Hiển thị các bài đăng có nhãn chữa trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chữa trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra lây truyền rất nhanh. Thuỷ đậu có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.


1. Thủy đậu là gì? Nguyên nhân gây bệnh?

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra rất thường gặp ở trẻ em. Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster. Đa số trẻ em đều đã bị thuỷ đậu trước 15 tuổi, nhiều nhất từ 5 đến 9 tuổi, tuy nhiên bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thuỷ đậu thường nặng hơn khi xảy ra ở người lớn và ở trẻ còn nhỏ. Mùa đông xuân là thời gian các trường hợp thuỷ đậu xảy ra nhiều nhất.

2. Thủy đậu lây lan như thế nào?

Thuỷ đậu lây truyền rất nhanh. Nó rất dễ lây lan giữa các thành viên trong gia đình và giữa các học sinh cùng trường khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước và vết lở trên da người bệnh. Nó còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp. Bệnh nhân có thể truyền bịnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước khô vảy.

3. Triệu chứng và dấu hiệu của thủy đậu?

Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ 10 đến 21 ngày. Thuỷ đậu biểu hiện bằng sốt nhẹ từ một đến 2 ngày, cảm giác mệt mỏi toàn thân, và phát ban (thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh).

Một số rất ít trường hợp, bệnh nhân có thể bị bệnh mà không thấy phát ban. Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu, sau đó phát triển thành mụn nước, vỡ ra thành vết lở, rồi đóng vảy. Thường phát ban đầu tiên ở da đầu, xuống thân mình (nơi ban trổ nhiều nhất), sau cùng xuống đến tay chân. Những phần da nào sẵn bị kích ứng như hăm tã, eczema, cháy nắng v.v. thường bị ban thuỷ đậu tấn công nặng nhất. Ban thuỷ đậu thường rất ngứa.

4. Điều trị thủy đậu ra sao?

- Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn. Có thể dùng Acetaminophen (Tylenol) để giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

- Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.

- Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa. Hãy bàn luận với bác sĩ về các chọn lựa trong điều trị.

- Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.

Sau cùng, đối với một số trường hợp thuỷ đậu có thể dùng Acyclovir. Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh. Thuốc chỉ hiệu quả nếu được dùng sớm, trong thời gian từ 1 đến 2 ngày khi bắt đầu phát ban thuỷ đậu. Acyclovir thường được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh kèm theo nguy hiểm (ví dụ lupus, đái tháo đường, người cao tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch).

5. Các biến chứng có thể xảy ra?

- Thuỷ đậu có thể gây biến chứng. Khi các mụn nước vỡ ra và bị nhiễm trùng có thể gây sẹo xấu, đặc biệt khi bệnh nhân gãi nhiều ở vùng tổn thương.

- Nhiễm trùng da là biến chứng của thuỷ đậu thường gặp nhất ở trẻ em.

- Biến chứng khác thường gặp là tổn thương thần kinh trung ương bao gồm những rối loạn ở tiểu não (rối loạn thất điều tiểu não, chóng mặt, run, rối loạn ngôn ngữ), viêm não (nhức đầu, co giật, rối loạn ý thức), tổn thương thần kinh (liệt thần kinh) và hội chứng Reye (kết hợp tổn thương gan và não khả năng gây tử vong, có thể xảy ra do dùng aspirin ở trẻ em).

- Các biến chứng đặc biệt nặng có thể xảy ra trên bệnh nhân AIDS , lupus, bịnh bạch cầu, và ung thư. Biến chứng còn xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, như các corticoid. Trẻ sơ sinh có mẹ bị thuỷ đậu ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ chịu những nguy cơ cao của bệnh. Nếu mẹ phát bệnh thuỷ đậu 5 ngày trước hoặc 2 ngày sau khi sanh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh có thể lên đến 30%.

6. Thủy đậu có thể phòng ngừa bằng vaccin?

Người đã bị thuỷ đậu sẽ có miễn dịch suốt đời và không bao giờ bị lại. Nhưng nhiều khi về sau, virus có thể bộc phát lên bề mặt trở lại dưới dạng zona (giời leo). Mục tiêu hiện nay của nhiều nước trên thế giới là làm sao tiêm phòng thuỷ đậu cho hầu hết các trẻ em. Chỉ cần tiêm 2 mũi. Mũi đầu tiên tiêm lúc trẻ 1 tuổi và mũi thứ hai (tiêm nhắc lại) lúc 4 tuổi. Đối với người lớn chưa bị thuỷ đậu, có thể tiêm phòng vào bất cứ lúc nào. Phản ứng phụ khi tiêm phòng thuỷ đậu xảy ra không đáng kể. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch, đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH
Tham khảo: Medicine Net

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Phòng và điều trị lang ben

Phòng và điều trị lang ben

Thưa bác sĩ, năm nay em 15 tuổi, em bị lang ben khoảng gần 1 năm. Lúc đầu thấy bình thuờng, có thoa thuốc nizoral nhưng không hêt, bây giờ nó loang rộng ra. Xin bác sĩ cho biết em phải làm sao? Khoảng bao lâu thì mới hết? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Lang ben là một bệnh ngoài da phổ biến ở vùng nhiệt đới nóng ẩm; gặp chủ yếu ở người trẻ. Điều kiện thuận lợi để phát bệnh là làn da nóng ẩm do khí hậu, hoạt động thể lực, mặc quần áo bít kín, tiết nhiều mồ hôi nhờn. Bệnh Cushing (một loại bệnh nội tiết), sự suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng cũng là những yếu tố làm bệnh dễ phát sinh.

Tổn thương da thường là các dát giảm sắc tố (trắng hơn da bình thường), đôi khi là các dát tăng sắc tố (sậm hơn da bình thường) hoặc dát hồng ban (vết hồng đỏ). Bề mặt các thương tổn có vảy mịn như phấn. Nếu dùng bìa cứng hoặc dao cùn cạo thì vảy mịn tróc ra rõ hơn (dấu hiệu vỏ bào).

Dát hình tròn hay hình bầu dục, kích thước từ nhỏ li ti đến vài centimét, có thể kết hợp lại thành những đám lớn hơn có viền ngoằn ngoèo như bản đồ. Vị trí thương tổn thường là những vùng da bị che kín, tiết nhiều mồ hôi nhờn như giữa lưng, giữa ngực, mạn sườn, bụng, mặt trong cánh tay, đùi, vùng mặt (trước tai, hàm dưới).

Lang ben thường chỉ gây cảm giác châm chích khi nóng nực, ngứa ít hoặc không ngứa. Do đó, người bệnh ít khi chữa trị sớm, nhất là khi tổn thương ở vùng da khó nhìn thấy (vùng lưng). Nếu không ngứa, thương tổn chỉ gây mất thẩm mỹ nên bệnh nhân thường không chữa sớm mà để cho lang ben lan rộng, trở nên khó trị và có thể là nguồn lây cho người khác. Bệnh rất hay tái phát, nhất là khi không biết cách phòng ngừa và điều trị đúng.

Nhiều bệnh cũng có thương tổn tương tự như lang ben. Do đó, bệnh nhân cần đến khám ở bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán chính xác. Thường bác sĩ chỉ cần khám lâm sàng là đủ. Một số trường hợp phải làm thêm xét nghiệm tìm vi nấm.

Để phòng và trị lang ben, loại bỏ điều kiện thuận lợi cho vi nấm gây bệnh là vấn đề quan trọng nhất. Nên mặc đồ thoáng, nhất là vào mùa nóng; tắm rửa, thay đồ hằng ngày. Không sử dụng chung đồ dùng cá nhân như khăn lau, quần áo… Quần áo phải phơi nắng cho khô. Trong lúc đang bị bệnh cần là trước khi mặc.

Khi bệnh mới phát, tổn thương ít thì chỉ cần dùng thuốc bôi da dạng nước (ASA, Antimycose, BSI), dạng kem (các azole) hay xịt, ủ. Nên bôi cả vùng da xung quanh tổn thương, bôi 1-2 lần/ngày trong 1-3 tuần. Khi tổn thương lành thì tiếp tục bôi thuốc thêm một thời gian nữa (khoảng 1 tuần) để tránh tái phát.

Thuốc dùng toàn thân gồm Ketoconazole, Itraconazole…, dùng trong trường hợp tổn thương lan rộng ở nhiều vị trí. Đôi khi cần dùng phối hợp cả thuốc bôi ngoài da và thuốc uống.

Lưu ý: Thuốc dùng tại chỗ có thể gây kích thích da (ngứa, rát, nổi mẩn…), mức độ nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loại và từng bệnh nhân. Thuốc uống có thể gây rối loạn tiêu hóa , dị ứng; gây độc gan, độc thận, tương tác với thuốc khác… Không nên dùng cho phụ nữ có thai, đang cho con bú…

Em nên đi khám chuyên da liễu để được chẩn đoán và kê đơn thuốc điều trị nhé!

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bệnh tổ đỉa

Bệnh tổ đỉa

1.Chẩn đoán:

- Vị trí: 2 lông bàn tay, lông bàn chân (đầu ngón, mặt dưới, mặt dưới ngón, ria ngón, vòm lòng bàn tay, ô mô cái, ô mô út, vòm lông bàn chân0.

- Tổn thương cơ bản:

Mụn nước sâu, chìm dưới da, như khảm vào da, kích thước 1-2 mm, không tự vỡ.

Mụn nước phân bố rải rác hay thành đmá cụm.

Triệu chứng cơ năng:

- Ngứa nhiều:

- Hay tái phát, thường tái phát vào mùa hè.

- Do ngứa chọc gãi làm xuất hiện mụn mủ, vết chợt, bàn tay chân có khó sưng táy nhiễm khuẩn thứ phát, hạch nách, bẹn sưng ( tổ đỉa nhiễm khuẩn).

2. Thể lâm sàng

- Tổ đỉa thể giản đơn: tổn thương là mụn nước sâu ở vị trí trên.

- Tổ đỉa nhiễm khuẩn: có mụn mủ, chợt loét, sưng viêm tấy.

- Tổ đỉa thể khô: lòng bàn tay chân có đảm đỏ róc vẩy.

3. Chẩn đoán phân biệt

+ Ghẻ:

Vị trí kẽ ngón tay, ngấn cổ tay.

Tổn thương là mụn nước đường hang.

Nhể khêu bắt được cái ghẻ.

Ngứa nhiều về đêm.

Có tính chất lây lan.

+ Eczema bàn tay, bàn chân:

Vị trí thường ở mặt lưng (mu) bàn tay chân.

Đám đỏ, nên có mụn nước nhỏ, nông chi chít, tự vỡ.

Đám tổn thương chợt chảy dịch.

Lâu ngày liken hoá dày cộm.

(tổ đỉa không bào giờ liken hoá).

4. Điều trị

- Tại chỗ:

+ Mụn nước đơn thuần bôi cồn focmolsalicylic 3%.

Mụn mủ, chột bôi thuốc màu(dd tím Metin 1% , dd xanh metilen 1%).

Khi tổn thương khô bỗi mỡ corticoids (Flucinar, synalar)

Toàn thân:

- Nếu có bội nhiễm cho uống một đợt kháng sinh.

- Kháng sinh Histamin tổng hợp: Histalong 10 mg /1 viên /ngày.

- Vitamin c 0,50 2 viên/ ngày hoặc ascorvit 500mg 2ống/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

- Đông y : xông khói thương truật 5 phút ( bàn tay, bàn chân).

Chú ý: Giữa bàn tay bàn chân khô sạch.

Hạn chế xà phòng.

Trách nhiệm ngâm nước nhiều, bẩn, phân gio đất cát.

- Một số trường hợp tổ đỉa căn nguyên do nấm thì cho dùng kháng sinh chống nấm Griseofulvin 0,502 viên / ngày x 30ngày.

- Tổ đỉa là bệnh dị ứng, cơ thể địa dị ứng, tác nhân kích thích là vi khuẩn ( tụ cầu, liên cầu) : hoá chất; một số trường hợp là nấm.

Theo benhhoc.com

Ngứa da trong mùa lạnh

Ngứa da trong mùa lạnh

Càng gãi càng ngứa. Gãi tới sần sùi, gãi rách da, chảy máu, ít ngày sau đóng vẩy hay làm mủ và lây sang chỗ da lành chung quanh. Mất ngủ vì gãi ngứa ban đêm. Sáng dậy mệt mỏi; tới sở làm ngủ gục; gây tai nạn trên đường. Da dẻ đang mịn màng hóa mốc meo, khô sượng; mắc cở bị bắt gặp “gẩy đờn” ngay tại đám đông… Trên đây là một vài trong những khó chịu do Chứng Ngứa Ngoài Da gây ra.

Nếu da ngứa bắt đầu từ “mùa lạnh”, thì 90% hy vọng có thể dập tắt với những cách chữa trị đơn giản, ít tốn tiền.

Chức năng sinh học của da

Da giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng:

· Da che chở chống xâm nhập của vi-sinh-vật gây bịnh, nhờ cấu trúc và các chất acid hữu cơ do da tiết ra.

· Da bài tiết mồ hôi, thải các chất biến dưỡng dư thừa, tương tự như sự bài tiết nước tiểu tiến hành trong thận.

· Da “thở” giúp mất bớt nước. Da điều chỉnh thân nhiệt qua hệ thống các mạch máu và thần kinh ở da.

· Da làm dịu những bực tức, buồn phiền trong cuộc sống xã hội.

· Da góp phần biểu lộ niềm vui, tiếp nhận dẫn truyền cảm giác săn sóc, vuốt ve, đem cảm quan hạnh phúc cho con người trong đời sống.

· Da báo cho óc biết nguy cơ đe dọa hóa học (acid, chua, mặn) hay vật-lý (phỏng lửa, gai nhọn, mồi thuốc lá đang cháy, dẫn lối trong đêm tránh vấp té) tàn phá sự vẹn toàn của cơ thể.

Ngoài những hữu dụng kể trên, da còn nhiều chức năng khác nữa.

Khi da dở chứng

Da tiết ra những chất acid hữu cơ (organic acids, trong đó có oleanic acid, một acid hữu cơ quan trọng) lẫn trong mồ hôi. Những acid hữu cơ này giữ cho da nhờn, giúp da mềm, bền bỉ, chống sự xâm nhập của vi-sinh-vật như vi-khuẩn, nấm, ký-sinh-trùng, bụi bậm chứa độc tố, v.v… không chui nổi qua da mà vô người chúng ta.

Mùa lạnh vì không khí khô, nhà đốt máy sưởi, đôi khi có thêm một vài bịnh khác nữa (chẳng hạn dị ứng, suy-giáp-trạng-tuyến)…, nên làm da bốc hơi mau và khô. Bao lâu các chất acid hữu cơ do da tiết ra vẫn còn đủ để giữ cho da trơn, mềm, nhờn và toàn vẹn thì chúng ta còn ăn ngon ngủ yên. Song tới một mức độ lạnh và khô nào đó, nhất là những người mới tới chưa quen chịu lạnh, lại hốt hoảng, mất bình tĩnh, tự tay “bẻ gẫy” cơ-năng bảo vệ an toàn của da, sẽ mở màn cho da ngứa.

Khi cơ năng điều chỉnh chạm giới hạn an toàn của cơ-thể, da không căng dãn thêm, không tiết thêm được mồ hôi thì cơ-thể bắt đầu đầu hàng “kẻ thù”. Lớp da ngoài cùng (biểu bì, epiderm) ngày càng mỏng, mất đàn hồi và nứt nẻ. Sự rạn nứt ở da được báo về hệ-thần-kinh. Trung-tâm thần-kinh bèn đối phó điều chỉnh lại bằng một “huấn lệnh” gãi để giải tỏa nạn ngứa. Gãi cho đã ngứa, nhưng gãi làm da rách thêm. Da rách thêm, tín hiệu báo về não bộ là “ngứa thêm”. Cứ thế mà gãi, càng gãi lại càng ngứa. Gãi lên gãi xuống, nên dân gian mới đặt tên tật hay gãi là “gẩy đờn”. Đờn gẩy rách da, mở cửa cho vi-sinh-vật xâm nhập. Da mưng mủ, có khi nóng sốt, tính tình bẳn gắt, quơ quào tìm thuốc chữa. Càng uống thuốc ngứa mua ngoài tiệm càng làm da khô, ngứa càng hung, gãi càng mạnh.

Vòng lẩn quẩn tái diễn tồi tệ. Rồi chứng ngứa da có thể đưa dẫn tới bịnh khác ngoài da.

Chữa và tránh chứng ngứa da trong mùa lạnh

1. Giữ cho da nhờn, bằng cách mặc ấm, giữ hơi nước da “thở” ra ở lại dưới áo, giúp da ẩm và mềm.

2. Tránh nước nóng vào mùa lạnh: trước khi tắm, lấy tay thử nước, đủ ấm là được. Đừng xài nước nóng quá trong mùa lạnh. Mùa hè, muốn nóng bao nhiêu xài mặc sức.

3. Chỉ xát xà-bông vô những nơi thật cần xà-bông, chỗ phải có xà-bông mới sạch và hết mùi hôi. Ngoài ra, tránh xà-bông trên mặt ngoài như vai, đùi, bụng, lưng, tay chân, v.v…

4. Lựa loại xà-bông mềm và yếu. Tránh các hiệu xà-bông cứng và mạnh cho mùa lạnh. Mùa hè, xà-bông khô, mạnh; nước nóng bao nhiêu tùy thích.

5. Từ phòng tắm bước ra chớ vội lau khô. Mua sẵn dầu paraffin (vaseline bất cứ hiệu gì) đổ vô lòng bàn tay, thoa đều thật nhiều khắp người. Mặc áo lại cho ấm và kín.

6. Trong ngày, hạn chế tối thiểu số lần rửa tay chân bằng nước nóng và xà-bông. Cực chẳng đã hãy xài nước nóng và xà-bông. Rửa xong, tay còn ướt nước, thoa một lớp mỏng emolient lotion hay cream (bất cứ hiệu nào loại nào dễ mua). Xong, giữ da ấm và kín, tránh khô.

7. Ngủ cho đủ giờ. Ăn cho đủ no và ngon, thoải mái với các đồ ăn thịt, cá, mè, đậu phọng tùy sở thích và nhu-cầu. Cần đưa cả nhà thoát ra khỏi lối suy nghĩ sai lầm gán tội “phong hay nhiệt” cho đồ biển tôm, cá, bò, gà. Lối suy nghĩ nhảm nhí đó làm cho dân tộc ta không ngẩng mặt nổi với đời mấy ngàn năm qua.

8. Tránh các thứ thuốc ngứa xưa nay người xứ nóng thường xài theo thói quen. Các loại thuốc chống ngứa, chống dị ứng (anti-allergics, anti-histaminics) như phenergan, benadryl làm cho da đã khô càng thêm khô, dễ nứt ra, và ngứa hơn nữa.

9. Cực chẳng đã ban đêm ngứa quá, thì xài tạm những thuốc chống ngứa sẵn có ở nhà, trong lúc chờ điều chỉnh, sửa chữa những cố tật gây khô, nứt da khiến da ngứa mùa lạnh.

Chín bước trên đây giúp chữa và tránh ngứa da trong mùa lạnh. Ít khi ta cần đi khám bác sĩ.

Bạn thực hành ngay ngày hôm nay đi. Hiệu quả sẽ chứng nghiệm trong vòng vài ba ngày tới.

Bệnh sỏi thận khi thấy đau – sỏi đã lớn

Bệnh sỏi thận khi thấy đau – sỏi đã lớn

Quá trình hình thành sỏi không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị sỏi thận. Chỉ đến khi sỏi lớn lên gây đau đớn, hay đi tiểu ra sỏi mới biết.
ảnh có tính minh họa
Sỏi thận hình thành do nồng độ các chất khoáng như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho tăng cao. Những chất này lắng đọng trong đài, bể thận và kết thành sỏi. Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Những viên lớn hơn có thể vẫn di chuyển được theo dòng nước tiểu nhưng gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu hay mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản gây viêm tắc niệu quản.

Có những viên sỏi nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần, choán hết đài bể thận gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo dẫn đến suy thận.

Bệnh sỏi thận có nhiều cách chữa như uống thuốc để làm tan sỏi, tán sỏi qua da, phẫu thuật…Tuy nhiên, có đến 60% số người từng bị sỏi thận sẽ bị tái phát, do đó ngăn ngừa tái phát sỏi sau điều trị là rất quan trọng.

Để ngăn chặn sự hình thành sỏi mới, cần loại bỏ các nguyên nhân hình thành sỏi thận như giảm lượng thức ăn giàu oxalat, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô cô la, nước chè, dâu tây…Ăn ít chất đạm động vật nếu bị sỏi acid uric.
Theo Lao Động

Thực đơn dưỡng thận

Thực đơn dưỡng thận

Làm thế nào để người chưa suy thận có thể bảo vệ được quả thận của mình? Người suy thận nhẹ không tiến triển thành suy thận nặng? Người suy thận nặng không tiến triển sang giai đoạn cuối? Người đang lọc thận sống khoẻ với liệu pháp điều trị của mình?

Một thực đơn tốt cho thận phải bảo đảm không quá nhiều đạm và muối. Ảnh: Hồng Thái

Thận có ba chức năng chính: thải độc đặc biệt là urê; điều hoà huyết áp và tạo máu; tạo xương. Vì vậy khi suy thận sẽ có các biểu hiện liên quan đến ba chức năng này: ngộ độc urê, cao huyết áp, thiếu máu và loãng xương.

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống khoa học, sẽ góp phần phòng ngừa bệnh thận cũng như làm chậm tiến triển của bệnh.

Đối với quả thận mạnh lành

70% bệnh nhân suy thận là do bệnh cao huyết áp và tiểu đường, vì vậy cần tránh lối sống nguy cơ cao như hút thuốc , uống rượu, ít vận động, ăn mặn, ăn nhiều chất béo.

Nên có nếp sống điều độ, ăn 3 – 4 bữa mỗi ngày, không bao giờ để bị quá đói và không nên ăn quá no. Tăng vận động mỗi ngày bằng mọi hình thức khi có thể như đi bộ thay vì đi xe máy, leo cầu thang thay vì đi thang máy… hoặc có một hình thức vận động đều đặn mỗi ngày như đi bộ, tập dưỡng sinh, khiêu vũ… Nên kiểm tra sức khoẻ định kỳ để tầm soát căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, biểu hiện sớm của suy thận như microalbumin. Khi dùng thuốc nên xin ý kiến bác sĩ điều trị về ảnh hưởng của thuốc đối với thận, không nên tự ý dùng thuốc. Nếu đã mắc bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bạn cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng và điều trị một cách nghiêm ngặt.

Thông thường, một chế độ ăn không quá nhiều đạm (0,8 – 1g/kg/ngày), muối ở mức cho phép (3 – 5g muối/ngày) sẽ có lợi cho quả thận của bạn. Với thói quen ăn 3 – 4 lần/tuần các loại thực phẩm có độ đạm thấp như miến dong, bột báng, các sản phẩm từ bột năng như bánh canh, bánh bột lọc, súp măng cua… bạn đã giúp quả thận của mình được giảm tần suất làm việc độ 20 – 30%.

Không quên nhắc bác sĩ điều trị về lợi ích bảo vệ thận của thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế Angiotensin trong điều trị cao huyết áp, đặc biệt nếu bạn bị tiểu đường, cao huyết áp.

Bảo vệ quả thận đã thương tổn

Chán ăn là biểu hiện phổ biến ở bệnh nhân suy thận. Và đây là nguyên nhân chính làm bệnh nhân ăn không đủ năng lượng nhu cầu, buộc cơ thể phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ do thoái hoá đạm từ các khối cơ và hậu quả là tăng sản xuất urê, một độc tố cần được thải ra khỏi cơ thể qua thận. Do vậy, người suy thận phải tăng đậm độ năng lượng khẩu phần từ các nguồn béo tinh bột không chứa đạm; giảm lượng đạm từ ngũ cốc, tăng lượng thực phẩm chứa đạm có giá trị sinh học cao như trứng, sữa, thịt, cá, đậu hũ; thải bớt natri, kali, phốtpho trong thực phẩm khi chế biến; giảm muối.

Làm thế nào biết mình suy thận?

Ở giai đoạn rất sớm là tổn thương nhu mô thận, người suy thận không hề có triệu chứng gì trừ triệu chứng tiểu đạm vi thể (microalbumin). Khi chức năng thận còn dưới 10% thì mới có biểu hiện rõ ràng như tiểu nhiều, thiếu máu, phù, cao huyết áp, mau mệt, chán ăn. Giai đoạn cuối của suy thận, bệnh nhân tiểu ít hoặc không tiểu, lúc này người bệnh cần được cung cấp liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận để duy trì sự sống.

Để tăng đậm độ năng lượng khẩu phần và giảm lượng đạm từ ngũ cốc, người suy thận nên thay những món ăn luộc, kho bằng những món xào chiên hoặc tẩm bột chiên. Có một bữa ăn trong ngày sử dụng miến dong hoặc các sản phẩm từ bột lọc (như thay một tô phở gà bằng một tô miến gà). Hoặc vào các bữa ăn phụ nên chọn bánh bột lọc, súp măng cua, bột sắn dây pha đường. Nếu bạn chỉ quen ăn cơm thì có thể nấu cơm độn miến với công thức 200g gạo, 100g miến: miến ngâm nước cho mềm cắt thành sợi ngắn độ 0,5cm để ráo, khi cơm sôi đổ miến vào ghế đều. Với một chén cơm độn miến (có 4,1g đạm) thay cho chén cơm thường (có 5,9g đạm), bạn đã giảm được 1,8g đạm. Với lượng đạm giảm này, bạn có thể ăn thêm nửa hũ yaourt, một cái trứng cút là các thực phẩm có giá trị sinh học cao.

Để thải bớt kali, phốtpho, natri: các loại rau củ nên cắt nhỏ, ngâm nước, luộc với nhiều nước (gấp 5 – 10 lượng rau củ), đổ nước và chỉ ăn xác.

Để giảm muối: ngoài lượng muối tự nhiên trong thực phẩm (trung bình 2g/ngày), lượng muối có thể dùng để nêm và ăn thêm mỗi ngày 3g tức một muỗng gạt càphê muối, ba muỗng canh nước mắm (13ml) hoặc năm muỗng canh nước tương (20ml). Lượng nước uống bằng lượng nước tiểu trong ngày cộng 500ml.

Bệnh nhân có quả thận bị tổn thương nặng, cần sử dụng các liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận… cũng ăn uống như bệnh nhân có thương tổn thận nhưng cần nghiêm ngặt hơn vì nguy cơ thừa nước, muối, kali cao có thể dẫn đến tử vong. Tốt nhất, các trường hợp này cần được tư vấn trực tiếp của bác sĩ để xây dựng thực đơn cụ thể phù hợp với phương pháp điều trị.

TS.BS Tạ Thị Tuyết Mai – Trưởng khoa dinh dưỡng, bệnh viện nhân dân Gia Định, TPHCM

Theo Cẩm nang gia đình

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận! Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Định nghĩa

Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Một bệnh thận đòi hỏi phải được chăm sóc y tế . Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận, lây lan đến máu và gây ra nhiễm trùng đe dọa tính mạng.

Nhiễm trùng thận điều trị thường bao gồm thuốc kháng sinh và thường đòi hỏi phải nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận có thể bao gồm:

Sốt.

Đau bên (sườn) hoặc háng.

Đau bụng.

Thường xuyên đi tiểu.

Mạnh mẽ, liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Cảm giác nóng hoặc đau khi đi tiểu.

Mủ hoặc máu trong (tiểu máu) nước tiểu.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Cũng làm cho một cuộc hẹn nếu đang điều trị cho một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng không được cải thiện.

Nhiễm trùng thận nặng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có triệu chứng nhiễm trùng thận điển hình kết hợp với nước tiểu có máu hay buồn nôn và ói mửa.

Nguyên nhân

Nhiễm trùng thận thường xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Vi khuẩn từ một bệnh nhiễm trùng ở nơi khác trong cơ thể cũng có thể lan truyền qua máu đến thận. Nhiễm trùng thận là bất thường thông qua tuyến đường này, nhưng nó có thể xảy ra trong một số trường hợp – ví dụ, khi một cơ quan ngoại lai, chẳng hạn như khớp nhân tạo, van tim bị nhiễm bệnh. Hiếm khi kết quả nhiễm trùng sau khi phẫu thuật thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thận bao gồm:

Nữ – giải phẫu. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thận hơn so với nam giới. Một người phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nhiều so một người đàn ông, do đó, vi khuẩn có ít khoảng cách để di chuyển từ bên ngoài cơ thể đến bàng quang. Những nơi gần niệu đạo vào âm đạo và hậu môn cũng tạo ra nhiều cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. Một khi một bệnh nhiễm trùng trong bàng quang có thể lây lan đến thận.

Tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Bất cứ điều gì cản trở dòng chảy của nước tiểu, làm giảm khả năng hoàn toàn trống rỗng bàng quang khi đi tiểu, chẳng hạn như sỏi thận, bất thường cấu trúc trong hệ thống tiết niệu, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận.

Làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều kiện y tế làm suy yếu hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như ung thư, tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch vi rút ở người (HIV), làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Một số thuốc như thuốc dùng để ngăn chặn từ chối của các cơ quan cấy ghép có tác dụng tương tự.

Thiệt hại cho dây thần kinh xung quanh bàng quang. Dây thần kinh hoặc tổn thương tủy sống có thể ngăn chặn các cảm giác của một nhiễm trùng bàng quang, để không biết khi nó tiến tới một bệnh nhiễm trùng thận.

Kéo dài việc sử dụng một ống thông tiểu. Ống thông tiểu là ống dùng để thoát nước tiểu từ bàng quang. Có thể có một ống thông được đặt trong bàng quang  trong và sau khi một số thủ tục phẫu thuật và xét nghiệm chẩn đoán. Một ống thông có thể được sử dụng liên tục.

Một điều kiện mà nguyên nhân nước tiểu chảy không đúng cách. Trong trào ngược bàng quang niệu quản (vesicoureteral), số nhỏ dòng nước tiểu từ bàng quang trở lại lên niệu quản và thận. Những người bị trào ngược vesicoureteral có thể bị nhiễm trùng thận thường xuyên trong thời thơ ấu và có nguy cơ cao mắc bệnh thận trong cả tuổi thơ và tuổi trưởng thành.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh nhiễm trùng thận có thể dẫn đến khả năng biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Suy thận. Một bệnh thận có thể dẫn đến tổn thương thận thường là nguyên nhân gây suy thận mãn tính.

Ngộ độc máu (nhiễm trùng huyết). Thận lọc chất thải khỏi máu và sau đó trở lại trong máu với phần còn lại của cơ thể. Nếu có một nhiễm trùng thận, vi khuẩn có thể lây lan.

Biến chứng mang thai. Phụ nữ phát triển một nhiễm trùng thận trong thai kỳ có thể có tăng nguy cơ mang thai em bé nhẹ cân.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể nghi ngờ có một nhiễm trùng thận dựa trên dấu hiệu và triệu chứng như sốt và đau lưng. Nếu bác sĩ nghi ngờ có mắc bệnh thận, người đó có thể sẽ yêu cầu một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Thuốc kháng sinh cho bệnh thận

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thận. Những loại thuốc sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe   và các vi khuẩn tìm thấy trong xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận bắt đầu rõ ràng thuyên giảm trong vòng một vài ngày điều trị. Nhưng có thể cần phải tiếp tục dùng kháng sinh cho một tuần hoặc lâu hơn. Dùng toàn bộ khóa điều trị của thuốc kháng sinh được đề nghị của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn loại bỏ.

Các bệnh nhiễm trùng thận nặng

Đối với một nhiễm trùng thận nặng, bác sĩ có thể thừa nhận đến bệnh viện . Điều trị ở bệnh viện có thể bao gồm thuốc kháng sinh nhận được thông qua một tĩnh mạch ở cánh tay (tĩnh mạch). Bao lâu sẽ ở lại trong bệnh viện phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng.

Điều trị các bệnh nhiễm trùng thận tái phát

Khi nhiễm trùng thận tái diễn thường xuyên hoặc nhiễm trùng sẽ trở thành mãn tính, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế của một chuyên gia có thể xác định nguyên nhân tiềm ẩn và có khả năng điều trị được.

Nhiễm trùng thận thường xuyên có thể là kết quả của một vấn đề y tế cơ bản, chẳng hạn như là một sự bất thường về cấu trúc. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia thận (nephrologist) hoặc bác sĩ phẫu thuật tiết niệu thẩm định để xác định xem bất thường tiết niệu có thể gây ra nhiễm trùng. Một bất thường cấu trúc có thể cần phải được phẫu thuật sửa chữa.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để giảm đau hoặc khó chịu khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng thận, cố gắng:

Áp dụng nhiệt. Đặt một miếng đệm nóng trên lưng, bụng hoặc phía bên để làm giảm cảm giác áp lực hoặc đau đớn.

Sử dụng thuốc giảm đau. Đối với sốt hoặc khó chịu, một thuốc giảm đau có chứa acetaminophen (Tylenol…) không aspirin theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc có một toa thuốc bác sĩ cung cấp.

Uống nước. Uống nhiều nước sẽ giúp đỡ để tuôn vi khuẩn ra từ đường tiết niệu. Tránh các loại nước ép cam quýt, cà phê, rượu và nước giải khát có caffein cho đến khi bệnh đã xóa. Những sản phẩm này có thể làm trầm trọng thêm nhu cầu thường xuyên cấp bách để đi tiểu

Phòng chống

Giảm nguy cơ mắc bệnh thận bằng cách thực hiện những bước để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ, đặc biệt có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu nếu họ:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng có thể giúp loại bỏ vi khuẩn ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Đi tiểu thường xuyên. Tránh giữ lại khi cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu.

Rỗng bàng quang sau khi giao hợp. Đi tiểu càng sớm càng tốt sau khi giao hợp sẽ giúp cho sạch vi khuẩn từ niệu đạo, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Lau sạch cẩn thận. Đối với phụ nữ, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu và sau khi đi tiêu giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong khu vực hậu môn lan sang niệu đạo.

Rửa nhẹ nhàng. Rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn một cách cẩn thận mỗi ngày. Nhưng không sử dụng xà phòng mạnh hoặc rửa mạnh mẽ. Làn da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Tránh sử dụng các sản phẩm phụ nữ ở vùng sinh dục . Sử dụng các sản phẩm nữ tính, chẳng hạn như thuốc xịt khử mùi hoặc douches, trong khu vực bộ phận sinh dục có thể kích thích niệu đạo.

Theo Dieutri.vn

Tiểu máu

Tiểu máu

Tiểu máu! Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn.

Định nghĩa

Nhìn thấy máu trong nước tiểu có thể gây ra hơn một chút lo lắng. Tuy nhiên, máu trong nước tiểu không phải luôn luôn là một vấn đề cần quan tâm. Tập thể dục quá nặng có thể gây ra máu trong nước tiểu, có thể một số thuốc thông thường, bao gồm cả aspirin. Nhưng tiểu chảy máu cũng có thể chỉ ra một sự rối loạn nghiêm trọng.

Có hai loại máu trong nước tiểu. Máu mà có thể nhìn thấy được gọi là tiểu máu tổng thể. Tiểu máu (hematuria) chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi được gọi là tiểu máu kính hiển vi và được tìm thấy khi bác sĩ xét nghiệm nước tiểu. Dù bằng cách nào, điều quan trọng để xác định lý do chảy máu.

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản. Máu trong nước tiểu gây ra bởi tập thể dục thường trong vòng một hoặc hai ngày, nhưng các vấn đề khác thường đòi hỏi chăm sóc y tế.

Các triệu chứng

Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn. Nếu đông máu trong nước tiểu, có thể bị đau. Rất nhiều lần, tuy nhiên, nước tiểu đẫm máu xảy ra mà không có dấu hiệu hay triệu chứng khác.

Trong nhiều trường hợp, có thể có máu trong nước tiểu chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi.

Mặc dù nhiều trường hợp hematuria không nghiêm trọng, điều quan trọng để gặp bác sĩ bất kỳ lúc nào nhận thấy máu trong nước tiểu. Hãy ghi nhớ rằng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc nhuận tràng Ex và các loại thực phẩm nhất định, bao gồm củ cải đường, đại hoàng có thể gây ra nước tiểu chuyển sang màu đỏ. Sự thay đổi màu sắc nước tiểu gây ra bởi thuốc, thức ăn hoặc tập thể dục thường biến mất trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, có thể không tự nhận biết thuộc tính nước tiểu màu đỏ hoặc máu do thuốc hoặc tập thể dục, vì vậy tốt nhất gặp bác sĩ bất cứ lúc nào nhìn thấy máu trong nước tiểu.

Nguyên nhân

Đường tiết niệu được tạo ra bởi bàng quang, hai quả thận, hai niệu quản và niệu đạo. Thận loại bỏ chất thải và nước thừa ra khỏi máu và chuyển đổi nó thành nước tiểu. Nước tiểu sau đó chảy qua hai ống rỗng (niệu quản) – mỗi một từ thận để tới bàng quang, nơi nước tiểu được lưu giữ cho tới khi được ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Trong hematuria thận hoặc các bộ phận khác của đường tiết niệu, cho phép các tế bào máu bị rò rỉ vào nước tiểu. Một số vấn đề có thể gây ra rò rỉ này, bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Nhiễm trùng đường tiểu đặc biệt phổ biến ở phụ nữ, mặc dù đàn ông cũng gặp. Nó có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên trong bàng quang. Các nhiễm khuẩn đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, phát triển sau khi sinh hoạt tình dục. Các triệu chứng có thể bao gồm một sự liên tục kích thích để đi tiểu, đau và buốt khi đi tiểu, và nước tiểu có mùi rất mạnh. Đối với một số người, đặc biệt là người lớn tuổi, dấu hiệu của bệnh có thể được phát hiện bằng kính hiển vi.

Nhiễm trùng thận. Nhiễm trùng thận (viêm bể thận) có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập thận từ dòng máu hoặc di chuyển lên từ niệu quản đến thận. Các dấu hiệu và triệu chứng thường tương tự như nhiễm trùng bàng quang, mặc dù nhiễm trùng thận có nhiều khả năng gây sốt và đau sườn.

Sỏi bàng quang hoặc thận. Các khoáng chất trong nước tiểu tập trung đôi khi kết tủa, tạo thành các tinh thể trên các bức tường của thận hay bàng quang. Theo thời gian, các tinh thể có thể trở thành sỏi nhỏ, đá cứng. Các đá này thường không đau, và có thể sẽ không biết có nó trừ khi nó gây ra tắc nghẽn hoặc đang di chuyển. Sau đó, thường có triệu chứng sỏi thận, đặc biệt có thể gây ra đau đớn. Bàng quang hoặc sỏi thận cũng có thể làm cả đái máu tổng thể và vi chảy máu.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt nằm ngay dưới bàng quang và bao quanh phần trên của niệu đạo, thường bắt đầu phát triển cách tiếp cận khi nam giới tuổi trung niên. Khi các tuyến lớn, nén niệu đạo, một phần chặn dòng chảy nước tiểu. Các dấu hiệu và triệu chứng của một tuyến tiền liệt mở rộng (tuyến tiền liệt lành tính hyperplasia, hay BPH) bao gồm tiểu khó, một nhu cầu khẩn cấp hoặc liên tục để đi tiểu, và một trong hai chảy máu tổng thể hoặc vi chảy máu. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự.

Bệnh thận. Vi chảy máu là một triệu chứng phổ biến của viêm cầu thận, gây viêm nhiễm của hệ thống lọc của thận. Viêm cầu thận có thể là một phần của một bệnh hệ thống, chẳng hạn như tiểu đường, hoặc nó có thể xảy ra riêng một mình. Nó có thể được kích hoạt bởi nhiễm virus hoặc các bệnh mạch máu (viêm mạch), và các vấn đề miễn dịch như bệnh lí thận IgA, mà ảnh hưởng đến các mao mạch nhỏ, lọc máu trong thận.

Ung thư. Nhìn thấy nước tiểu chảy máu có thể là một dấu hiệu của thận, bàng quang hoặc ung thư tuyến tiền liệt. Thật không may, có thể không có dấu hiệu hoặc triệu chứng trong giai đoạn đầu, khi các bệnh ung thư được chữa trị thêm.

Rối loạn di truyền. Bệnh thiếu máu thiếu hụt kinh niên của các tế bào máu đỏ có thể là nguyên nhân gây ra máu trong nước tiểu, cả tổng và vi hematuria. Vì vậy, có thể có hội chứng Alport, ảnh hưởng đến các màng lọc ở cầu thận của thận.

Chấn thương thận. Một cú đánh hoặc thương tích khác với thận từ một tai nạn hoặc với môn thể thao có thể gây ra máu trong nước tiểu mà có thể nhìn thấy.

Thuốc. Thuốc thường gặp có thể gây ra có thể nhìn thấy máu tiết niệu bao gồm aspirin, penicillin, heparin và các thuốc chống ung thư cyclophosphamide.

Tập thể dục nặng. Không rõ ràng lý do tại sao tập thể dục gây ra hematuria tổng thể. Nó có thể tổn thương đến bàng quang, mất nước hoặc sự cố của các tế bào máu đỏ xảy ra với tập thể dục aerobic bền vững. Hầu hết các vận động viên có thể nhìn thấy chảy máu nước tiểu sau khi một buổi tập luyện dữ dội.

Yếu tố nguy cơ

Hầu như bất cứ ai, kể cả trẻ em và thanh thiếu niên có thể có tế bào hồng cầu trong nước tiểu. Yếu tố tạo nên nhiều khả năng này bao gồm:

Tuổi. Nhiều đàn ông lớn tuổi hơn 50 có hematuria thỉnh thoảng do một tuyến tiền liệt mở rộng.

Gới tính. Hơn một nửa của tất cả các phụ nữ sẽ có một nhiễm trùng đường tiết niệu ít nhất một lần trong cuộc sống của họ, có thể với một số chảy máu đường tiết niệu. Người đàn ông trẻ tuổi có nhiều khả năng có sỏi thận hoặc hội chứng Alport, một dạng của viêm thận di truyền có thể gây ra máu trong nước tiểu.

Một nhiễm trùng gần đây. Viêm thận sau khi bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn (postinfectious viêm cầu thận) là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nước tiểu có thể nhìn thấy máu ở trẻ em.

Lịch sử gia đình. Có thể dễ bị chảy máu đường tiểu nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh thận hoặc sỏi thận.

Một số thuốc. Aspirin và các thuốc giảm đau không steroid khác chống viêm và kháng sinh như penicillin được biết là làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiết niệu.

Vất vả tập thể dục. Chạy dài – xa đặc biệt dễ bị gây ra chảy máu đường tiết niệu. Trong thực tế, tình trạng này đôi khi được gọi là Jogger ‘s hematuria. Nhưng bất kỳ ai hoạt động kịch liệt có thể phát triển triệu chứng.

Những chuẩn bị cho việc khám bệnh

Trong một số trường hợp, mặc dù có thể gọi ngay cho một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu (tiết niệu).

Dưới đây là một số thông tin để giúp chuẩn bị cho buổi khám, và những gì mong đợi từ bác sĩ.

Những gì có thể làm

Hãy nhận biết của bất kỳ hạn chế trước khi khám. Đồng thời thực hiện việc khám, hãy chắc chắn để hỏi nếu có bất cứ điều gì cần làm trước để chuẩn bị cho chẩn đoán xét nghiệm thông thường.

Bất kỳ triệu chứng đã gặp, bao gồm bất kỳ mà có vẻ không liên quan đến lý do mà dự kiến khám.

Tạo một danh sách các thông tin y tế, bao gồm bất kỳ điều kiện nào khác mà đang được điều trị, và tên của bất cứ loại thuốc, vitamin bổ sung đang dùng.

Đối với hematuria, một số câu hỏi cơ bản để yêu cầu bác sĩ bao gồm

Các nguyên nhân có thể có các triệu chứng là gì?

Những loại kiểm tra cần? Những thử nghiệm này yêu cầu bất kỳ chuẩn bị đặc biệt không?

Tôi có cần điều trị?

Điều gì là phương pháp điều trị?

Có bất cứ tài liệu quảng cáo hay tài liệu in khác có thể mang về nhà?

Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn sàng để yêu cầu bác sĩ, đừng ngần ngại đặt câu hỏi bất kỳ lúc nào nếu không hiểu điều gì đó.

Bác sĩ hoặc nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe có thể sẽ hỏi một số câu hỏi. Sẵn sàng để trả lời họ.

Các câu hỏi bác sĩ hỏi có thể bao gồm

Có bị đau khi đi tiểu?

Có thấy máu trong nước tiểu, chỉ thỉnh thoảng hoặc tất cả thời gian?

Khi đi tiểu có máu trong thời điểm hiện tại? Ví dụ, có thấy máu khi lần đầu tiên bắt đầu đi tiểu hoặc nước tiểu có máu không trở nên rõ ràng vào cuối dòng nước tiểu? Hoặc có nhìn thấy dòng máu trong nước tiểu trong suốt thời gian đang đi tiểu?

Có cục máu đông trong thời gian qua đi tiểu? Kích thước và hình dạng gì?

Đã dùng thuốc gì?

Có hút thuốc không?

Có tiếp xúc với hóa chất trong công việc? Những loại?

Đã bao giờ điều trị bằng phóng xạ?

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để tìm một nguyên nhân cho chảy máu đường tiết niệu, các xét nghiệm sau đây và các buổi khám đóng một vai trò quan trọng:

Khám sức khỏe, trong đó bao gồm một cuộc thảo luận của lịch sử y tế.

Xét nghiệm nước tiểu. Ngay cả khi chảy máu lần đầu tiên được phát hiện qua kiểm tra nước tiểu, có thể có một thử nghiệm để xem nước tiểu vẫn còn chứa các tế bào máu đỏ. Hematuria xảy ra chỉ một lần thường không cần phải đánh giá thêm. Phân tích nước tiểu cũng có thể giúp xác định xem có một nhiễm trùng đường tiết niệu hay có bài tiết khoáng chất gây sỏi thận.

Hình ảnh. Hầu hết mọi người với hematuria có thể có một kiểm tra hình ảnh, cung cấp hình ảnh chi tiết của các cơ quan nội tạng. Điều này có thể là một máy vi tính chụp cắt lớp (CT scan), trong đó sử dụng bức xạ và một máy tính mạnh mẽ để tạo ra hình ảnh mặt cắt của các bên trong cơ thể; Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), trong đó sử dụng một từ trường và sóng radio thay vì X – quang để sản xuất hình ảnh, hoặc một siêu âm. Siêu âm sử dụng một sự kết hợp của sóng âm thanh tần số cao và chế biến máy tính để xem thận và bàng quang.

Soi bàng quang. Trong thủ tục này, một ống nhỏ được trang bị một máy ảnh thu nhỏ vào bàng quang để kiểm tra toàn bộ cả bàng quang và niệu đạo.

Nguyên nhân của chảy máu đường tiết niệu có thể không bao giờ được tìm thấy. Trong trường hợp đó, bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra thường xuyên theo dõi, đặc biệt là nếu có yếu tố nguy cơ ung thư bàng quang, chẳng hạn như hút thuốc lá, tiếp xúc với chất độc môi trường và lịch sử một liệu pháp bức xạ.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hematuria không có điều trị cụ thể. Thay vào đó, bác sĩ sẽ tập trung vào những điều kiện cơ bản:

Nhiễm trùng đường tiểu. Kháng sinh điều trị tiêu chuẩn cho nhiễm trùng đường tiểu. Các triệu chứng thường giảm dần trong vài ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc, nhưng bệnh nhiễm trùng định kỳ có thể cần nhiều phương pháp điều trị hoặc lâu hơn.

Sỏi thận. Có thể loại bỏ một sỏi thận do uống một lượng lớn nước và hoạt động. Nếu điều này không hiệu quả, bác sĩ có thể thử các biện pháp xâm lấn hơn. Chúng bao gồm sử dụng sóng xung kích để phá vỡ sỏi thành từng miếng nhỏ (sóng xung extracorporeal lithotripsy) và trong một số trường hợp, phẫu thuật để loại bỏ những sỏi.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Điều trị cho một tuyến tiền liệt mở rộng tìm cách giảm các triệu chứng và phục hồi chức năng bình thường của đường tiết niệu. Tất cả đều có hiệu quả đến mức độ khác nhau, và tất cả đều có một số nhược điểm. Thuốc men thường cố gắng đầu tiên, và nó cung cấp sự hỗ trợ lâu dài cho nhiều người đàn ông. Khi thuốc không giúp đỡ, điều trị xâm lấn tối thiểu bằng cách sử dụng nhiệt, tia laser hoặc sóng âm để tiêu diệt tế bào tuyến tiền liệt có thể là cố gắng quá mức.

Bệnh thận. Nhiều vấn đề về thận thường cần điều trị. Không có vấn đề gì là nguyên nhân cơ bản, mục đích là để làm giảm viêm nhiễm và hạn chế thiệt hại thêm cho thận.

Ung thư. Mặc dù có một số lựa chọn điều trị ung thư thận và bàng quang, phẫu thuật để loại bỏ các tế bào ung thư thường là lựa chọn đầu tiên bởi vì các tế bào là tương đối kháng bức xạ và hầu hết các loại hóa trị. Việc điều trị chính cho bệnh ung thư bàng quang là phẫu thuật cắt bỏ hoặc loại bỏ hoàn toàn bàng quang. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể được kết hợp với hóa trị. Trong những người khác, hệ thống miễn dịch trong bàng quang thúc đẩy mạnh mẽ với thuốc.

Rối loạn di truyền. Điều trị cho chứng rối loạn di truyền ảnh hưởng đến thận thay đổi rất nhiều. Hematuria gia đình lành tính thường không cần điều trị, ví dụ ,trong khi những người bị hội chứng Alport nghiêm trọng cuối cùng có thể cần phải chạy thận – một phương tiện nhân tạo loại bỏ các chất thải từ máu khi thận không còn có thể làm như vậy. Thiếu máu hồng cầu liềm được điều trị bằng truyền máu, hoặc trong trường hợp kịch bản tốt nhất, một cấy ghép tủy xương.

Phòng chống

Thường không thể ngăn chặn hematuria, mặc dù có những bước có thể làm để giảm nguy cơ của một số các bệnh gây ra nó. Phòng chống chiến lược bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Uống thật nhiều nước, đi tiểu khi cảm thấy có yêu cầu và càng sớm càng tốt sau khi giao hợp, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu, và các sản phẩm vệ sinh phụ nữ có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu.

Sỏi thận. Để giúp hạ thấp nguy cơ sỏi thận, uống nhiều nước và hạn chế muối, protein và các thực phẩm chứa oxalate, chẳng hạn như rau bina và đại hoàng.

Ung thư bàng quang. Ngưng hút thuốc, tránh tiếp xúc với hóa chất và uống nhiều nước có thể cắt giảm nguy cơ ung thư bàng quang.

Ung thư thận. Để giúp ngăn ngừa ung thư thận, hút thuốc dừng lại, duy trì một trọng lượng khỏe mạnh, ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, trở lại hoạt động, và tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Theo Dieutri.vn