Hiển thị các bài đăng có nhãn làm đẹp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn làm đẹp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Hiểu đúng về chống lão hoá da

Hiểu đúng về chống lão hoá da

Để xoá đi dấu ấn thời gian trên gương mặt, nhiều chị em không tiếc tiền cho các sản phẩm chống lão hoá hay cầu cứu tới dịch vụ spa, thẩm mỹ viện… Tuy nhiên, chị em lại thiếu kiến thức trầm trọng về sự tấn công lặng lẽ của quá trình này…

1. Axit AHA ăn mòn da mặt

Sai.

Axit AHA còn được gọi với cái tên đơn giản là axit trái cây. Nó được chiết xuất thành kem dưỡng da ban ngày, mặt nạ dưỡng da từ mía, cam, táo…

Loại axit này thực sự là người bạn thân thiết của sắc đẹp nhờ khả năng đẩy nhanh quá trình tái tạo tế bào mới và đồng thời loại bỏ các tế bào da chết (làm chậm lại quá trình lão hoá da).

2. Các chất chống ôxy hoá ngăn chặn các gốc tự do

Đúng.

Các gốc tự do thực chất là các phân tử được sản sinh ra từ sự hô hấp tế bào, stress, ô nhiễm môi trường và chế độ sinh hoạt kém khoa học. Do thuộc tính ôxy hoá rất cao nên các gốc tự do có thể phá huỷ hoàn toàn màng tế bào, gây ra sự lão hoá sớm.

Để ngăn chặn sự tích tụ các gốc tự do, ta cần cung cấp cho cơ thể các chất chống ôxy hoá như vitamin E (có nhiều trong trái cây, rau xanh, mầm ngũ cốc…), vitamin C (các loại trái cây như cam, bưởi, dâu tây, xoài…), betacaroten (có trong các loại trái cây, rau củ màu đỏ), trà xanh.

3. Collagen có sẵn trong cơ thể

Đúng.

Là một loại protein có chức năng chính là chất “keo” kết nối các mô trong cơ thể và tạo sự đàn hồi cho da, collagen thực sự rất quan trọng đối với sức khoẻ cũng như sắc đẹp của con người.

Theo năm tháng, sự sản xuất collagen trong cơ thể kém đi, da mất dần đi độ căng và sự đàn hồi, da chùng và nhão sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nếp nhăn lộ diện.

4. Liệu pháp trẻ hoá bằng Botox là liều thuốc độc

Đúng.

Botox hay độc tố botulinum được sử dụng để làm tê liệt các cơ bắp trong phẫu thuật mắt và não. Từ 10 năm đổ lại đây, botox xuất hiện ngày càng nhiều trong phẫu thuật thẩm mỹ để làm trẻ hoá làn da trong chốc lát.

Thực tế, botox không phải là thần dược như nhiều chị em nghĩ. Nó không có khả năng làm bạn trẻ đến 20 tuổi hay xoá các rãnh nếp nhăn bằng co rút cơ. Chính vì thế, chị em cần hết sực thận trọng khi sử dụng liệu pháp trẻ hoá này để tránh những tác dụng phụ không mong muốn.

5. Màng chắn nắng chống lại sự lão hoá da

Đúng.

Các tia cực tím UV là thủ phạm chính gây ra sự lão hoá sớm của da. Vì thế, trước khi sử dụng các loại kem chống lão hoá, cần bảo vệ làn da trước sự tấn công của ánh nắng mặt trời dù rằng bạn không thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng hay không bao giờ phơi nắng đi chăng nữa.

Các loại kem dưỡng da ban ngày thường có chỉ số chống nắng SPF là 15 và thông thường các sản phẩm chăm sóc da ban ngày hiện nay đều có một chỉ số chống nắng nhất định.

6. Lượng vitamin C trong da tăng theo tuổi tác

Hoàn toàn sai.

So với làn da thông thường, tỉ lệ vitamin C ở làn da “có tuổi” bị cắt giảm tới 70%.

Vì thế, cần bổ sung gấp một chế độ ăn uống giàu vitamin C bởi vitamin này rất cần thiết cho sự sản sinh collagen và hạn chế các tác nhân gây hại từ tia cực tím.

7. Làn da của nam giới già nhanh hơn so với phụ nữ

Sai.

Làn da của nam giới thường nhờn và dày hơn của nữ giới. Chính nhờ sự khác biệt này nên cánh mày râu  bị tuổi già “hỏi thăm” muộn hơn so với chị em phụ nữ.

8. Cung cấp nước và dưỡng ẩm đều đặn là giải pháp tốt ngăn chặn lão hoá da

Đúng.

Thường xuyên cung cấp nước cho da mặt có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá da. Tốt nhất nên uống đủ nước mỗi ngày và sử dụng đều đặn các sản phẩm dưỡng ẩm (dạng kem, sữa hoặc mousse).

Theo Khiết Linh – dantri.com.vn

Tây y với bệnh Zona

Tây y với bệnh Zona

Zona là một bệnh ngoài da thường gặp. Nếu tính thời gian trong suốt cuộc đời thì tỷ lệ người mắc bệnh có thể lên tới 20% dân số. Bệnh có thể phát ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng tăng.
Đa số bệnh nhân zona có tiền sử mắc bệnh thủy đậu từ bé. Virut gây bệnh zona cùng loài với virut gây bệnh thủy đậu có tên là virut varicella. Bệnh thủy đậu gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Sau khi bệnh thủy đậu đã khỏi thì một số virut varicella vẫn còn tồn tại ở trạng thái tiềm tàng, không gây bệnh, cư trú ở hạch thần kinh. Khi gặp điều kiện thuận lợi như: suy giảm miễn dịch, suy nhược cơ thể, các sang chấn tinh thần… các virut này trở lại trạng thái hoạt động, nhân lên, phát triển ra các đầu dây thần kinh cảm giác và gây bệnh.


Lúc đầu bệnh nhân thường bị đau rát hoặc cả đau và rát ở một vùng da và tổ chức dưới da ở một bên thân thể. Nhiều bệnh nhân còn bị giật nhoi nhói từng cơn ở các vùng da này. Cảm giác đau rát tồn tại khoảng 1-3 ngày thì tại vùng da này sẽ nổi lên các mụn nước, tập trung thành từng chùm, nếu không điều trị kịp thời thì sẽ phát triển thành các bọng nước. Lúc đầu tổn thương chỉ có các đám nhỏ phân bố rải rác thành một dải, nếu không điều trị thì các mảng nhỏ này lan rộng ra và liên kết với nhau thành một mảng tổn thương lớn khu trú ở toàn bộ một vạt da ở một bên thân thể: cả một vùng ngực hoặc cả một vùng mạng sườn… Khi chưa có tổn thương da thì việc chẩn đoán bệnh thường gặp nhiều khó khăn. Khi bệnh nhân chỉ có đau ở vùng liên sườn bên trái thì rất dễ chẩn đoán nhầm với cơn đau thắt ngực. Đau ở vùng hố chậu phải có thể chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Đau ở vùng mạng sườn hay bị nhầm với bệnh lý của gan, dạ dày , ruột, thận… Đau ở vùng mắt hay nhầm với bệnh lý về mắt. Có những bệnh nhân bị đau đầu dữ dội một bên trước khi phát tổn thương da của zona thần kinh sọ não thì bệnh nhân rất lo lắng và đôi khi đã phải chụp CT sọ não để loại trừ các bệnh khác.

Về chăm sóc da tại chỗ: Tuyệt đối không gãi, cạo, xát chanh, xát muối, đắp đỗ xanh, gạo nếp. Nếu làm như trên sẽ làm cho tổn thương trở nên sâu hơn, lan rộng hơn và đặc biệt gây nhiễm trùng, loét. Bệnh nhân vẫn có thể tắm được hằng ngày nhưng không được xát xà phòng trực tiếp lên vùng da bị bệnh. Không cần kiêng ăn uống.

Thuốc điều trị

Nếu điều trị muộn hoặc điều trị sớm mà không đủ liều thì sẽ để lại nhiều biến chứng. Thời gian để trị liệu cho kết quả tốt nhất là 48 giờ sau khi có tổn thương da. Trong vòng một tuần thì kết quả chậm hơn nhưng vẫn tốt. Nếu để muộn quá thì kết quả điều trị kém và có thể để lại các di chứng như: đau kéo dài nhiều tháng, nhiều năm thậm chí có những người đau kéo dài đến hết cuộc đời, đặc biệt ở những người cao tuổi. Nếu zona gây tổn thương nhánh mắt dây thần kinh số V (được chẩn đoán là zona mắt) thì có thể gây giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Nếu zona gây tổn thương dây thần kinh số VII (Hội chứng Ramsay Hunt) có thể gây liệt mặt, méo mồm. Các biến chứng khác có thể gặp như: loét, sẹo lồi…

Tại chỗ : khi tổn thương còn mụn nước, tiết dịch nhiều thì không nên bôi các loại thuốc mỡ vì sẽ làm tăng phù nề tại tổn thương. Nên bôi các loại dung dịch như jarish, dalibour, dung dịch kháng sinh, xanh methylen, castelani…, sau 5-7 ngày tổn thương da khô hơn thì có thể bôi kem acyclovir ngày 3-5 lần.

Toàn thân : bệnh nhân bắt buộc phải uống đủ liều kháng sinh diệt virut dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Kháng sinh là acyclovir uống 1 lần 800mg x 5 lần trong 1 ngày, cách 3 giờ uống 1 lần. Thời gian uống thuốc là 7 – 8 ngày liên tục. Thuốc có tác dụng phụ là nôn hoặc tiêu chảy ở 3 – 5% các trường hợp. Khi có tác dụng phụ bệnh nhân phải đến khám lại ngay. Thuốc acyclovir không dùng cho bệnh nhân suy thận, trong trường hợp này có thể sử dụng điện châm cũng đạt được kết quả rất tốt ở nhiều bệnh nhân. Nếu đau quá có thể dùng thuốc giảm đau. Nếu có điều kiện thì có thể chiếu tia laser Helinion tại chỗ để tổn thương da chóng lành và góp phần hồi phục tổn thương dây thần kinh. Trong giai đoạn bệnh đang tiến triển có thể tiêm gama globulin 16% để tăng cường miễn dịch. Những bệnh nhân đau rát nhiều và mức độ đau giảm ít sau điều trị acyclovir thì có thể uống thêm các thuốc giảm đau thần kinh như lyrica, gabapentine, carbamazepine, amitriptyline nhưng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Zona thường không tái phát, không gây tổn thương các phủ tạng và não.

Vấn đề lây nhiễm zona

Virus Varicella Zoster có thể truyền qua rau thai. Trên thực tế chúng tôi thấy một số trường hợp bị zona sau khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu hoặc bệnh nhân zona. Ngược lại cũng có trường hợp con của một số bệnh nhân zona mắc thủy đậu sau vài tuần.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Rất nhiều thuốc (như chống đông máu, ức chế u, trị Parkinson, chống động kinh…) có thể gây rụng tóc. Vì vậy, để chẩn đoán nguyên nhân, bác sĩ thường tìm hiểu xem trước đó bệnh nhân có uống thuốc gì không .

Bệnh rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Nó có thể xuất hiện sau khi bị ốm nặng (sốt rét, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết…), sau sẩy thai, sinh đẻ, sau chấn thương lớn, mất máu. Thường tóc thưa đều, hơi khô, xơ xác, khi cơ thể hồi phục nó sẽ mọc lại.

Các yếu tố cơ lý hóa (uốn tóc bằng lược, sức nóng, nhuộm, uốn tóc bằng hóa chất, chải tóc quá nhiều bằng lược cứng, căng kéo xoắn bện quá chặt…) cũng làm sợi tóc bị biến dạng, gãy rụng.

Trong rụng tóc pelade, vùng da đầu có một hay nhiều đám rụng tóc hình tròn, đường kính vài cm, da nhẵn trắng trông giống như sẹo, có khi các đám liên kết thành dải, vằn vèo “thể rắn bò”, một số trường hợp có thể rụng nhẵn toàn bộ da đầu, thậm chí rụng cả lông mày, lông nách, lông mi. Loại này thường liên quan yếu tố căng thẳng thần kinh.

Rụng tóc do nấm (chủng microsporum, trichophyton) khá phổ biến, thường gặp ở trẻ em lứa tuổi học đường, lây từ người sang người do dùng chung lược, mũ hoặc lây từ súc vật (chó, mèo) sang người do ôm, bế. Biểu hiện là da đầu có đám mảng viêm đỏ, có vảy trắng, tóc bị phạt gãy, chân tóc còn lại cách da đầu từ vài mm đến 1-2 cm hoặc chỉ còn chấm đen, có khi chân tóc được bao bởi lớp vảy trắng như bị “nhúng trong bột”. Có thể xác định bằng soi nấm, cấy nấm, điều trị bằng bôi kem nizoral, uống ketoconazol.

Bệnh rụng tóc da dầu (còn gọi rụng tóc liên quan androgen hay chứng hói tiến triển) thường do di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu, làm nang tóc giảm kích thước, dần dần teo và rụng. Loại này gặp ở nam nhiều hơn nữ, nam 30-40 tuổi trở lên, nữ xuất hiện muộn hơn (40% bị ở tuổi 60-70). Đầu tiên, tóc rụng thưa dần ở phía trước trán, tạo thành hình lượn sóng chữ M, sau rụng đến vùng giữa đỉnh đầu và dần dần hói hoàn toàn phía trên (trán và đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương hai bên và gáy vẫn còn tóc. Điều trị bằng xịt dung dịch minoxidil và tốt nhất là cấy tóc (hair transplantation). Lấy từng khóm tóc nhỏ vùng thái dương, gáy chẩm của người đó cấy lên vùng rụng tóc.

Rụng tóc do tật nhổ tóc hay gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam. Họ thường nhổ tóc vùng trán phía trước và hai bên thái dương làm tóc nham nhở không đều, chỗ mọc tốt xen kẽ chỗ thưa. Có khi bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, có cảm giác thúc giục không thể cưỡng lại và chỉ nhẹ nhõm sau khi nhổ tóc.

Người bị giang mai giai đoạn 2 (3 tháng sau khi nhiễm bệnh trở đi) cũng bị rụng tóc kiểu “rừng thưa”, tóc rụng nham nhở không đều hai bên thái dương như gián nhấm. Điều trị khỏi bệnh giang mai, tóc sẽ mọc lại.

Bệnh rụng tóc chuỗi hạt (monilethrix) liên quan đến yếu tố di truyền, gặp cả ở nam và nữ, thường xuất hiện từ nhỏ hoặc tuổi thiếu niên. Thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày phình to ra một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc, tóc bị gãy đứt đoạn. Da dầu, tóc thưa bị gãy, rụng trông như hói, da đầu phủ đầy tóc ngắn, dày sừng nang lông nên trông xù xì, thô ráp.

Rụng tóc còn là hậu quả của các bệnh da khác có đám tổn thương ở đầu. Các tổn thương này có quá trình viêm, tạo mủ, tạo sẹo, teo da… gây nên rụng tóc vùng đó, như lupút đỏ mạn dạng đĩa, viêm nang lông trụi tóc, nấm tóc loại kerion, xơ cứng bì khu trú, bệnh muxin nang lông, ung thư tế bào đáy…

Rụng tóc do nhiều nguyên nhân gây nên. Do đó, khi bị rụng tóc, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để xác định thể bệnh và có cách điều trị đúng đắn nhất.

BS Bùi Khánh Duy, Sức Khỏe & Đời Sống

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona, theo từ chuyên môn là Herpes zoster, là mẫn đỏ da gây ra do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu. Vi-rút gây bệnh này có tên là Varicella zoster. Sau khi bị bệnh thuỷ đậu, vi-rút sống trong dây thần kinh, nguyên nhân tại sao vẫn chưa có lời giải đáp.

Trong một số hoàn cảnh nào đó như xúc động, stress, suy giảm miễn dịch ( AIDS , hoá trị liệu ) hay ung thư, vi rút sẽ hoạt động trở lại gây bệnh zona. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, nguyên nhân hoạt động trở lại của virút vẫn chưa có căn cứ. Vi rút này gây ra bệnh thuỷ đậu và bệnh zona, không giống với virút gây mụn nước ở cơ quan sinh dục và ở miệng.

Bệnh zona khởi phát và tiến triển như thế nào?

Trước khi thấy được những mẫn đỏ, bệnh nhân có thể có cảm giác đau rát và nhạy cảm vùng da trước đó vài ngày đến 1 tuần. Bệnh zona khởi đầu là những mụn rộp (mụn nước) trên nền da màu đỏ, những mụn nước mới tiếp tục hình thành từ 3-5 ngày. Mụn nước này thường đi theo đường dây thần kinh của tuỷ sống.

Toàn bộ dây thần kinh liên quan có thể bị, hay những vùng khác không có liên quan đến phân bố dây thần kinh cũng có thể bị. Thường thì bệnh zona chỉ ăn theo một dây thần kinh, hiếm khi bị nhiều hơn một dây thần kinh.

Cuối cùng thì các mụn nước này vỡ ra và bắt đầu chảy nước, bề mặt bên trên khô đi và hoá sẹo. Quá trình này có thể kéo dài 3-4 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh đến khi khỏi. Thỉnh thoảng, đau vẫn còn mặc dù không bao giờ nhìn thấy mụn nước, làm dễ lầm lẫn với nguyên nhân đau tại chỗ.

Bệnh zona có lây không ?

Vâng. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác.

Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa.

Điều trị zona như thế nào ? Tôi sẽ chăm sóc sức khoẻ của mình như thế nào ?

Có một số cách điều trị zona. Thuốc kháng vi-rút như acyclovir (Zovirax) hay famciclovir (Famvir) có thể làm rút ngắn thời gian bị mẫn đỏ da, nếu bắt đầu dùng sớm trong vòng 48 giờ khi xuất hiện mẫn đỏ. Phối hợp thêm thuốc nhóm steroid cũng có thể hạn chế và rút ngắn thời gian bị đau do zona. Tuy nhiên, lợi ích của 2 loại thuốc này vẫn còn hạn chế.

Ngoài thuốc kháng vi-rút, thuốc giảm đau cũng cần thiết để kiểm soát triệu chứng . Vùng da bị bệnh cần phải được giữ sạch sẽ và khô ráo. Người bệnh vẫn có thể được tắm rữa, kỳ cọ bằng xà phòng và nước nơi bị zona mà không bị cấm. Dung dịch aluminum acetate (Burows hay Domeboro”s, có bán ở nhà thuốc) có thể được sử dụng giúp làm khô bề mặt da bị zona và nơi rĩ dịch.

Biến chứng của bệnh zona là gì?

Thường thì bệnh zona được chữa khỏi, và bệnh zona cũng có một số vấn đề. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau.

Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này.

Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế.

Đau dây thần kinh sau bệnh zona là gì ? Và cần phải làm gì khi bị như vậy?

Đau dây thần kinh sau zona là đau khu trú ở vùng có liên quan đến bệnh zona, cơn đau này có thể kéo dài cả tháng.

Biến chứng thường gặp nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau bệnh zona Đau dây thần kinh sau zona thường kéo dài cả tháng, thậm chí ngay sau khi bệnh zona đã khỏi mà đau thì vẫn còn. Ở những người trên 50 tuổi, bị zona lần đầu, thường bệnh zona gây đau nhiều hơn, người bệnh dễ bị suy sụp hơn. Rõ ràng là điều trị zona bằng steroid và thuốc kháng vi-rút có thể rút ngắn thời gian và tai biến đau dây thần kinh sau zona. Tuy nhiên, chỉ giảm đi đôi chút.

Đau dây thần kinh sau zona có thể được điều trị bằng nhiều loại thuốc như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng amitriptyline (Elavil), và các thuốc khác như thuốc chống động kinh gabapentin (Neurontin), carbamazipine (Tegretol), được dùng để giảm đau dây thần kinh do zona.

Cuối cùng, kem capsaicin (Zostrix), là một chất được chiết xuất từ trái ớt, có thể được dùng để thoa lên vùng da bị zona để làm giảm đau, sau khi các mụn nước đã khô. Châm cứu và kích thích điện thần kinh vùng da bị bệnh cũng giúp ích được cho vài bệnh nhân. Lidocain dạng dán da cũng có thể giúp giảm đau dây thần kinh do zona.

Việc chọn lựa thuốc nào là tốt nhất cho bạn, cần phải thảo luận với thầy thuốc của bạn.

Tóm lược bệnh zona

Bệnh zona do vi-rút cùng loại với virút gây bệnh thuỷ đậu, bệnh lây sang người mà người đó trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh zona còn được gọi là Herpes zoster, bệnh này không liên quan gì đến bệnh nhiễm herpes sinh dục.

Bệnh zona có thể gây đau kéo dài, ngay cả sau khi hết mẫn đỏ da.

Steroids và thuốc kháng virút có thể giúp ngăn ngừa đau lâu dài sau nhiễm zona, nếu bắt đầu điều trị trong vòng 2 ngày đầu sau khi xuất hiện mẫn đỏ da.

Mất nước

Mất nước

Mất nước! Khô miệng, buồn ngủ và mệt mỏi, khát nước, giảm lượng nước tiểu, khóc không nước mắt hoặc rất ít, cơ yếu, nhức đầu, chóng mặt, nhầm lẫn…Nếu nghiêm trọng: Khô da – miệng, thiếu mồ hôi, khát tột cùng, mắt trũng, nhịp tim nhanh, sốt, mê sảng hoặc bất tỉnh…

Định nghĩa

Mất nước xảy ra khi bị mất nhiều chất lỏng hơn đi vào, và cơ thể không có đủ nước và các chất lỏng khác để thực hiện chức năng bình thường của nó. Nếu không bổ sung chất lỏng bị mất, có thể phải chịu hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân thường gặp của mất nước bao gồm tiêu chảy dữ dội, nôn mửa, sốt hoặc đổ mồ hôi quá nhiều. Không đủ lượng nước trong thời tiết nóng hoặc tập thể dục cũng có thể gây mất nước. Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước, nhưng trẻ nhỏ, người cao niên và những người có bệnh mãn tính có nguy cơ cao nhất.

Thường có thể đảo ngược nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách tăng lượng chất lỏng, nhưng mất nước nặng cần điều trị y tế ngay lập tức. Phương pháp an toàn nhất là phòng ngừa mất nước. Trong thời tiết nóng, bệnh tật hoặc tập thể dục và uống chất lỏng đủ để thay thế những gì mất.

Các triệu chứng

Mất nước nhẹ đến vừa phải có thể gây ra:

- Khô, dính miệng.

- Buồn ngủ hoặc mệt mỏi – trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

- Khát.

- Giảm lượng nước tiểu – ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

- Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

- Cơ yếu.

- Nhức đầu.

- Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

- Khát tột cùng.

- Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

- Rất khô miệng, da và màng nhầy.

- Thiếu ra mồ hôi.

- Đi tiểu ít hoặc không có – bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

- Mắt trũng.

- Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

- Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng – sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

- Huyết áp thấp.

- Nhịp tim nhanh.

- Sốt.

- Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Thật không may, khát không phải là luôn luôn là một thước đo đáng tin cậy cần thiết của cơ thể đối với nước, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi. Một thước đo tốt hơn là màu của nước tiểu: Trong hoặc màu nước tiểu ánh sáng có nghĩa là cũng đang ngậm nước, trong khi một màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách thường là tín hiệu mất nước.

Nếu là một người lớn khỏe mạnh,  thường có thể xử lý nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách uống chất lỏng nhiều hơn nữa. Nhận chăm sóc y tế ngay nếu phát triển các dấu hiệu nặng và các triệu chứng như khát cùng cực, không đi tiểu được tám giờ, héo da, chóng mặt và nhầm lẫn.

Hãy đối xử với trẻ em và người lớn tuổi thận trọng hơn. Gọi cho bác sĩ gia đình ngay nếu trẻ:

- Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

- Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

- Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

- Không thể uống chất lỏng.

- Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

- Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Tới phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc gọi số khẩn cấp y tế nếu  nghĩ rằng một đứa trẻ hoặc người lớn tuổi mất nước nặng. Có thể giúp ngăn ngừa mất nước trở nên trầm trọng bằng cách cẩn thận theo dõi một người mắc bệnh và dùng dịch khi dấu hiệu đầu tiên của bệnh tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt và bằng cách khuyến khích trẻ em uống thật nhiều nước trước, trong và sau khi tập thể dục.

Nguyên nhân

Nước là thiết yếu cho đời sống con người: Nó tạo cơ sở cho tất cả các dịch cơ thể, bao gồm cả máu và nước tiêu hóa, nó viện trợ trong việc vận chuyển và hấp thụ các chất dinh dưỡng và nó giúp loại bỏ chất thải.

Nếu là một người lớn trung bình, mỗi ngày bị mất nhiều hơn gần 2,5 lít nước, đơn giản bằng cách ra mồ hôi, hơi thở và loại bỏ chất thải. Cũng bị mất điện giải – khoáng chất như natri, kali và canxi mà duy trì sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể. Thông thường,  có thể bổ sung những gì đã mất đi thông qua các loại thực phẩm và chất lỏng tiêu thụ, thậm chí khi đang hoạt động.

Nhưng khi loại bỏ nhiều nước hơn và các muối hơn thay thế, kết quả mất nước. Đôi khi xảy ra mất nước vì lý do đơn giản:  Không uống đủ bởi vì đang bị bệnh hoặc bận rộn, hay vì thiếu tiếp cận với nước uống khi đang đi du lịch, leo núi hoặc cắm trại.

Nguyên nhân mất nước khác bao gồm:

Tiêu chảy, ói mửa. Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Sốt. Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi.   Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Tăng đi tiểu. Điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể  sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường , đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Bỏng. Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước nếu sự mất mát chất lỏng vượt quá lượng nước nhận. Nhưng một số người có nguy cơ lớn hơn, bao gồm:

Trẻ sơ sinh và trẻ em. Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Người lớn tuổi. Lớn tuổi, trở nên dễ bị mất nước vì nhiều lý do: Cơ thể giảm khả năng để bảo tồn nước, cảm giác khát trở nên ít cấp tính và ít có khả năng đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ. Hơn nữa, người lớn tuổi, đặc biệt là những người trong nhà điều dưỡng hoặc sống một mình có xu hướng ăn ít hơn người trẻ tuổi và đôi khi có thể quên ăn hoặc uống hoàn toàn. Những vấn đề phức tạp bởi bệnh mãn tính như tiểu đường, thay đổi hoóc môn liên quan đến thời kỳ mãn kinh và do việc sử dụng các loại thuốc nhất định.

Những người có bệnh mãn tính. Có bệnh tiểu đường không kiểm soát được hoặc không được điều trị có nguy cơ cao mất nước. Nhưng căn bệnh mãn tính khác cũng làm cho nhiều khả năng trở thành mất nước. Chúng bao gồm bệnh thận, xơ nang, nghiện rượu và các rối loạn tuyến thượng thận. Thậm chí cảm lạnh hoặc đau cổ họng làm cho dễ bị mất nước vì ít ăn hoặc uống khi đang bị bệnh. Sốt làm tăng mất nước nhiều hơn.

Số lượng vận động. Bất cứ ai có thể trở thành mất nước, nhất là trong nóng, điều kiện ẩm ướt hoặc ở độ cao. Nhưng vận động viên đào tạo cho và tham gia ultramarathons, triathlons, leo núi thám hiểm và các giải đấu đi xe đạp có nguy cơ đặc biệt cao. Trong thời gian tập thể dục, cơ thể có thể hấp thụ khoảng 24 – 32 ounces nước một giờ, nhưng có thể mất hai lần đó trong thời tiết nóng. Mất nước cũng tích lũy trong một khoảng thời gian, có nghĩa là có thể trở nên mất nước với ngay cả tập thể dục vừa phải thường xuyên nếu không uống đủ để thay thế những gì bị mất trên một cơ sở hàng ngày.

Những người sống ở độ cao cao. Sống, làm việc và thực hiện ở độ cao cao (khoảng 2.400 đến 3.600 mét) hoặc độ cao rất lớn (khoảng 3.600 đến 5.400 mét) có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe . Một là mất nước, mà thường xảy ra khi cơ thể cố gắng để thích nghi với cao độ thông qua việc đi tiểu nhiều hơn và thở nhanh – để duy trì nồng độ oxy trong máu đầy đủ.

Các biến chứng

Mất nước có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng .

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ thường có thể chẩn đoán mất nước trên cơ sở các dấu hiệu và triệu chứng thể chất như đi tiểu ít hoặc không có, mắt trũng và làn da thiếu độ đàn hồi bình thường của nó và khả năng phục hồi khi bị chèn ép. Nếu đang mất nước, cũng có thể có huyết áp thấp, đặc biệt là khi di chuyển từ một vị trí nằm và đứng, nhịp tim nhanh hơn bình thường và lưu lượng máu giảm xuống.

Để giúp xác định chẩn đoán và xác định mức độ mất nước, có thể có các xét nghiệm khác, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Đây có thể được sử dụng để kiểm tra chất điện giải, đặc biệt là natri và kali, để tìm những dấu hiệu cô đặc máu và để đánh giá thận đang làm việc như thế nào.

Phân tích nước tiểu. Các màu sắc và độ trong của nước tiểu, sự hiện diện của các hợp chất carbon (xeton) và trọng lượng riêng nước tiểu, khối lượng của nước tiểu so với khối lượng của nước cất – tất cả chỉ giúp phân độ. Một tỷ trọng cao, chỉ ra mất nước đáng kể.

Nếu nó không rõ ràng lý do tại sao đang mất nước, bác sĩ có thể tự thêm các xét nghiệm để kiểm tra bệnh tiểu đường và cho gan hoặc vấn đề về thận.

Phương pháp điều trị và thuốc

Các chỉ dẫn hiệu quả điều trị mất nước là để thay thế chất dịch bị mất và điện giải bị mất. Cách tiếp cận tốt nhất để điều trị mất nước phụ thuộc vào tuổi, mức độ mất nước  và nguyên nhân của nó.

Điều trị mất nước ở trẻ em bị bệnh

Bác sĩ có thể cung cấp các đề xuất cụ thể để điều trị mất nước ở trẻ em, nhưng một số hướng dẫn chung bao gồm:

Sử dụng một giải pháp bù nước đường uống. Trừ khi bác sĩ khuyên nếu không hãy sử dụng một giải pháp bù nước đường uống như Pedialyte cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Những giải pháp này có chứa nước và muối theo tỷ lệ cụ thể để bổ sung cả chất lỏng và chất điện giải. Nó cũng có chứa glucose hay carbohydrate khác như gạo bột để tăng cường sự hấp thụ trong đường ruột. Các sản phẩm uống bù nước đang có sẵn trong hầu hết các nhà thuốc và nhiều thuốc mang thương hiệu riêng. Bắt đầu bù dịch khi khởi đầu quá trình bệnh tật thay vì chờ cho đến khi tình hình trở nên cấp bách.

Trong hầu hết các nước đang phát triển, có thể mua các gói bột uống của một giải pháp bù nước, WHO – ORS, ban đầu được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới để điều trị tiêu chảy và mất nước ở trẻ sơ sinh với bệnh tả. Bột trong nước theo các chỉ dẫn trên bao bì. Luôn làm sạch nước bằng cách đun sôi, lọc hoặc các phương pháp đã được chứng minh khác. Đo lượng nước, sau đó thêm các vật liệu dạng bột uống bù nước.

Trong một tình huống khẩn cấp một giải pháp xây dựng không có sẵn, có thể tạo riêng giải pháp bù nước qua miệng bằng cách trộn 1 / 2 muỗng cà phê muối, 1 / 2 muỗng cà phê baking soda, 3 muỗng canh đường và 1 lít nước. Hãy chắc chắn để đo lường một cách chính xác bởi vì không chính xác có thể làm cho giải pháp kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại. Nếu có thể, có một người nào khác kiểm tra các phép đo cho chính xác.

Bất cứ điều gì khác đã chọn, hãy chắc chắn để cung cấp cho giải pháp đủ. Bác sĩ có thể đề nghị cụ thể, tùy thuộc vào tuổi của trẻ và mức độ mất nước, nhưng một quy luật chung để giữ cho các chất lỏng từ từ cho đến khi nước tiểu của con trở nên rõ ràng trong màu sắc. Khi trẻ nôn mửa, hãy thử cho một lượng nhỏ dung dịch trong khoảng thời gian thường xuyên – 1 muỗng cà phê mỗi phút. Nếu trẻ không thể uống, chờ đợi 30 – 60 phút và thử lại. Nhiệt độ dịch giữ sao cho được tốt nhất.

Tiếp tục để nuôi con bằng sữa mẹ. Không ngừng cho con bú khi bé bị ốm, nhưng thêm một giải pháp bù nước đường uống là tốt. Nếu quý vị cho sữa bột trẻ em, hãy thử chuyển sang một trong đó là lactose, cho đến khi tiêu chảy cải thiện, lactose có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Không bao giờ công thức pha loãng hơn hướng dẫn tư vấn. Bác sĩ cũng có thể đề xuất thay thế một giải pháp bù nước uống cho các công thức cho 12 – 24 giờ.

Tránh một số loại thực phẩm và thức uống. Các chất lỏng tốt nhất cho một đứa trẻ bị bệnh là một giải pháp bù nước đường uống, nước tinh khiết không cung cấp điện giải cần thiết, và mặc dù thức uống thể thao bổ sung chất điện giải thay thế những người bị mất qua mồ hôi, không phải thông qua tiêu chảy hoặc nôn mửa. Tránh cho trẻ em  đồ mặn, sữa đặc biệt là đun sôi sữa – nước ngọt, nước trái cây hoặc keo động vật, không làm giảm mất nước và có thể làm triệu chứng nặng hơn.

Điều trị mất nước ở người lớn bị bệnh

Hầu hết người lớn bị mất nước nhẹ đến trung bình từ tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Có thể cải thiện tình trạng của họ bằng cách uống nhiều nước hơn. Nước là tốt nhất bởi vì các chất lỏng khác, chẳng hạn như nước quả, đồ uống có ga hay cà phê có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn.

Điều trị mất nước ở các vận động viên thuộc mọi lứa tuổi

Đối với tập thể dục liên quan đến mất nước. Thức uống thể thao có chứa điện giải và một giải pháp carbohydrate cũng có thể hữu ích. Không cần cho thuốc viên muối – quá nhiều muối có thể dẫn đến mất nước tăng natri huyết, một tình trạng mà cơ thể không chỉ là thiếu nước mà còn quá nhiều natri.

Điều trị mất nước trầm trọng

Trẻ em và người lớn, những người mất nước nặng cần được điều trị bởi nhân viên cấp cứu đến trong xe cứu thương hoặc trong một phòng cấp cứu bệnh viện, nơi họ có thể nhận được muối và các chất lỏng thông qua một tĩnh mạch hơn là bằng miệng. Tĩnh mạch hydrat hóa cung cấp cho cơ thể nước và chất dinh dưỡng cần thiết nhanh hơn nhiều so với các giải pháp uống – cái gì đó là cần thiết trong các tình huống đe dọa tính mạng.

Phòng chống

Để ngăn ngừa mất nước, tiêu thụ nhiều chất lỏng và các thực phẩm giàu nước như trái cây và rau quả. Chất lỏng có thể thu được không chỉ từ nước mà còn từ đồ uống và thực phẩm khác. Nhưng, nếu đang tập thể dục, không chờ đợi cho khát để theo kịp với chất dịch mất.

Một số trường hợp, có thể cần phải thực hiện trong chất lỏng nhiều hơn bình thường:

Bệnh tật. Bắt đầu cho thêm nước hoặc bù nước qua một giải pháp tại các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tật, không chờ đợi cho đến khi mất nước xảy ra. Và mặc dù có vẻ hấp dẫn, chất lỏng truyền thống như rượu bia gừng hoặc nước ngọt khác lại chứa quá nhiều đường và natri quá ít để bổ sung chất điện giải bị mất.

Tập thể dục. Nói chung, tốt nhất bắt đầu uống nước ngay trước khi tập thể dục vất vả. Sản xuất nhiều và pha loãng nước tiểu là một dấu hiệu tốt. Hai giờ trước khi một sự chịu đựng như một marathon, uống 2 ly nước. Một đến 2 ly nước đầy đủ thường trước khi tập thể dục ngắn hơn. Trong thời gian hoạt động, bổ sung chất lỏng ở các khoảng thời gian và tiếp tục uống nước hoặc chất dịch khác sau khi hoàn tất.

Hãy ghi nhớ rằng uống quá nhiều không chỉ có thể gây đầy hơi và khó chịu, mà có thể dẫn đến một tình trạng thể gây tử vong, trong đó natri máu  trở nên quá thấp. Điều này xảy ra khi uống nước nhiều hơn bị mất qua mồ hôi.

Môi trường. Cần uống nước bổ sung trong thời tiết nóng hoặc ẩm để giúp giảm nhiệt độ cơ thể và để thay thế những gì bị mất qua mồ hôi. Cũng có thể cần thêm nước trong thời tiết lạnh, nếu  đổ mồ hôi trong khi mặc quần áo cách nhiệt. Nước nóng, không khí trong nhà có thể gây ra làn da bị mất độ ẩm, tăng yêu cầu hàng ngày của chất dịch. Và độ cao lớn hơn 2.500 mét cũng có thể ảnh hưởng đến bao nhiêu nước cơ thể cần. Nếu mất nước xảy ra khi đang tập thể dục trong thời tiết nóng, vào một khu vực râm và bắt đầu bù nước.

Theo Dieutri.vn

BƯỚU THẬN

BƯỚU THẬN

A. BƯỚU LÀNH

  • Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

 

B. BƯỚU ÁC TÍNH

I. Ở TRẺ EM:

  • Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp , sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

II. Ở NGƯỜI LỚN:

B ướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

1. Giải phẫu bệnh và tiến triển:

  • Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày, Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.
  • Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.
  • Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

  2. Biểu hiện lâm sàng:

  Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đau khối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

  • Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.
  • Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.
  • Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.
  • Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

  3. Chẩn đoán dựa vào:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

4. Ðiều trị:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

I II. BƯỚU ÐÀI BỂ THẬN:

  • Thường là loại tế bào chuyển tiếp (niệu mạc – urothelium ). Ðôi khi niệu mạc có thể bị chuyển sản ( Metaplasia ) trở thành tế bào gai ( Squamous cells ) và gây ra ung thư tế bào tuyến ( adenocarcinoma ) thường kết hợp với sỏi bể thận lâu ngày không điều trị. bướu có thể ăn lan từ bể thận xuống Niệu quản và chỉ phát hiện nhờ tiểu ra máu khi bướu đã ăn đến bọng đái, chẩn đoán dựa vào UIV, UPR, soi Niệu quản bể thận , tế bào học nước tiểu, đôi khi làm động mạch đồ.
  • Ðiều trị thường phải cắt bỏ toàn thể thận, Niệu quản kể cả cắt bổ xung quanh miệng Niệu quản nằm trong Bọng đái. Khi bướu xâm đã lấn ra các tổ chức vùng chậu hay mỡ quanh bể thận thì cần xạ trị phối hợp sau mổ hoặc hoá trị nếu bướu chỉ xâm lấn tại chỗ.

Nang thận

Nang thận

Bệnh lý nang thận bao gồm 2 nhóm chính. Loại nang thận thường gặp nhất là “nang thận đơn giản” là loại không có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Loại nang thận còn lại được gọi là “nang thận phức tạp”. Thuật ngữ “nang thận phức tạp” dùng để chỉ một nhóm các loại nang có những đặc tính khác nhau khiến các bác sĩ nghi ngờ đến ung thư thận.

“Nang thận đơn giản” là một chẩn đoán có định nghĩa rất rõ ràng phụ thuộc vào phương tiện chẩn đoán hình ảnh nào phát hiện ra nó (siêu âm, CT scan v.v…).
 
Nang thận đơn giản là một khoang hình cầu nằm đâu đó trong thận bên trong chứa đầy dịch. Thành nang rất mỏng và không gồ ghề. Bên trong nang chỉ có dịch và khi được lấy ra thì ta sẽ thấy chất dịch này có màu vàng hoặc trong.
Nang thận đơn giản không có nguy cơ trở thành ung thư và do đó không cần phải lo lắng gì về nó cả.
Thật vậy, ở độ tuổi 50, bạn sẽ có khoảng 50% khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản. Khi tuổi ngày càng lớn hơn, khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản sẽ ngày càng cao hơn và kích thước của chúng cũng ngày càng lớn hơn. Nếu bạn trên 50 tuổi và không hề có 1 cái nang thận nào cả thì thật ra bạn đang nằm trong nhóm thiểu số.
Có một loại nang thận đơn giản khác được gọi là nang tăng đậm độ. Nang tăng đậm độ là một loại nang thận đơn giản có máu bên trong. Nang thận tăng đậm độ không phải là một dạng nghi ngờ ung thư thận và nó chỉ là một loại nang thận đơn giản mà thôi.
Phần lớn các nang thận đơn giản được xác định trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh được thực hiện vì một lý do khác. Các nang thận đơn giản không có các biểu hiện gợi ý trên lâm sàng. Thông thường các nang thận đơn giản không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và không gây tổn hại cho cơ thể.
Trong một số ít trường hợp, các nang thận có thể gây ra những triệu chứng như đau hông lưng, nhưng những trường hợp này rất hiếm. Nếu một nang thận được cho là có thể gây đau hoặc gây ra những triệu chứng khác, nó thường có thể được điều trị bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh bằng cách chọc hút và làm xơ hóa nang dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT. Thủ thuật chọc hút được định nghĩa là cách đâm kim xuyên qua da để hút dịch từ trong nang ra ngoài rồi sau đó thực hiện xơ hóa.
Thủ thuật xơ hóa là cách bác sĩ tiêm một chất hóa xơ vào bên trong nang. Thủ thuật chọc hút và xơ hóa các nang thận đơn giản có triệu chứng thường rất hiệu quả mặc dù trong một số trường hợp nang thận có thể xuất hiện trở lại. Ngoài cách theo dõi (nếu nang thận không gây khó chịu quá mức), thủ thuật chọc hút và xơ hóa là cách điều trị ít xâm lấn nhất đối với các nang thận đơn giản có gây triệu chứng.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, nang thận đơn giản có triệu chứng có thể cần phải phẫu thuật nội soi ổ bụng bóc vỏ nang. Khi thực hiện thủ thuật này, bác sĩ sẽ rạch một đường nhỏ ở thành bụng của bạn rồi nhẹ nhàng bơm hơi vào bụng. Nang thận sẽ được định vị và thành nang sẽ được bóc tách ra ngoài để tránh tình trạng nang tái lập trở lại. Thông thường, thủ thuật này được áp dụng để điều trị nang thận đơn giản trong trường hợp cách điều trị bằng chọc hút và xơ hóa thất bại. Thủ thuật này rất hiệu quả và bệnh nhân thường cần phải ở lại trong bệnh viên khoảng 1 đêm.
“Nang thận phức tạp” khác với nang thận đơn giản ở chỗ nang có thể có bờ gồ ghề. Để được xếp vào nhóm nang thận phức tạp, nang phải có một vài chỗ không đồng nhất bên trong. Các chỗ không đồng nhất này có thể xuất hiện ở nhiều biến thể khác nhau. Vách ngăn là các thành bên trong nang. Các vách ngăn này có thể rất mỏng và đều hoặc tương đối dày và thô. Càng có nhiều vách ngăn hoặc vách ngăn càng dày thì càng cho gợi ý nang này có liên quan đến ung thư thận.
Nang cũng có thể bị canxi hóa. Đây là hiện tượng canxi được nhìn thấy bên trong nang. Có thể có rất ít canxi hoặc vết canxi hóa tương đối dày.
Nang thận phức tạp còn có thể có nhu mô bên trong và được tăng tưới máu. Hiện tượng tăng tưới máu có nghĩa là nang thận được cung cấp thêm nhiều máu hơn, hiện tượng này có thể phát hiện ra bằng cách tiêm chất tương phản vào tĩnh mạch rồi sau đó quan sát bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. HIện tượng tăng tương phản bên trong các nang thận phức tạp gợi ý nhiều đến ung thư thận và đòi hỏi cần phải có sự can thiệp điều trị của các bác sĩ niệu khoa.
Nhiều nang thận phức tạp có thể chỉ có ít nguy cơ là hoặc trở thành ung thư thận.
Tuy nhiên, có một số nguy cơ khiến nang thận phức tạp có thể trở thành ung thư thận và do đó nó cần phải được đánh giá bởi một bác sĩ niệu khoa nhiều kinh nghiệm cùng với sự hội chẩn của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Thông thường, các nang thận phức tạp có thể được giải quyết bằng cách theo dõi chủ động để xem nó có thay đổi theo thời gian hay không.
Nguy cơ mà một nang thận phức tạp là, hoặc trở thành, ung thư tùy thuộc vào hình dạng của nó. Có một hệ thống phân độ nang thận dựa trên hình dạng của nó trên CT giúp các bác sĩ tiên đoán được khả năng các nang thận phức tạp trở thành ung thư. Hệ thông phân độ này được gọi là phân độ Bosniak. Phân độ Bosniak cung cấp những tiêu chuẩn để phân độ các nang dựa trên nguy cơ trở thành ung thư thận.

Phân độ Bosniak dành cho các nang thận phức tạp

 NhómI

Các nang thận đơn giản lành tính với thành mỏng như cọng tóc và không có các vách ngăn, không có các điểm canxi hóa, hoặc không có các thành phần đặc bên trong. Nó có đậm độ của nước và không tăng âm khi tiêm chất cản quang.

 NhómII

Nang thận lành tính có thể có một vài vách ngăn mỏng như cọng tóc bên trong. Có các vết canxi hóa đồng nhất ở thành nang hoặc ở các vách ngăn.

 NhómIIF

Các nang này có thể có nhiều vách ngăn mỏng. Có thể thấy những chỗ tăng quang nhỏ ở các vách ngăn hoặc thành nang và có thể có vài chỗ dày chút ít ở vách ngăn hoặc thành nang. Nang có thể có vài vết canxi hóa tạo thành nốt và dày nhưng không có tăng âm khi tiêm cản quang. Không có tăng quang ở thành phần mô mềm của nang.

 NhómIII

Là những tổn thương ở dạng trung gian giữa nang và khối đặc có thành dày không đều hoặc có vách ngăn có bắt thuốc cản quang.

 NhómIV

Những tổn thương này rất giống với các tổn thương nang và có chứa thành phần mô mềm có bắt thuốc cản quang.

Phân độ Bosniak được liệt kê phía trên được thiết lập để giúp bác sĩ tiên đoán được khả năng liên quan đến ung thư thận của các nang thận phức tạp. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm I có khả năng trở thành ung thư thấp hơn 2%. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm II và II có khả năng trở thành ung thư lần lượt từ 18%% và 33%. Phần lớn các nang thận thuộc Bosniak nhóm IV (khoảng 92%) có liên quan đến ung thư thận.

Bằng cách sử dụng hệ thống phân độ Bosniak, người bệnh có thể hợp tác với bác sĩ niệu khoa để thiết lập kế hoạch điều trị. Kế hoạch điều trị sẽ được kết hợp chặt chẽ tất cả các yếu tố bao gồm tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cũng như nguy cơ ung thư thận kèm theo. Kế hoạch điều trị có nhiều mức độ khác nhau, thay đổi từ thấp nhất là theo dõi tích cực cho đến cao nhất là cắt bỏ thận tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Theo Kidney Cancer Institute (Yhọc.net)

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Tinh hoàn không xuống bìu: Nguyên nhân, nguy cơ và cách điều trị

Tinh hoàn không xuống bìu: Nguyên nhân, nguy cơ và cách điều trị

Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) là một dịtật khá phổbiến ởtrẻem. Khoảng 4% trẻnam mới sinh bịTHKXB. Năm 2005, có 600 trẻTHKXB đến BV Nhi TW khám, trong đó có 450 cháu đến bệnh viện muộn nên phải phẫu thuật hạtinh hoàn xuống bìu.

THKXB còn gọi là tinh hoàn ẩn, là thuật ngữ được dùng để chỉ các trường hợp tinh hoàn không nằm ở bìu  do bị dừng lại bất thường trên đường di chuyển bình thường từ ổ bụng xuống bìu, bị lạc chỗ hoặc tinh hoàn dao động. THKXB có thể một bên hoặc hai bên.

I. NGUYÊN NHÂN CỦA TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

Cản trở cơ học: Bất cứ sự trở ngại nào của dây chằng và ống bẹn đều có thể làm hạn chế sự di chuyển của tinh hoàn  hoặc dẫn đến tinh hoàn lạc chỗ ở vị trí bất thường.

Nguyên nhân nội sinh: Là những nguyên nhân do chính bản thân tinh hoàn, thường gặp trong những bất thường nhiễm sắc thể 46, XXY, hoặc có thể phối hợp với nhiều hội chứng dị dạng khác.

Bất thường về nội tiết: Do tổn thương trục dưới đồi – yên – sinh dục ở bệnh nhân THKXB. Khi bệnh nhân mắc các hội chứng: Kallmann, Prader-willi-Labhart, quái thai không não, suy tuyến yên do trục dưới đồi – yên – sinh dục bị tổn thương hoặc không bình thường về cấu trúc đều là những nguyên nhân THKXB.

II. NGUY CƠ CỦA TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

Khả năng vô sinh

Qua 27 nghiên cứu về khả năng sinh sản sau điều trị THKXB 1 bên thấy 31% giảm tinh trùng, 14% không có tinh trùng.

Nhiều nghiên cứu về khả năng sinh sản ở những THKXB thấy khả năng vô sinh gặp nhiều ở THKXB 2 bên từ 50-70%.

Những THKXB đều có sự khiếm huyết cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Số lượng tế bào mầm và ống sinh tinh giảm rõ rệt so với tinh hoàn bình thường.

Tỷ lệ vô sinh THKXB 1 bên là 7%. Tỷ lệ vô sinh cao hơn ở THKXB 2 bên.

Khả năng ung thư hóa

Nguy cơ ung thư hóa tinh hòan gặp trong THKXB có tỷ lệ cao gấp 35-48 lần so với tinh hoàn bình thường. Khoảng 10% nam giới bị ung thư tinh hoàn có tiền sử THKXB. Nguy cơ ung thư tinh hòan tăng lên ở những trường hợp tinh hòan ở vị trí cao trong ổ bụng do nhiệt độ ổ bụng cao hơn bìu.

Chẩn đoán THKXB: Gia đình có thể phát hiện qua quan sát thấy trẻ không có tinh hoàn ở vùng bìu 1 hoặc 2 bên, hoặc nhìn thấy 1 bên vùng bìu bị lép hơn bên đối diện.

Sờ: Không tìm thấy tinh hoàn  trong vùng bìu.

Nếu nghi ngờ hoặc phát hiện thấy trẻ THKXB phải đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để có xác định chẩn đoán và điều trị sớm cho trẻ nhằm tránh để tinh hoàn nằm trong ổ bụng quá lâu, các tế bào mầm sinh tinh trùng bị hỏng hoặc phải phẫu thuật hạ tinh hoàn.

III. ĐIỀU TRỊ TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

THKXB là dị tật có thể sửa chữa bằng tiêm thuốc hormon hoặc phẫu thuật THKXB. Do vậy chỉ định điều trị nội hoặc ngoại khoa phụ thuộc vào mức độ và tuổi chẩn đoán sớm hay muộn. Điều trị ngoại khoa có nhiều ưu điểm đưa ngay tinh hoàn xuống bìu nhưng có thể làm thương tổn ống dẫn tinh, mạch máu nuôi tinh hoàn trong quá trình phẫu thuật. Các tai biến này sẽ làm cho tinh hoàn bị teo hoặc tắc ống dẫn tinh sau mổ. Những trường hợp tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng rất khó hạ ngay xuống thì phải mổ. Điều trị nội khoa bằng hormon HCG có thể làm cho một số tinh hoàn di chuyển xuống bìu hoàn toàn, số còn lại nếu chỉ di chuyển một phần cũng làm cho phẫu thuật được dễ dàng hơn.

Điều trị nội khoa (thuốc nội tiết): Chỉ định cho các trường hợp THKXB dừng lại bất thường trên đường di chuyển xuống bìu (THKXB dao động không có chỉ định bắt buộc).

Cơ sở điều trị hormon HCG trong THKXB: Phù hợp với cơ chế bệnh sinh là phương pháp không xâm nhập, tạo điều kiện phẫu thuật thuận lợi và kết quả thành công điều trị nội tiết từ 30-65%. Nên điều trị THKXB trước 2 tuổi.

Thuốc điều trị THKXB: HCG (Biệt dược Pregnyl).

- Liều lượng: Thường cho 7-10 mũi HCG: 50-100UI/kg cách ngày.

Với liều lượng 13.500 UI/đợt sẽ gây tổn thương tinh hoàn.

- Tác dụng phụ của thuốc: Ngứa ngoài da hoặc cương dương vật.

Điều trị ngoại khoa: mang lại kết quả về thẩm mỹ và tâm lý cho bệnh nhân.

Cố định tinh hoàn được chỉ định bắt buộc cho những trường hợp:

- THKXB lạc chỗ.

- Sau điều trị nội khoa thất bại.

- Trước khi ung thư hóa và THKXB có dị tật kèm theo nên phẫu thuật sớm.

Ngày nay xu hướng phẫu thuật sớm hơn trước 2 tuổi.

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

B ướu thận có hai loại:

B ƯỚ U LÀNH

Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

B ƯỚ U ÁC TÍNH

Ở trẻ em:

·       Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp, sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

Ở người lớn:

Bướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

I. GIẢI PHẪU VÀ TIẾN TRIỂN CỦA BƯỚU THẬN:

Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày , Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.

·       Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.

·       Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BƯỚU THẬN:

Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đaukhối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

·       Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.

·       Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.

·       Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.

·       Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH BƯỚU THẬN:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

IV. ĐIỀU TRỊ BƯỚU THẬN:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

- Nếu bệnh nhân bị b ướ u lành thì chỉcần mổkhi bướu lớn quá, chảy máu hoặc đau. Mổcắt bỏcảthận hoặc một phần thận có bướu tùy tình hình cụthể.

- Nếu bệnh nhân bị ung thư thận thì phải cắt bỏ toàn bộ thận có bướu càng sớm càng tốt. Việc hóa trị và xạ trị sau đó chỉ có tính cách bổ túc mà thôi.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là khi vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang hay thận và sinh sôi nẩy nở rồi gây nhiễm khuẩn cho nước tiểu, cuối cùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến từng cơ quan của hệ tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ.

Bất cứ một phần nào trong hệ tiết niệu đều có thể bị nhiễm khuẩn, kể từ thận, niệu quản cho đến bàng quang và niệu đạo.  Nhiễm khuẩn niệu đạo hay gặp ở phụ nữ vì niệu đạo nữ ngắn hơn nam lại gần với trực tràng và âm đạo là những vị trí dễ có vi khuẩn. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi (NCT) thì gặp nhiều khó khăn hơn do sức đề kháng của NCT ngày một suy giảm. Đường tiết niệu bao gồm hai quả thận, hai niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Mỗi khi bị viêm một trong các bộ phận đó thì có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ đường tiết niệu, nhất là ảnh hưởng đến thận. Đối với NCT, việc phát hiện sớm bệnh viêm đường tiết niệu cũng nhưthực hiện một số biện pháp phòng bệnh là hết sức cần thiết.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Về căn nguyên gây nhiễm khuẩn cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu là do vi khuẩn. Một số vi khuẩn thường gặp gây nhiễm trùng đường tiết niệu như E.coli, Proteus, Enterobacter, S. sprophyticus, S. epidermidis, N. gonorrheae, C. trachomatis, Mycoplasma… Trong các căn nguyên vi khuẩn này thì chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là E.coli, thứ đến là Proteus, S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). Ngoài ra người ta còn gặp một số NCT bị viêm đường tiết niệu do vi nấm.

Nguyên do bị nhiễm trùng đường tiết niệu khá phong phú. Ở những phụ nữ mới lập gia đình, có đến 50% bị nhiễm trùng đường tiết niệu thông qua quan hệ tình dục vào những lần đầu tiên do bạn đời không vệ sinh sạch sẽ. Tuy nhiên, thật ra mầm bệnh đã có sẵn ở phần âm hộ, vì đây là nơi gần hậu môn. Khi giao hợp, mầm bệnh được tạo điều kiện thuận lợi để đi vào niệu đạo.

Một nguyên do khác gặp phải ở phụ nữ mãn kinh. Do bị khô màng nhầy vì thiếu hụt estrogen, vi khuẩn dễ dàng lấn chiếm. Các tác nhân gây viêm sẽ phát triển nhanh hơn do khan hiếm Doderlein ở vùng âm hộ, mà đây là vũ khí chống lại các mầm bệnh.

Ở những phụ nữ phải ngâm mình trong môi trường ẩm ướt lâu dài và thiếu ý thức vệ sinh, việc nhiễm trùng đường tiết niệu là điều dễ hiểu. Ngoài ra, còn một nguyên do khác ở những người bị táo bón lâu ngày, thức ăn di chuyển chậm qua ruột làm gây ứ đọng trong vùng hậu môn và âm hộ.

Đối với người cao tuổi, do sức đề kháng ngày một giảm, thường mắc chứng sa sút trí tuệ (ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hoà của thần kinh trung ương), đi tiểu không kiểm soát được nên dễ bị viêm đường tiết niệu ngược dòng. người cao tuổi có thể gặp nhiễm khuẩn đường tiết niệu cả phần trên (thận) và cả phần dưới (niệu quản, bàng quang và niệu đạo). Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người cao tuổi. Nguyên nhân có thể từ nội tại (nội sinh) và cũng gặp nguyên nhân bên ngoài đưa đến (ngoại sinh). Nguyên nhân nội sinh gây nhiễm khuẩn đường tiểu ở người cao tuổi nhưsỏi đường tiết niệu, một số trường hợp do cản trở dòng chảy của nước tiểu, lâu dần nước tiểu bị nhiễm vi sinh vật gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu nhưmột số bệnh của tiền liệt tuyến, bệnh đái tháo đường, chấn thương cột sống, nằm lâu do bại liệt hoặc do bất động bởi cố định xương bị gãy (gãy xương đùi hoặc xương chậu hay gặp ở người cao tuổi). Một số nguyên nhân ngoại sinh gây nên viêm đường tiết niệu nhưnong niệu đạo, mổ lấy sỏi hoặc mổ u xơtiền liệt tuyến bị bội nhiễm, viêm tiền liệt tuyến đưa đến viêm đường tiết niệu.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Một số triệu chứng hay gặp viêm đường tiết niệu ở người cao tuổinhư đau lưng. Đau lưng có thể âm ỉ và xuất hiện từng lúc nhưng có khi đau thành cơn rõ rệt, nhất là những lúc có bưng bê hoặc xách, mang vật nặng. Nhiều trường hợp có sốt và rét run (tuy nhiên ở người cao tuổicó sức đề kháng kém thì sốt nhẹ hoặc không sốt mà chỉ thấy ớn lạnh), đi tiểu nhiều lần, tiểu khó (buồn đi tiểu nhưng không tiểu được) và có thể tiểu đau, buốt. Màu của nước tiểu có thể đục, có thể màu hồng (đái ra máu đại thể). Nếu viêm đường tiết niệu do có vật cản như sỏi đường tiết niệu  thì thường kèm theo đau lưng hoặc có cơn đau quặn thận có thể bị đái dắt, đái buốt… Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu, ngoài các triệu chứng lâm sàng cần làm các xét nghiệm có liên quan như siêu âm, chụp Xquang, xét nghiệm nước tiểu tìm căn nguyên vi khuẩn bằng cách cấy nước tiểu đúng thường quy mới hy vọng tìm ra căn nguyên gây nhiễm khuẩn.

Bi ến chứng của nhiễm khuẩn đường tiếu niệu:

Viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi nếu không phát hiện và điều trị tốt có thể đưa đến một số biến chứng rất nguy hiểm nhưviêm thận, bể thận cấp tính có thể đưa đến suy thận, áp-xe quanh thận. Viêm đường tiết niệu cũng có thể đưa đến nhiễm khuẩn huyết là một bệnh cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng của người cao tuổi.

III. ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Tuỳ theo vị trí nhiễm khuẩn thấp hay cao (viêm thận – bể thận), mức độ nặng hay nhẹ, tính chất cấp tính hay mạn tính và chủng vi khuẩn gây bệnh mà có những biện pháp điều trị khác nhau. Nguyên tắc chung là lựa chọn kháng sinh thích hợp, tốt nhất là dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (tức là sau khi cấy nước tiểu hoặc máu thấy vi khuẩn gây bệnh thì đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với một số thuốc kháng sinh, từ đó lựa chọn kháng sinh nhạy cảm nhất, dễ hấp thu, ít tác dụng phụ nhất, sẵn có và cân nhắc cả về vấn đề kinh tế); điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ khác.

Trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu thấp thường dùng kháng sinh đường uống kết hợp với thuốc sát khuẩn tại chỗ. Các kháng sinh thường dùng có tác dụng tốt trong nhiễm khuẩn tiết niệu thấp hiện nay như nhóm quinolon: peflacin 400mg uống 2 viên/ngày chia hai lần hoặc ciprofloxacin 500mg uống 2 viên/ngày chia hai lần. Lưu ý không sử dụng quinolon cho phụ nữ có thai, đang cho con bú và trẻ em dưới 16 tuổi vì thuốc ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ do gây tổn thương sụn khớp. Các nhóm kháng sinh khác như cephalosporin (cefuroxim 500mg uống 2 viên/ngày chia hai), beta lactam (ampicillin) cũng có tác dụng tốt. Một kháng sinh thông thường, rẻ tiền, khá thông dụng hiện nay là co-trimoxazon (Biseptol, viên 480mg, uống 4 viên/ngày chia hai) cũng có tác dụng trong một số trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu nhẹ, tuy nhiên tỷ lệ vi khuẩn kháng kháng sinh này hiện nay khá cao. Thời gian sử dụng kháng sinh tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ chuyên khoa, căn cứ từng trường hợp cụ thể mà có thể dùng liều duy nhất hay dùng kéo dài 3 – 10 ngày hay kéo dài hơn. Hiện nay hay dùng kháng sinh kết hợp với một số hoá chất như nitrofurantoin, Mictasol bleu… là những thuốc đào thải gần như nguyên vẹn qua đường tiểu nên có tác dụng sát khuẩn tại chỗ.

Trường hợp viêm thận – bể thận cấp hay đợt cấp của viêm thận – bể thận mạn cần dùng kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao và nên phối hợp ít nhất hai kháng sinh. Thời gian dùng kháng sinh cũng dài hơn trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu thấp, ít nhất cũng dùng trong 14 ngày. Lựa chọn thuốc tốt nhất theo kháng sinh đồ, tuy nhiên do kháng sinh đồ cho kết quả muộn hoặc cấy không mọc vi khuẩn nên cần cho kháng sinh sớm theo kinh nghiệm, dựa vào vi khuẩn hay gặp, tuổi mắc bệnh, các bệnh lý kèm theo… Các thuốc có thể dùng như quinolon (ciprofloxacin 500mg, 2 lọ/ngày truyền tĩnh mạch) kết hợp Augmentin 500mg uống 2.000mg/ngày; hoặc cephalosporin (ceftriaxon 1g, 2lọ/ngày tiêm tĩnh mạch) kết hợp hoặc thuốc nhóm quinolon uống hay truyền tĩnh mạch – hoặc kết hợp thuốc aminosid (amikacin 500mg, 2 lọ/ngày) tiêm bắp hoặc pha truyền tĩnh mạch một lần trong ngày.

Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác trong bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu bao gồm uống nhiều nước thường trên 1,5 lít/ngày, hạ sốt giảm đau, nâng cao thể trạng. Điều trị các yếu tố thuận lợi như điều trị sỏi tiết niệu (uống thuốc tan sỏi, tán sỏi qua siêu âm, phẫu thuật lấy sỏi…), điều trị u phì đại lành tính tiền liệt tuyến, điều trị các dị dạng đường niệu, điều trị các bệnh kèm theo. Điều trị các biến chứng của bệnh như suy thận, thiếu máu, tăng huyết áp

Tóm lại nhiễm khuẩn tiết niệu là một bệnh khá thường gặp ở nam giới, nếu phát hiện sớm, điều trị tích cực có thể khỏi hẳn không để lại di chứng, có thể dẫn đến suy thận mạn tính là bệnh có tiên lượng xấu.

Phòng b nh nhi ễm khuẩn đường tiếu niệu:

Để phòng bệnh và tránh bệnh lặp lại sau khi điều trị, cần có thói quen uống nhiều nước (2 lít/ngày) để rửa sạch bàng quang, đào thải các thành phần có hại, tránh sự tăng sinh của mầm bệnh. Nên ăn nhiều loại trái cây nhưcam, chanh, bưởi thường xuyên. Các loại trái cây này làm nước tiểu bị chua, trong môi trường acid vi khuẩn khó phát triển. Khi mắc tiểu, không được nín nhịn mà phải đi ngay, thậm chí không cần chờ đến cảm giác mắc tiểu mới đi mà canh chừng 2 đến 3 giờ là phải tự đi tiểu. Nước tiểu càng ứ đọng thì mầm bệnh càng có cơhội phát triển.

Sau mỗi lần giao hợp, các chị em nên đi tiểu ngay và vệ sinh sạch sẽ vùng cửa mình để loại bỏ các vi khuẩn được đưa vào niệu đạo và bàng quang. Mỗi ngày phải vệ sinh vùng kín một lần, khi rửa nên thực hiện từ trước ra sau, tránh mang vi khuẩn có sẵn ở âm hộ và hậu môn vào đường tiểu. Trong chu kỳ kinh nguyệt, chị em phải thay băng thường xuyên dù máu có ít hay nhiều. Mọi ứ đọng sẽ là nguyên nhân cho mầm bệnh phát triển và tấn công bàng quang.