuẩn, có thể giải thích khối của các tế bào T trong đường mật nhỏ. Một số phụ nữ được báo cáo có bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, chủ yếu là những người gây ra bởi vi khuẩn Escherichia coli, trước sự phát triển của xơ gan đường mật chính. Tuy nhiên, không có nhiễm trùng phổ biến vẫn chưa được thống nhất liên quan đến xơ gan đường mật chính.

Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ xơ gan đường mật chính:

Giới tính. Hơn 90 phần trăm số người xơ gan mật chính là phụ nữ.

Tuổi. Hầu hết mọi người chẩn đoán mắc bệnh xơ gan mật là 35 đến 60 tuổi. Mặc dù những người lớn tuổi có thể phát triển căn bệnh, hiếm ở trẻ em.

Lịch sử gia đình. Có tiền sử gia đình của xơ gan đường mật chính làm tăng nguy cơ phát triển bệnh.

Các biến chứng

Khi tổn thương gan tiến triển, những người bị xơ gan đường mật có thể phát triển một số vấn đề nghiêm trọng, bao gồm:

Xơ gan. Thuật ngữ “xơ gan mật” là không hoàn toàn chính xác bởi vì xơ gan chỉ phát triển trong giai đoạn cuối của căn bệnh này – thường là nhiều năm sau khi chẩn đoán. Tuy nhiên, khi nó xảy ra, xơ gan có thể bị đe dọa tính mạng bởi vì nó cản trở khả năng của gan để thực hiện các chức năng cần thiết. Các trường hợp xơ gan mật được chia thành bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên – viêm đường mật là nghiêm trọng nhất, và giai đoạn 4 – xơ gan – sự nghiêm trọng nhất. Đang xơ gan có thể dẫn đến suy gan, xảy ra khi gan không còn khả năng hoạt động.

Tăng áp lực trong tĩnh mạch cửa. Máu từ ruột, lá lách, tuyến tụy đi vào gan thông qua mạch máu lớn gọi là tĩnh mạch cửa. Khi khối mô sẹo bình thường lưu thông qua gan, máu tràn, giống như nước phía sau đập, dẫn đến tăng áp lực trong tĩnh mạch. Và bởi vì máu không lưu thông bình thường qua gan, kích thích tố, thuốc và các chất độc khác không lọc đúng cách trước khi vào máu.

Tĩnh mạch mở rộng (varices). Khi lưu thông qua tĩnh mạch cửa làm chậm lại hoặc chặn, máu có thể sao lưu vào tĩnh mạch khác – chủ yếu là ở thực quản dạ dày. Các mạch máu có vách mỏng, và gia tăng áp lực trong tĩnh mạch có thể gây chảy máu dạ dày thực quản phía trên. Chảy máu này là một đe dọa khẩn cấp cuộc sống đòi hỏi phải chăm sóc y tế ngay lập tức.

Ung thư gan. Việc tiêu hủy các mô gan khỏe mạnh xảy ra trong xơ gan làm tăng nguy cơ ung thư gan.

Yếu xương (loãng xương) . Gan sẹo cản trở khả năng của gan xử lý vitamin D và canxi, cả hai đều là thiết yếu cho sự phát triển xương và sức khỏe . Kết quả là yếu, xương giòn và mất xương có thể là biến chứng của xơ gan đường mật giai đoạn cuối, và bác sĩ có thể yêu cầu một bài kiểm tra mật độ xương để tìm loãng xương.

Thiếu vitamin. Thiếu mật ảnh hưởng đến sự hấp thu chất béo và các vitamin tan trong chất béo, A, D, E và K. Điều này đôi khi dẫn đến thiếu hụt của các vitamin trong các trường hợp xơ gan mật tiến triển.

Nhận thức suy giảm. Một số người bị xơ gan đường mật có vấn đề với bộ nhớ và tập trung. Nhận thức những khó khăn dường như không tương quan trực tiếp đến số thiệt hại gan, tuy nhiên.

Các biến chứng khác
Ngoài ống mật và tổn thương gan, người bị xơ gan đường mật chính có thể có rối loạn chuyển hóa hoặc hệ thống miễn dịch khác, bao gồm:

Bệnh tuyến giáp. Vấn đề về tuyến giáp là phổ biến ở những người bị xơ gan đường mật. Có thể xuất hiện từ lâu trước khi thiệt hại ống mật được chẩn đoán, hoặc rối loạn tuyến giáp có thể phát triển sau khi đã nhận được chẩn đoán xơ gan đường mật.

Xơ cứng bì hạn chế (hội chứng CREST). Chứng rối loạn hệ thống miễn dịch này là một tập hợp con của xơ cứng bì, một căn bệnh dẫn đến dày, thắt chặt và xơ cứng mô liên kết. CREST có thể ảnh hưởng nhiều hệ thống cơ thể, bao gồm cả thực quản và mạch máu, đường tiêu hóa và đôi khi phổi và tim. Những người bị xơ gan đường mật nói chung có một số, chứ không phải tất cả, trong những dấu hiệu và triệu chứng của CREST.

Hiện tượng Raynaud. Một trong những thành phần của CREST, hiện tượng Raynaud cũng có thể xảy ra ở những người bị xơ gan đường mật. Nó xảy ra khi mạch máu nhỏ (mao mạch) co thắt để đáp ứng với stress hoặc cảm lạnh, ngăn chặn dòng chảy của máu. Các vùng da bị ảnh hưởng thường chuyển sang màu trắng trước khi trở thành màu xanh, lạnh và tê. Khi lưu thông được cải thiện, làn da thường đỏ.

Viêm khớp dạng thấp. Một số người bị xơ gan đường mật có các khớp đau mà tiêu biểu cho viêm khớp dạng thấp, một rối loạn tự miễn.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nhiều người bị xơ gan tiểu đường mật không có triệu chứng của căn bệnh này khi họ được chẩn đoán ban đầu. Thay vào đó, các bác sĩ thường nhận thức một vấn đề trong quá trình xét nghiệm máu định kỳ hay đánh giá một cho tình trạng khác.

Nếu bác sĩ nghi ngờ xơ gan mật, một số xét nghiệm có thể giúp làm cho việc chẩn đoán, bao gồm:

Xét nghiệm chức năng gan. Các xét nghiệm máu kiểm tra nồng độ của các enzym có thể cho biết bệnh gan trong ống mật thương tích và tổng hợp đặc biệt. Một số men gan tăng cao ở hầu hết mọi người với xơ gan mật, đặc biệt là phosphatase kiềm, được sản xuất trong đường mật.

Siêu âm hình ảnh. Điều này thử nghiệm không xâm lấn dùng sóng âm thanh tần số cao để tạo ra hình ảnh chính xác của cấu trúc bên trong cơ thể, bao gồm cả đường mật. Đôi khi được dùng để loại trừ nguyên nhân khác gây tắc nghẽn dòng chảy mật, chẳng hạn như sỏi mật hoặc các khối u.

  Kháng thể chống ti thể (AMAs). Tìm thấy trong mọi tế bào, ti thể sản xuất năng lượng chính của cơ thể. Kháng thể là các protein trong máu có thể trợ giúp tiêu diệt vi khuẩn và các mầm bệnh có hại khác. Hầu hết những người bị xơ gan đường mật có kháng thể chống ti thể – kháng thể enzyme mục tiêu trong ty thể. Những kháng thể này hầu như không bao giờ xảy ra ở những người không có xơ gan mật, ngay cả khi họ có các rối loạn khác về gan. Vì lý do đó, một thử nghiệm AMA tích cực được coi là một chỉ số rất đáng tin cậy của bệnh. Đồng thời, một tỷ lệ phần trăm nhỏ của những người bị xơ gan mật chính không có AMAs. Xét nghiệm dương tính sai, chỉ ra một vấn đề mà không tồn tại cũng có thể xảy ra. Bởi vì thử nghiệm AMA là không hoàn toàn đơn giản, bác sĩ thường thực hiện sinh thiết gan, dứt khoát có thể xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của bệnh.

Sinh thiết gan. Trong thử nghiệm này, một mẫu nhỏ mô gan (sinh thiết) được lấy ra và kiểm tra trong phòng thí nghiệm, hoặc là để xác định chẩn đoán hoặc để xác định mức độ (giai đoạn) của bệnh. Các bác sĩ rút các mô thông qua một đường rạch nhỏ, sử dụng một kim nhỏ. Bác sĩ có thể lấy mẫu sinh thiết gan hơn nữa trong thời gian tới để kiểm tra sự tiến triển của bệnh.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) và elastography cộng hưởng từ (GDNCBM). MRI là một hình ảnh thử nghiệm sử dụng thường xuyên một từ trường mạnh và sóng radio để tạo ra hình ảnh chi tiết bên trong cơ thể. Khi chẩn đoán xơ gan mật, MRI có thể được sử dụng để phát hiện bất thường của gan. GDNCBM là một thử nghiệm mới tương đối có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh tiểu đường mật xơ gan và có thể giúp tránh sự cần thiết cho sinh thiết gan, xâm hại nhiều hơn. GDNCBM hoạt động bằng cách kết hợp công nghệ hình ảnh cộng hưởng từ truyền thống với tần số thấp sóng âm thanh. Các thành phần MRI cho thấy kích thước và cấu trúc của các cơ quan mô. Các tần số thấp sóng âm thanh sau đó giúp tiết lộ tính chất vật lý của các mô và cơ quan – như độ cứng mô. Độ cứng của gan có thể chỉ ra xơ gan.

Sàng lọc

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể khám phá ra nếu một người có nguy cơ bị xơ gan đường mật sớm. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng đầu tiên thân nhân của người bị xơ gan đường mật chính có nhiều khả năng có kháng thể trong máu làm tăng nguy cơ của bệnh. Nếu có cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con – người đã xơ gan mật, bác sĩ có thể xét nghiệm máu cho các kháng thể này. Khi biết có, bác sĩ có thể giám sát chặt chẽ hơn và có thể điều trị trước đó. Điều trị sớm là quan trọng và có thể giúp làm chậm sự tiến triển của bệnh.

Phương pháp điều trị và thuốc

Vì chữa bệnh không tồn tại cho xơ gan đường mật, xử lý tập trung vào việc làm chậm tiến độ của bệnh, giảm triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng.

Điều trị bệnh

Phương pháp điều trị nhằm mục đích làm chậm lại bệnh tật và kéo dài cuộc sống bao gồm:

Ursodeoxycholic acid (UDCA). Còn được gọi là ursodiol (Actigall), UDCA là một acid mật giúp mật di chuyển qua gan. Mặc dù UDCA không chữa xơ gan đường mật, có thể kéo dài cuộc sống nếu bắt đầu sớm bệnh và thường được coi là dòng đầu tiên của điều trị. Nó ít có khả năng giúp đỡ những người có tổn thương gan cao cấp. Tác dụng phụ của UDCA có thể bao gồm tăng cân, rụng tóc và tiêu chảy.

Các loại thuốc khác. Đôi khi các loại thuốc khác được sử dụng hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng để điều trị xơ gan đường mật, nhưng nhiều người đã tỏ ra có tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc chưa được hiệu quả. Ví dụ, một số nghiên cứu cho thấy thuốc methotrexate, thường dùng để điều trị viêm khớp, bệnh vẩy nến và một số loại ung thư, không phải là hữu ích trong xơ gan mật, trong khi những người khác cho thấy nó sẽ được phần nào hiệu quả.

Gan cấy ghép. Khi điều trị xơ gan mật không còn kiểm soát và gan bắt đầu thất bại, được ghép gan có thể giúp kéo dài cuộc sống. Những người bị xơ gan mật đã ghép gan thường rất tốt, mặc dù bệnh có thể tái diễn trong gan mới.

Điều trị các triệu chứng

Thuốc chỉ có thể giúp điều trị mệt mỏi thường đi kèm với xơ gan mật là modafinil (Provigil). Nghiên cứu sớm về thuốc này đã cho thấy hứa hẹn trong điều trị mệt mỏi, nhưng cần nghiên cứu thêm để xác định vai trò của nó trong xơ gan đường mật chính.

Một số liệu pháp có thể được sử dụng để giúp kiểm soát ngứa dữ dội thường xảy ra trong xơ gan mật, bao gồm:

Cholestyramin và colestipol. Những loại thuốc hạ cholesterol có thể cung cấp được đánh dấu giúp giảm ngứa ở một số người, nhưng chúng có một số nhược điểm. Cholestyramin là một nếm bột khó chịu phải được trộn với thức ăn hoặc chất lỏng. Cả hai loại thuốc cản trở chuyển hóa cơ thể UDCA và một số thuốc khác, cũng như kích thích tố và một số vitamin. Và có thể tương tác với các thuốc khác đang dùng. Kiểm tra với bác sĩ trước khi kết hợp thuốc, kích thích tố hoặc sinh tố.

Rifampin. Thuốc này có thể được quy định đối với những người không thể chịu đựng được các tác dụng phụ của cholestyramin. Rifampin không làm việc cho tất cả mọi người, và nó tác dụng chậm, đôi khi dùng khoảng một tháng trước khi nó bắt đầu làm việc.

Opioid đối kháng. Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu xem liệu nhóm thuốc làm giảm ngứa trầm trọng ở những người bị xơ gan đường mật. Mặc dù một số những loại thuốc này có vẻ rất hiệu quả, phải được tiêm tĩnh mạch và có thể gây ra triệu chứng cai.

Ghép gan. Điều này có thể là lựa chọn duy nhất cho một số người có và không thể chịu được ngứa không giải tỏa.

Ngăn ngừa các biến chứng

Làm việc cùng nhau, và bác sĩ có thể giúp ngăn ngừa một số biến chứng có thể xảy ra với xơ gan đường mật:

Tăng áp lực trong tĩnh mạch cửa. Bác sĩ có thể theo dõi áp lực tĩnh mạch và tĩnh mạch mở rộng khi lần đầu tiên được chẩn đoán và cứ vài năm sau đó. Cần thường xuyên kiểm tra nhiều hơn nếu tĩnh mạch mở rộng được tìm thấy, nếu bị xơ gan hoặc nếu đã có xuất huyết tiêu hóa.

Yếu xương (loãng xương). Mặc dù nó không phải luôn luôn chắc chắn rằng bệnh loãng xương có thể phòng ngừa trong trường hợp xơ gan mật, điều trị bằng bisphosphonates có thể giúp tăng mật độ khoáng của xương. Các thuốc bisphosphonates được một nhóm các loại thuốc có thể ức chế sự cố xương và thậm chí tăng khối lượng xương. Lấy ít nhất 1.500mg canxi, cùng với một bổ sung vitamin D mỗi ngày, có thể có lợi ích. Hãy hỏi bác sĩ những gì lượng vitamin D cần thiết. Quan trọng không kém là các biện pháp phong cách sống như bỏ hút thuốc và nhận được thường xuyên tập thể dục.

Vitamin thiếu. Bác sĩ có thể khuyên nên tiêm vitamin K và nước uống bổ sung dựa trên các vitamin A, D và E.

Hiện tượng Raynaud. Mặc dù thuốc và thậm chí cả các lựa chọn phẫu thuật tồn tại trong điều trị Raynaud, các biện pháp tự chăm sóc thường rất thành công và thường cố gắng đầu tiên. Những biện pháp này bao gồm việc giữ cốt lõi của nhiệt độ cơ thể và bảo vệ bàn chân, bàn tay từ lạnh, cả trong nhà và ra ngoài. Phản hồi sinh học, một kỹ thuật dạy cho để kiểm soát phản ứng cơ thể nhất định có thể giúp đỡ. Autogenic đào tạo, một loại tiến bộ và thư giãn cơ bắp thôi miên, cũng có thể giúp cải thiện lưu lượng máu đến các chi. Nếu những phương pháp này không, bác sĩ có thể kê toa một thuốc giãn mạch như chặn kênh canxi kéo dài, một loại thuốc có thể mở các mạch máu nhỏ và lưu thông tăng lên.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Chăm sóc tốt sức khỏe tổng thể có thể giúp cảm thấy tốt hơn và cải thiện một số triệu chứng của xơ gan đường mật:

Ăn một chế độ ăn uống giảm natri, vì natri làm tăng nguy cơ sưng phù mô và tích lũy chất lỏng trong khoang bụng (cổ trướng).

Tập thể dục và có canxi và vitamin D bổ sung để giúp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh loãng xương.

Tránh uống rượu, bởi vì nó tăng tốc độ tiến triển của bệnh gan.

Thực hành tốt chăm sóc da để giảm ngứa. Tránh gãi. Sử dụng mát, nén ướt. Hãy thử soda lạnh hoặc tắm bột yến mạch. Tránh gây kích thích quần áo, xà phòng và chất tẩy rửa.

Sử dụng nước mắt nhân tạo để giúp làm giảm khô mắt.

Nếu là một người hút thuốc, bỏ thuốc lá. Hút thuốc có thể đẩy nhanh tốc độ của sẹo gan.

Kiểm tra với bác sĩ trước khi bắt đầu các thuốc mới hoặc bổ sung chế độ ăn uống. Bởi vì gan đang không hoạt động bình thường, sẽ có thể nhạy cảm hơn với tác động của thuốc theo toa trên, cũng như một số bổ sung chế độ ăn uống, kiểm tra với bác sĩ trước khi dùng bất cứ điều gì mới.

Đối phó và hỗ trợ

Mặc dù các dự báo cho những người bị xơ gan mật là tốt hơn nhiều hơn là trong quá khứ, nó vẫn có thể được khó khăn và bực bội để sống với một căn bệnh gan mãn tính. Khi các triệu chứng của bệnh phát triển, chẳng hạn như mệt mỏi và ngứa, nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sống.

Sau đây là một số chiến lược có thể thực hiện giao dịch với xơ gan đường mật dễ dàng hơn:

Giáo dục chính mình. Tìm hiểu tất cả mọi thứ muốn biết về xơ gan mật. Càng hiểu về những gì đang xảy ra trong cơ thể, càng có nhiều hoạt động có thể được trong việc tự chăm sóc. Ngoài việc nói chuyện với bác sĩ, tìm kiếm thông tin tại thư viện địa phương và trên các trang web liên kết với các tổ chức có uy tín.

Hãy dành thời gian cho chính mình. Ăn tốt, tập thể dục và nhận được đủ nghỉ ngơi có thể giúp cảm thấy tốt hơn. Hãy cố gắng lên kế hoạch trước cho những lần có thể cần nghỉ ngơi nhiều hơn.

Nhận trợ giúp. Nếu có bạn bè hoặc gia đình những người muốn giúp đỡ, đưa họ cung cấp và cho họ biết những gì sẽ là hữu ích nhất. Chấp nhận sự giúp đỡ.

Tìm kiếm sự hỗ trợ. Mối quan hệ mạnh có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp duy trì một thái độ tích cực. Nếu bạn bè hoặc gia đình khó hiểu biết căn bệnh, có thể tìm một nhóm hỗ trợ có thể hữu ích. Hỏi bác sĩ nếu có bất kỳ các nhóm hỗ trợ địa phương cho người bị xơ gan đường mật.

Theo Dieutri.vn