Hiển thị các bài đăng có nhãn khối u. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khối u. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Thực tế, da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Vì vậy, da cũng là nơi chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài như: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… các yếu tố này kích thích cơ thể sản sinh ra các chất độc hại làm cho da bị sạm, khô, teo và dần xuất hiện các nếp nhăn và các đốm nâu đen.

Nguyên nhân và dấu hiệu lão hóa da

Kết quả từ nhiều cuộc nghiên cứu cho biết, có đến 90% nguyên nhân của lão hóa da là do ánh nắng mặt trời và chỉ có 10% là do di truyền. Về cơ bản, lão hóa da được hình thành từ 2 nhóm nguyên nhân sau:

Nhóm nguyên nhân nội sinh (lão hóa da nội sinh): là hiện tượng da già đi theo thời gian. Càng lớn tuổi các sợi collagen sẽ mất dần, các sợi đàn hồi (elastin) thượng bì bị teo mỏng đi, quá trình sản sinh tế bào bị giảm xuống. Da trở nên mỏng, mất tính đàn hồi, chùng nhão và nếp nhăn sâu xuất hiện.

Nhóm nguyên nhân ngoại sinh (lão hóa da ngoại sinh): do tác động của những yếu tố bên ngoài như: ánh nắng mặt trời, ô nhiễm môi trường, hóa chất, khói thuốc … Da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường và chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… Dưới những tác nhân này, các sợi collagen và elastin bị thoái hóa, bề dày của da thay đổi, tế bào hắc tố ở thượng bì giảm, xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ. Da có màu vàng sậm, nhiều nếp nhăn nhỏ, đồng thời những vùng da phơi bày ra ngoài ánh nắng như: mặt, vùng ngoài cánh tay, bàn tay sẽ có sự tăng giảm sắc tố. Đây là những dấu hiệu cho biết làn da đang “xuống cấp”. Sự xuống cấp này báo hiệu tình trạng lão hóa sắp sửa tấn công vào làn da. Tuy nhiên, những thay đổi trên da trong quá trình lão hóa rất đa dạng và ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những dấu hiệu lão hóa đặc trưng. Không chỉ là sự rối loạn sắc tố da điển hình như sự xuất hiện của những bướu lành trên da (nốt ruồi son, đồi mồi, những đốm nâu, đen hay xám, sần sùi, bong vảy…), mà còn là những biểu hiện rõ ràng, cụ thể ở từng độ tuổi.

Độ tuổi lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Giai đoạn và độ tuổi lão hóa thường không giống nhau với mỗi người. Làn da có thể có nguy cơ bị lão hóa bất cứ lúc nào nếu không được chăm sóc hợp lý. Ở một số người, đặc biệt, những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng và da không được bảo vệ, làn da có thể bắt đầu lão hóa ngay từ năm 20 tuổi trở đi, nhưng những dấu hiệu này chưa bộc lộ rõ rệt và thường khó nhận biết.

Tuy nhiên theo thống kê, hiện nay tình trạng lão hóa da thường xuất hiện nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 35. Nguyên nhân tình trạng lão hóa da ở phụ nữ lứa tuổi này là do sự mất cân bằng của một số hormone, khiến khả năng tự phục hồi của cơ thể bị suy yếu, lượng tế bào mỡ dưới da cũng như các sợi đàn hồi giảm đi làm làn da trở nên mỏng, khô, các cơ dần dần bị nhão, chảy xệ. Các tế bào da ở người trưởng thành ngày càng kém phân chia, nên da dễ bị khô, dễ bị bầm, tụ máu, các chức năng của da cũng giảm sút rõ rệt. Đây là thời điểm sức đề kháng của da bị giảm sút đáng kể nên dễ bị tác động từ những thay đổi bên trong cơ thể và những ảnh hưởng từ môi trường nhất.

Ở độ tuổi 30: da giảm độ căng mịn, lỗ chân lông to ra và thậm chí xuất hiện vài nếp nhăn.

Ở độ tuổi 40: những nếp nhăn đã hình thành từ tuổi 30 sẽ hằn sâu hơn, lộ rõ và nhiều nếp nhăn trên trán. Dấu “chân chim” nơi khóe mắt cũng bắt đầu xuất hiện, da xỉn, ít sức sống.

Ở độ tuổi 50, 60: nếp nhăn sẽ chằng chịt nhiều hơn, da khô và thô ráp hơn.

Để khắc phục và hạn chế tình trạng lão hóa da

Bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời: tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Sử dụng kem chống nắng có chỉ số chống nắng SPF từ 15 trở lên khi ra đường vào ban ngày, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang, găng tay…

Nuôi dưỡng da: thường xuyên dưỡng ẩm, bổ sung dưỡng chất cho da bằng các loại kem chống lão hóa vào ban đêm có thành phần chiết xuất từ trái cây, mía đường… Ngoài ra, có thể uống các loại thuốc như: vitamin A, E, C… để bổ sung chất và cải thiện làn da từ bên trong.

Tập thể dục thể thao, massage da mặt và cơ thể: giúp tinh thần thoải mái để có làn da hồng hào và săn chắc.

Cung cấp oxy nguyên chất cho da: cung cấp đủ lượng oxy nguyên chất và dinh dưỡng cho da sẽ tăng cường khả năng đề kháng của da, trước các tác động tiêu cực của môi trường và cả những thay đổi bất lợi về nội tiết bên trong cơ thể.

Ngoài ra, còn có một phương pháp can thiệp mang lại hiệu quả tức thời cho làn da như: căng da mặt, chích botox, đốt laser… Tuy nhiên, những phương pháp này khá tốn kém và dễ để lại những biến chứng như: sẹo, cơ mặt không biểu cảm, kích ứng da.

(Theo: suckhoedoisong.vn)

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù là hiện tượng ứ nước trong các tổ chức dưới da hoặc ở các tạng của cơ thể. Phù là một dấu hiệu của nhiều bệnh, nên khi bị phù phải tìm nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị mới có kết quả.

  Phát hiện phù

Bằng mắt thường mọi người có thể thấy ngay được, nhưng đôi khi rất khó xác định phù. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nặng chân. Nơi bị phù sưng to, căng mọng, làm mất đi các nếp nhăn, mắt cá, đầu xương bị phẳng lỳ. Da vùng phù nhạt màu, ấn vào nơi phù da lõm xuống, đặc biệt là ấn vào mặt trước trong xương chày.

Các dấu hiệu kèm theo như lượng nước tiểu ít đi, gan to, cổ trướng, khó thở… Phù giữ nước nên cân nặng có thể tăng hằng ngày từ 1 đến 2 kg. Sau đây là các nguyên nhân gây phù:

Phù toàn thân

Thường phù từ mặt, bụng, ngực, chân, tay, kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn. Hay gặp những bệnh sau:

Thận nhiễm mỡ: Phù rất to. Phù trắng, lúc đầu phù ở mặt, sau phù toàn thân. Thường kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng. Ăn nhạt không giảm phù. Nước tiểu có nhiều protein. Xét nghiệm máu: urê, creatinin không cao, protein giảm nhiều, cholesterol tăng nhiều.

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn: Phù trắng, mềm, ấn lõm, phù toàn thân, rõ ở hai chi dưới. Ăn nhạt phù giảm rõ. Có thể kèm theo tăng huyết áp , tràn dịch màng phổi, màng tim. Nước tiểu ít, vẩn đục, có protein, trụ niệu. Có thể thiếu máu. Chức năng thận rối loạn, creatinin tăng cao.

Suy dinh dưỡng: Phù toàn thân hoặc hai chi dưới, phù trắng, mềm, ấn lõm, mức độ phù buổi sáng và chiều như nhau. Nước tiểu không có protein. Thường do thiếu ăn hoặc đang mắc các bệnh mạn tính như: rối loạn tiêu hóa lâu ngày, lao, ung thư, các bệnh tê liệt, bị các bệnh mạn tính nằm lâu.

Phù do nội tiết: Phù do tăng aldosteron: Phù trắng, ấn lõm, phù chi dưới, có khi phù mặt, phù kín đáo, có trường hợp tự khỏi. Gặp ở phụ nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nước tiểu không có protein. Điều trị bằng spirolacton có hiệu quả.

Phù do thiểu năng tuyến giáp: phù cứng, ấn không lõm, mặt tròn mắt híp, môi dày, lưỡi to. Móng chân, tay có ngấn, khô rạn, tóc cứng, dễ gãy. Chậm chạp, trí tuệ kém phát triển, nhiệt độ giảm, huyết áp hạ, mạch chậm.

Phù do ưu năng tuyến thượng thận: Mặt tròn đỏ, phù cứng, huyết áp tăng. Gặp ở người có u ở vỏ thượng thận, người uống corticoid lâu ngày, nếu ngừng uống thì các triệu chứng sẽ hết.

Phù khu trú

Phù ngực: Còn gọi là phù áo khoác, phù từ ngực có thể phù lên cổ, mặt hoặc phù cả hai tay. Do u đè ép vào ống bạch mạch ở ngực và tĩnh mạch chủ trên. Trên da ngực nổi nhiều mạch máu ngoằn nghèo màu tím, bệnh nhân đau ngực, vú to. Chụp Xquang lồng ngực thường thấy khối u trung thất.

Phù hai chi dưới: Do suy tim và xơ gan:

- Do suy tim: lúc đầu phù 2 mắt cá chân, phù mềm, ấn lõm. Phù xuất hiện vào buổi chiều, mất đi lúc sáng sớm và lúc nghỉ ngơi. Hai chân phù rất to, có khi nứt da, nước vàng chảy rỉ ra. Ăn nhạt phù giảm rõ. Kèm theo tim to, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mạch nhanh, khó thở, đái ít. Suy tim nặng có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi.

- Do xơ gan: gan có thể to, cứng, thường gan bị teo. Phù ít, ấn lõm, sau phù to. Nước cổ trướng tái phát nhanh. Có thể kèm theo tràn dịch màng phổi, màng tinh hoàn, có mạch máu nổi ở da bụng. Chức năng gan suy giảm.

Phù do thiếu vitamin B1: (Bệnh Bêribêri hay bệnh tê phù). Phù hai chân, ấn lõm, thường phù rõ vào buổi chiều, hai chân thấy tê bì như kiến bò, hay bị chuột rút, phản xạ gân gối mất. Thường do ăn uống thiếu chất lâu dài. Điều trị bằng vitamin B1 phù mất đi rõ rệt. Nếu mẹ đang nuôi con thì con cũng bị thiếu vitamin B1, hay khóc về đêm, gọi là khóc “dạ đề”.

Phù do thai nghén: Gặp ở người có thai, có hoặc không có protein niệu. Cần phải khám thai định kỳ để xác định.

Phù một chi: Phần nhiều gặp ở chân hơn ở tay, do bệnh của các huyết quản.

Viêm tắc tĩnh mạch: Phù mềm, ấn lõm, da ấm. Rất đau khi nắn vào chi phù. Gác chân lên cao, nằm nghỉ thì bớt phù. Có sốt, gặp ở người sau đẻ, sau phẫu thuật vùng hố chậu, bệnh nhiễm khuẩn nặng.

Viêm mạch bạch huyết : phù mềm, ấn lõm, rất đau. Trên da nổi những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng trong vùng như bẹn, nách cũng sưng và đau. Đôi khi có sốt. Phát hiện có vết xước, vết thương, nhọt. Trong trường hợp mới mắc bệnh giun chỉ, có thể tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở máu tĩnh mạch vào ban đêm.

Phù cứng: Thường là phù chân voi, di chứng của viêm mạch bạch huyết do giun chỉ. Ống bạch huyết bị vỡ vào tổ chức dưới da, gây phù cứng. Da rất dầy và cứng, ấn không lõm. Thường bị một chân, có khi cả 2 chân nhưng không đều. Phù bộ phận sinh dục như bìu xù xì, to và cứng. Nếu ống bạch huyết vỡ vào bể thận, thì bệnh nhân đái ra dưỡng chấp màu đục như nước vo gạo.

Phù dị ứng: Thường xuất hiện đột ngột sau khi ăn hoặc tiếp xúc tác nhân dị ứng như thuốc , thức ăn, bụi nhà, phấn hoa, sâu róm… Phù xuống quanh mắt, mồm, da nổi cục và ngứa, mất đi rất nhanh khi dùng thuốc chống dị ứng, có khi tồn tại vài ngày.

Ngoài ra, phù còn do suy giảm hệ tĩnh mạch, do các nguyên nhân chèn ép tĩnh mạch do viêm, do ung thư hay bệnh toàn thân, bệnh thiếu máu.

Khi bị phù, bạn cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám, làm các xét nghiệm, xác định bệnh. Từ đó bạn sẽ nhận được lời khuyên và phương pháp điều trị theo từng nguyên nhân cụ thể của từng bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Sỏi thận

Sỏi thận

Sỏi thận! Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Định nghĩa

Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Sỏi thận di chuyển có thể đau đớn. Những đau đớn của sỏi thận thường bắt đầu ở phía sau ngay dưới xương sườn, và chuyển tới bụng dưới và háng. Những cơn đau có thể thay đổi khi di chuyển sỏi thận qua đường tiểu.

Sỏi thận thường không gây tổn thương vĩnh viễn. Ngoài các thuốc giảm đau và uống nhiều nước, điều trị thường không cần thiết. Tuy nhiên, điều trị có thể giúp ngăn ngừa sỏi thận tái phát ở những người có nguy cơ gia tăng.

Các triệu chứng

Sỏi thận có thể có hoặc không thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng cho đến khi nó di chuyển vào niệu quản – ống nối liền thận và bàng quang. Vào thời điểm đó, những dấu hiệu và triệu chứng có thể xảy ra:

Đau dữ dội ở một bên và trở lại, dưới các xương sườn.

Đau lây lan đến vùng bụng dưới và háng.

Đau khi tiểu tiện.

Màu hồng, màu đỏ hoặc nâu – nước tiểu.

Buồn nôn và ói mửa.

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Sốt và ớn lạnh nếu nhiễm trùng hiện tại.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng lo lắng.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu  kinh nghiệm:

Đau quá nghiêm trọng mà không thể ngồi yên hoặc tìm một vị trí thoải mái.

Đau đi kèm với buồn nôn và ói mửa.

Đau kèm theo sốt và ớn lạnh.

Nguyên nhân

Sỏi thận thường không có nguyên nhân xác định duy nhất. Một số yếu tố, thường kết hợp, tạo điều kiện trong đó dễ bị sỏi thận phát triển.

Sỏi thận hình thành khi các thành phần của nước tiểu – khoáng sản và các chất lỏng và axit – đang mất cân bằng. Khi điều này xảy ra, nước tiểu có chứa nhiều chất tạo thành tinh thể, chẳng hạn như canxi, oxalat và acid uric, so với các chất lỏng có thể pha loãng. Đồng thời, nước tiểu có thể bị chất giữ tinh thể dính lại với nhau và trở thành đá. Điều này tạo ra một môi trường trong đó sỏi thận có nhiều khả năng hình thành.

Các loại sỏi thận

Phần lớn sỏi thận chứa các tinh thể nhiều hơn một loại. Các loại sỏi thận bao gồm:

Sỏi canxi. Sỏi thận nhất là đá vôi, thường ở dạng oxalat canxi. mức oxalate cao có thể được tìm thấy trong một số loại trái cây và rau quả, cũng như trong các loại hạt và sô cô la. Gan cũng sản xuất oxalate. Các yếu tố chế độ ăn uống liều cao vitamin D, phẫu thuật đường ruột và các rối loạn chuyển hóa một số khác nhau có thể làm tăng nồng độ canxi hoặc oxalat trong nước tiểu. Sỏi canxi cũng có thể xảy ra ở dạng phosphat canxi.

Sỏi Struvite. Struvite để đáp ứng với một bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như là một nhiễm trùng đường tiết niệu. Struvite có thể phát triển nhanh chóng và trở nên khá lớn.

Sỏi acid uric. Uric acid có thể hình thành ở những người mất nước, những người ăn một chế độ ăn giàu protein và những người có bệnh gút. Một số yếu tố di truyền và rối loạn máu của các mô cũng có thể dẫn đến sỏi acid uric.

Sỏi cystine. Những viên đá này chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của sỏi thận. Chúng hình thành ở những người có rối loạn di truyền là nguyên nhân gây thận bài tiết quá nhiều axit amin nhất định (cystinuria).

Loại khác. Loại hiếm của sỏi thận có thể xảy ra.

Biết loại của sỏi thận giúp hiểu những gì có thể đã gây ra hình thành và có thể cung cấp cho các đầu mối như những gì có thể làm để giảm nguy cơ mắc sỏi thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ sỏi thận đang phát triển bao gồm:

Gia đình hoặc lịch sử cá nhân của sỏi thận. Nếu ai đó trong gia đình có sỏi thận, có nhiều khả năng để phát triển các loại sỏi. Và nếu đã có một hay nhiều sỏi thận, đang có nguy cơ phát triển khác.

Người lớn . Sỏi thận thường gặp ở người lớn 40 tuổi trở lên, mặc dù sỏi thận có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Đàn ông. Đàn ông có nhiều khả năng phát triển sỏi thận.

Mất nước. Không uống đủ nước mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận. Những người sống ở vùng khí hậu ấm áp và những người đổ mồ hôi nhiều có thể cần phải uống nhiều nước hơn so với những người khác.

Một số chế độ ăn. Ăn một chế độ ăn uống protein cao, natri và đường cao có thể làm tăng nguy cơ của một số loại sỏi thận.

Béo phì. Cao chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng kích thước vòng bụng và tăng cân có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận.

Bệnh tiêu hóa và phẫu thuật. Phẫu thuật dạ dày, viêm đường ruột hoặc tiêu chảy mãn tính có thể gây ra những thay đổi trong quá trình tiêu hóa, có ảnh hưởng đến sự hấp thụ của canxi và làm tăng mức độ các chất tạo thành sỏi trong nước tiểu .

Điều kiện y tế khác. Bệnh và điều kiện có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận bao gồm toan ống thận, cystinuria, cường cận giáp và nhiễm trùng đường tiết niệu nhất định.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu bác sĩ  nghi ngờ có sỏi thận, có thể trải qua các xét nghiệm và thủ tục để chẩn đoán tình trạng, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Xét nghiệm máu có thể cho thấy canxi dư thừa hoặc acid uric trong máu. Xét nghiệm máu cho phép bác sĩ để kiểm tra các điều kiện khác về y tế và theo dõi sức khỏe của thận.

Xét nghiệm nước tiểu. Xét nghiệm nước tiểu, chẳng hạn như nước tiểu 24 giờ, có thể cho thấy rằng đang bài tiết quá nhiều khoáng chất hình thành đá hoặc quá ít chất ức chế đá.

Hình ảnh kiểm tra. Xét nghiệm có thể hiển thị hình ảnh sỏi thận ở đường tiết niệu. Hình ảnh chụp cắt lớp kiểm tra có thể bao gồm máy vi tính (CT), hoặc X – ray.

Phân tích sỏi.   Có thể phải đi tiểu thông qua bộ lọc được thiết kế để bắt bất kỳ loại đá vượt qua. Bằng cách đó, bất kỳ loại đá có thể được thu thập cho xét nghiệm. Phân tích trong phòng thí nghiệm sẽ cho biết đắc điểm của sỏi thận. Bác sĩ sử dụng thông tin để xác định nguyên nhân gây sỏi thận và để xây dựng một kế hoạch để ngăn ngừa sỏi thận trong tương lai.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị sỏi thận thay đổi, tùy thuộc vào loại và các nguyên nhân.

Điều trị sỏi nhỏ với các triệu chứng tối thiểu

Phần lớn sỏi thận sẽ không cần điều trị xâm lấn. Có thể vượt qua một hòn sỏi nhỏ bằng cách:

Nước uống. Uống nhiều như 2 – 3 lít (1,9-2,8 lít) mỗi ngày có thể giúp rửa hệ thống tiết niệu.

Thuốc giảm đau. Một hòn đá nhỏ đi qua có thể gây ra một số khó chịu. Để giảm đau nhẹ, bác sĩ có thể khuyên nên dùng giảm đau như ibuprofen (Advil, Motrin…), acetaminophen (Tylenol…) hay naproxen sodium (Aleve).

Điều trị sỏi lớn hơn và gây ra các triệu chứng

Sỏi thận có thể không được xử lý bằng các biện pháp bảo thủ – hoặc vì chúng quá lớn để tự vượt qua hoặc vì gây chảy máu, tổn thương thận hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu liên tục – có thể cần điều trị xâm lấn hơn. Thủ tục bao gồm:

Sử dụng sóng âm để phá vỡ. Một thủ thuật được gọi là tán sỏi ngoài cơ thể, sử dụng sóng âm thanh để tạo ra dao động mạnh được gọi là sóng xung kích, phá vỡ đá thành từng miếng nhỏ mà sau đó được thông qua trong nước tiểu. Thủ tục tạo ra một tiếng động lớn và có thể gây đau vừa phải, vì vậy có thể giảm đau hoặc gây mê để làm cho thoải mái. Các chi tiết cụ thể về thủ tục có thể thay đổi tùy thuộc vào loại thiết bị bác sĩ sử dụng.

Tán sỏi ngoài cơ thể, sóng có thể gây ra máu trong nước tiểu, bầm tím trên lưng hoặc bụng, chảy máu quanh thận và các cơ quan lân cận khác và khó chịu như là các mảnh đá đi qua đường tiết niệu.

Phẫu thuật để loại bỏ đá rất lớn trong thận. Một thủ thuật lấy sỏi thận qua da liên quan đến việc phẫu thuật loại bỏ sỏi thận thông qua một đường rạch nhỏ ở lưng. Phẫu thuật này có thể được đề nghị nếu sóng tán sỏi ngoài cơ thể đã không thành công hoặc nếu đá là rất lớn.

Sử dụng một phạm vi để loại bỏ đá. Để loại bỏ một hòn đá trong niệu quản hay thận, bác sĩ có thể thông qua một ống nhỏ (ureteroscope) được trang bị một máy ảnh thông qua niệu đạo và bàng quang đến niệu quản. Bác sĩ thông qua niệu quản đến đá. Khi đá được đặt, các công cụ đặc biệt có thể bẫy đá hoặc phá vỡ nó thành các phần mà sẽ qua đi trong nước tiểu.

Phẫu thuật tuyến cận giáp . Một số loại đá canxi là do tuyến cận giáp hoạt động quá mức – nằm ở bốn góc của tuyến giáp, ngay dưới quả táo Adam. Khi các tuyến này sản xuất quá nhiều hormone tuyến cận giáp, cơ thể với mức độ canxi có thể trở nên quá cao, dẫn đến sự bài tiết quá nhiều can – xi trong nước tiểu. Điều này đôi khi gây ra bởi một khối u lành tính nhỏ ở một trong bốn tuyến cận giáp. Bác sĩ phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u hoặc các tuyến cận giáp.

Thay thế thuốc

Thay thế thuốc không thể điều trị sỏi thận. Tuy nhiên, khi kết hợp với lời khuyên của bác sĩ, phương pháp điều trị thay thế có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Một số bằng chứng cho thấy các phương pháp điều trị thay thế có thể giúp:

Trà. Uống một tách trà đen hoặc trà xanh mỗi ngày có thể giảm nguy cơ sỏi thận. Một nghiên cứu ở phụ nữ thấy những người uống trà đen có nguy cơ thấp hơn của sỏi thận. Các nghiên cứu đã không được chặt chẽ và chỉ liên quan đến phụ nữ, vì vậy nó không cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng uống trà là hữu ích cho tất cả sỏi thận. Nếu thích uống trà, có thể có một cơ hội tiếp tục uống trà có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Tuy nhiên, trà có chứa hàm lượng oxalate. Vì vậy, nếu nước tiểu có một mức oxalate cao, bác sĩ có thể khuyên không uống trà.

Nước chanh và nước cam . Về mặt lý thuyết, uống nước chanh hoặc nước cam có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận. Mức acid citric trong nước chanh và nước cam có thể làm giảm mức độ canxi trong nước tiểu, dẫn đến ít canxi. Nhưng không có nghiên cứu đã chứng minh lý thuyết này. Nếu thích uống nước pha thêm hương vị chanh hoặc nước cam, có thể thấy rằng điều này sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Nhưng không có đủ bằng chứng cho thấy tất cả mọi người nên cố gắng này.

Phòng chống

Thay đổi lối sống

Có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận nếu:

Uống nước trong cả ngày. Uống nhiều nước hơn trong suốt cả ngày. Đối với những người có tiền sử sỏi thận, các bác sĩ thường khuyên nên khoảng 2,6 lít (2,5 lít) nước tiểu một ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu đo lượng nước tiểu để đảm bảo rằng đang uống đủ nước. Những người sống trong môi trường nóng, khí hậu khô và những người tập thể dục thường xuyên có thể cần phải uống nước nhiều hơn để sản xuất đủ nước tiểu.

Ăn ít thực phẩm giàu oxalat. Nếu có xu hướng hình thành sỏi oxalat canxi, bác sĩ có thể khuyên nên hạn chế các loại thực phẩm giàu oxalat. Chúng bao gồm đại hoàng, củ cải đường, đậu bắp, rau bina, củ cải Thụy Sĩ, khoai tây ngọt, trà, sô cô la và các sản phẩm đậu nành.

Chọn một chế độ ăn ít muối và protein động vật . Giảm lượng muối ăn và chọn các nguồn protein không động vật, chẳng hạn như các loại hạt và đậu. Điều này có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận đang phát triển.

Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, nhưng sử dụng thận trọng với các chất bổ sung canxi. Các canxi trong thực phẩm ăn không có hiệu lực vào nguy cơ bị sỏi thận. Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, trừ khi bác sĩ tư vấn khác. Hãy hỏi bác sĩ trước khi uống bổ sung canxi, tuy nhiên, những loại có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận. Có thể làm giảm rủi ro bằng cách bổ sung các bữa ăn.

Hỏi bác sĩ để được giới thiệu đến một chuyên viên dinh dưỡng có thể giúp lập kế hoạch bữa ăn sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận.

Thuốc men

Thuốc có thể kiểm soát mức độ axit hoặc kiềm trong nước tiểu và có thể hữu ích trong một số loại sỏi. Các loại thuốc bác sĩ kê toa sẽ phụ thuộc vào loại sỏi thận  có:

Sỏi canxi. Để giúp ngăn ngừa sỏi canxi hình thành, bác sĩ có thể kê toa thuốc lợi tiểu thiazide đơn hoặc chứa phosphate.

Sỏi acid uric. Bác sĩ có thể kê toa allopurinol (Zyloprim, Aloprim) để giảm mức acid uric trong máu và nước tiểu và thuốc men để giữ kiềm nước tiểu. Trong một số trường hợp, allopurinol và alkalinizing có thể hòa tan sỏi uric acid.

Sỏi struvite. Để ngăn ngừa sỏi struvite, bác sĩ có thể đề nghị các chiến lược để giữ nước tiểu miễn nhiễm vi khuẩn. Dài hạn sử dụng kháng sinh với liều lượng nhỏ có thể hữu ích để đạt được mục tiêu này.

Sỏi cystine. Cystine có thể khó khăn điều trị. Bác sĩ có thể kê toa cho thuốc nhất định để kiềm hóa nước tiểu hoặc để ràng buộc cystine trong nước tiểu ra ngoài với một lượng nước tiểu rất cao.

Theo Dieutri.vn

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang! Đái rắt, nóng rát khi đi tiểu, máu trong nước tiểu, nước tiểu đục hoặc múi mạnh, khó chịu vùng xương chậu, sốt nhẹ, đái dầm ở trẻ nhỏ…Gặp bác sỹ nếu: Đau bên hông, sốt và ớn lạnh, buồn nôn và ói mửa…

Định nghĩa

Viêm bàng quang là một thuật ngữ y tế. Hầu hết trường hợp viêm là do vi khuẩn, nó có thể được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI). Nhiễm trùng bàng quang có thể đau và khó chịu, và có thể trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu nhiễm trùng lan đến thận.

Ít phổ biến hơn, viêm bàng quang có thể xảy ra như là một phản ứng đối với một số loại thuốc , liệu pháp bức xạ hoặc chất kích thích tiềm năng, chẳng hạn như phun vệ sinh phụ nữ, thuốc diệt tinh trùng hoặc sử dụng lâu dài của một ống thông. Viêm bàng quang cũng có thể xảy ra như là một biến chứng của bệnh khác.

Việc điều trị thông thường cho vi khuẩn viêm bàng quang là thuốc kháng sinh. Điều trị cho các loại viêm bàng quang phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng viêm bàng quang thường bao gồm:

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Một cảm giác nóng rát khi đi tiểu.

Thường xuyên đi một lượng nhỏ nước tiểu.

Máu trong nước tiểu.

Nước tiểu đục hoặc có mùi mạnh.

Khó chịu ở vùng xương chậu.

Một cảm giác áp lực ở bụng dưới.

Sốt nhẹ.

Ở trẻ nhỏ, đái dầm cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) – đặc biệt là nếu đái dầm xảy ra:

Cả vào ban đêm và trong ngày.

Chỉ trong ngày.

Ít nhất một lần mỗi tuần.

Đái dầm ban đêm là không có khả năng được liên kết với một UTI.

Gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu có các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho một nhiễm trùng thận, bao gồm:

Đau bên hông.

Sốt và ớn lạnh.

Buồn nôn và ói mửa.

Nếu phát triển cấp bách, thường xuyên hoặc đi tiểu đau đớn kéo dài trong vài giờ hoặc lâu hơn, hoặc nếu nhận thấy máu trong nước tiểu, hãy gọi bác sĩ. Nếu đã được chẩn đoán với một UTI trong quá khứ và phát triển các triệu chứng giống UTI lần trước, gọi bác sĩ.

Cũng gọi cho bác sĩ nếu các triệu chứng viêm bàng quang trở lại sau khi đã hoàn tất một đợt điều trị kháng sinh.

Nếu trẻ bắt đầu có đái dầm ngày, gọi bác sĩ nhi khoa.

Nguyên nhân

Hệ thống tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Đóng một vai trò trong việc loại bỏ chất thải từ cơ thể. Thận  – một cặp cơ quan hình hạt đậu nằm về phía sau của vùng bụng phía trên, lọc chất thải khỏi máu và điều chỉnh nồng độ các chất. Ống gọi là niệu quản từ thận vào bàng quang, nơi nước tiểu được lưu trữ cho đến khi nó thoát ra cơ thể thông qua niệu đạo.

Vi khuẩn viêm bàng quang

UTIs thường xảy ra khi vi khuẩn bên ngoài cơ thể nhập vào đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hệ thống tiết niệu được thiết kế để tránh những kẻ xâm lược. Bàng quang tiết ra một lớp phủ bảo vệ nhằm ngăn ngừa vi khuẩn gắn vào thành của nó. Nước tiểu cũng có các tính chất kháng khuẩn mà ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Tuy nhiên, một số yếu tố tăng cơ hội cho vi khuẩn và nhân vào một bệnh toàn diện.

Nhiễm vi khuẩn bàng quang có thể xảy ra ở phụ nữ là kết quả của giao hợp tình dục. Trong thời gian hoạt động tình dục, vi khuẩn có thể được đưa vào bàng quang qua niệu đạo. Nhưng ngay cả khi không hoạt động tình dục trẻ em gái và phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiểu, bởi vì ở vùng sinh dục nữ thường là bến cảng vi khuẩn có thể gây viêm bàng quang .

Hầu hết các trường hợp viêm bàng quang gây ra bởi Escherichia coli (E. coli ), một loài vi khuẩn thường được tìm thấy ở vùng sinh dục. Một chủng mới của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có thể là nguyên nhân gây ra khó điều trị UTIs ở phụ nữ.

Các loại nhiễm trùng chính

Hai loại chính của nhiễm trùng bàng quang của vi khuẩn là:

Cộng đồng nhiễm trùng bàng quang. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra khi những người không trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như một bệnh viện hoặc điều dưỡng tại nhà, phát triển một nhiễm trùng bàng quang. Tình trạng này là phổ biến ở phụ nữ ở độ tuổi 20 – 50, nhưng nó ít phổ biến ở nam giới cùng tuổi. Tuy nhiên, người đàn ông lớn tuổi hơn 55 có thể có nguy cơ bị loại nhiễm trùng do tuyến tiền liệt nở lớn, một tình trạng phổ biến mà có thể chặn lưu lượng nước tiểu ở nam giới lớn tuổi.

  Nhiễm trùng bàng quang bệnh viện. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra ở những người trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão. Thông thường chúng xảy ra ở những người đã có một ống thông đường tiểu đặt thông qua niệu đạo vào bàng quang để thu thập nước tiểu, một thực tế phổ biến trước khi một số thủ tục phẫu thuật, đối với một số xét nghiệm chẩn đoán, hoặc như một phương tiện thoát nước tiểu cho người lớn tuổi hoặc những người bị giới hạn.

Viêm bàng quang không lây nhiễm (noninfectious)

Mặc dù bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm bàng quang, một số yếu tố noninfectious cũng có thể gây ra viêm bàng quang. Một số ví dụ:

Viêm bàng quang kẽ. Nguyên nhân của viêm bàng quang mạn tính này, còn gọi là hội chứng đau bàng quang là không rõ ràng. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở phụ nữ. Các điều kiện có thể khó khăn để chẩn đoán và điều trị.

Thuốc gây ra viêm bàng quang. Một số thuốc, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị và cyclophosphamide ifosfamide có thể gây viêm bàng quang.

Bức xạ, viêm bàng quang. Bức xạ điều trị của khu vực xương chậu có thể gây ra những thay đổi trong mô viêm bàng quang.

Viêm bàng quang do ngoại lai. Sử dụng lâu dài ống thông có thể bị nhiễm trùng do vi khuẩn và tổn thương mô, cả hai đều có thể gây ra viêm.

Hóa chất viêm bàng quang. Một số người có thể bị quá mẫn cảm với hóa chất có trong sản phẩm nhất định, chẳng hạn như tắm bong bóng, thuốc xịt vệ sinh phụ nữ hay sứa diệt tinh trùng, và có thể phát triển một loại phản ứng dị ứng trong bàng quang, gây viêm.

Viêm bàng quang liên kết với các điều kiện khác. Viêm bàng quang đôi khi có thể xảy ra như là một biến chứng của rối loạn khác, chẳng hạn như ung thư phụ khoa, bệnh viêm vùng chậu, endometriosis, bệnh Crohn, diverticulitis, lupus và bệnh lao.

Yếu tố nguy cơ

Một số người có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển các bệnh nhiễm trùng bàng quang hay nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Phụ nữ là một trong những nhóm như vậy. Một lý do chính là giải phẫu. Phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn so với nam giới có.

Phụ nữ nguy cơ lớn nhất của UTIs bao gồm những người:

Sinh hoạt tình dục. Giao hợp tình dục có thể dẫn đến các vi khuẩn được đẩy vào niệu đạo.

Sử dụng một số loại ngừa thai. Những phụ nữ sử dụng diaphragms có nguy cơ gia tăng của UTI. Diaphragms có chứa chất diệt tinh trùng làm tăng thêm nguy cơ.

Đang mang thai. Thay đổi nội tiết khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bàng quang.

Yếu tố nguy cơ khác cả nam giới và phụ nữ bao gồm:

Can thiệp với dòng chảy của nước tiểu. Điều này có thể xảy ra trong điều kiện như một hòn sỏi trong bàng quang, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng.

Thay đổi trong hệ thống miễn dịch. Điều này có thể xảy ra với các điều kiện như tiểu đường , nhiễm HIV và điều trị ung thư. Một hệ thống miễn dịch giảm, tăng nguy cơ vi khuẩn và trong một số trường hợp nhiễm trùng bàng quang do virus.

Kéo dài việc sử dụng các ống thông bàng quang. Những ống có thể cần thiết ở những người bị bệnh mãn tính hoặc ở người lớn tuổi. Sử dụng kéo dài có thể dẫn đến tổn thương tăng lên đến nhiễm trùng do vi khuẩn cũng như các thiệt hại tế bào bàng quang.

Các biến chứng

Khi được điều trị kịp thời và đúng cách, nhiễm trùng bàng quang hiếm khi dẫn đến biến chứng. Nhưng không được chữa trị, có thể trở thành một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Các biến chứng có thể bao gồm:

Nhiễm trùng thận. Bị nhiễm trùng bàng quang không được điều trị có thể dẫn đến nhiễm trùng thận (viêm bể thận). Nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận. Trẻ nhỏ và người cao niên đang có nguy cơ lớn nhất của suy thận do nhiễm trùng bàng quang vì triệu chứng thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các điều kiện khác.

Máu trong nước tiểu. Viêm bàng quang đôi khi được đi kèm bởi các tế bào máu trong nước tiểu có thể được nhìn thấy chỉ với một kính hiển vi và thường giải quyết với điều trị. Nếu các tế bào máu vẫn còn sau khi đã được điều trị, bác sĩ có thể khuyên gặp một chuyên gia có thể xác định xem liệu có một nguyên nhân.

Trong khi máu trong nước tiểu có thể hiếm hoi nhìn thấy bằng mắt thường là điển hình của viêm bàng quang với vi khuẩn, nhưng không phải là không phổ biến bằng hóa trị hoặc xạ gây ra viêm bàng quang. Điều này đôi khi được gọi là viêm bàng quang xuất huyết. Tăng chất lượng thường là bước đầu tiên trong điều trị. Nếu chảy máu trở nên trầm trọng, việc điều trị hóa – xạ mà bắt đầu chảy máu thường được hoãn cho đến khi chảy máu dừng. Chảy máu nặng được điều trị bằng thuốc hoặc truyền máu, nếu cần thiết.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu có triệu chứng của viêm bàng quang, nói chuyện với bác sĩ càng sớm càng tốt. Ngoài ra để thảo luận về các dấu hiệu và triệu chứng và lịch sử y tế, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm này:

Phân tích nước tiểu. Nếu bị nghi ngờ có một nhiễm trùng bàng quang, bác sĩ có thể xin một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Soi bàng quang. Kiểm tra bàng quang với cystoscope – một ống mỏng với một ánh sáng và camera gắn có thể được chèn vào thông qua niệu đạo vào bàng quang có thể giúp chẩn đoán. Bác sĩ cũng có thể sử dụng cystoscope để loại bỏ một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để phân tích trong phòng thí nghiệm. Thử nghiệm này rất có thể sẽ không cần thiết nếu đây là lần đầu tiên có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm bàng quang.

Hình ảnh. Hình ảnh thường là không cần thiết nhưng trong một số trường hợp, đặc biệt là khi không có bằng chứng của nhiễm trùng được tìm thấy có thể hữu ích. Các xét nghiệm, chẳng hạn như X- quang hoặc siêu âm có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác của viêm bàng quang tiềm năng, chẳng hạn như một khối u hoặc bất thường cấu trúc.

Phương pháp điều trị và thuốc

Viêm bàng quang gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Điều trị viêm bàng quang không lây nhiễm phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Điều trị viêm bàng quang do vi khuẩn

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của điều trị cho viêm bàng quang gây ra bởi vi khuẩn. Loại thuốc được sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào sức khỏe tổng thể và các vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu.

Thông thường triệu chứng cải thiện đáng kể trong vòng một ngày. Tuy nhiên, có thể sẽ cần phải dùng thuốc kháng sinh trong ba ngày đến một tuần, tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh. Không có vấn đề gì về độ dài của điều trị, dùng toàn bộ đợt kháng sinh theo quy định của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn tận diệt.

Nếu có UTIs tái phát, bác sĩ có thể khuyên nên điều trị kháng sinh dài hơn hoặc giới thiệu đến một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu để đánh giá, để xem có bất thường về tiết niệu có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng. Đối với một số phụ nữ, dùng một liều duy nhất thuốc kháng sinh sau khi giao hợp tình dục có thể hữu ích.

Nhiễm trùng bàng quang tai bệnh viện có thể là một thách thức để xử lý, vì vi khuẩn được tìm thấy trong các bệnh viện thường đề kháng với các loại kháng sinh được sử dụng chung của cộng đồng. Vì lý do đó, các loại thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị khác nhau có thể cần thiết.

Điều trị viêm bàng quang kẽ

Với viêm bàng quang kẽ, nguyên nhân của viêm là không chắc chắn, vì vậy không điều trị duy nhất mà tốt nhất là phối hợp cho mọi trường hợp. Liệu pháp được sử dụng để giảm bớt những dấu hiệu và triệu chứng của viêm bàng quang kẽ bao gồm:

Thuốc được dùng qua đường miệng hoặc gieo trực tiếp vào bàng quang.

Thủ tục thao tác bàng quang để cải thiện triệu chứng, chẳng hạn như trướng bàng quang hoặc đôi khi phẫu thuật.

Kích thích thần kinh trong đó sử dụng các xung điện nhẹ để giảm đau vùng chậu, và trong một số trường hợp giảm tần số tiết niệu.

Điều trị các hình thức khác của viêm bàng quang không truyền nhiễm

Nếu đang quá mẫn cảm với hóa chất nhất định trong sản phẩm như tắm bong bóng hoặc chất diệt tinh trùng, tránh các sản phẩm này có thể giúp giảm triệu chứng và giúp ngăn ngừa viêm bàng quang.

Viêm bàng quang phát triển như là một biến chứng của hóa trị hoặc xạ trị liệu, điều trị tập trung vào quản lý đau, thường với thuốc men và hydrat hóa để loại ra chất kích thích bàng quang. Hầu hết các trường hợp điều trị hóa chất gây ra viêm bàng quang có xu hướng giải quyết sau khi hóa trị kết thúc.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Viêm bàng quang có thể bị đau, nhưng có thể thực hiện các bước để giảm bớt sự khó chịu:

Sử dụng một miếng đệm nóng. Đôi khi một miếng đệm nóng đặt trên bụng có thể giúp giảm thiểu cảm giác áp lực bàng quang hoặc đau đớn.

Uống nhiều chất lỏng nhưng tránh cà phê, rượu, nước giải khát có caffein, uống nước cam và các loại thực phẩm nhiều gia vị cho đến khi bệnh đã hết. Uống nhiều chất lỏng có thể kích thích bàng quang và làm tăng các nhu cầu thường xuyên hoặc khẩn cấp để đi tiểu.

Hãy tắm bồn ấm. Nó có thể hữu ích để đắm mình trong một bồn tắm nước ấm cho 15 – 20 phút.

Nếu có nhiễm trùng bàng quang tái phát, hãy để bác sĩ biết. Cùng với nhau có thể phát triển một chiến lược để giảm tái phát và những khó chịu mà viêm bàng quang có thể mang lại.

Phòng chống

Nước trái cây cranberry hoặc viên nén có chứa proanthocyanidin là các biện pháp khắc phục chứng minh để giảm nguy cơ nhiễm trùng bàng quang tái phát. Tuy nhiên, không uống nước trái cây cranberry nếu đang uống warfarin thuốc làm loãng máu. Có thể tương tác giữa dẫn đến chảy máu.

Mặc dù các bước phòng ngừa tự chăm sóc cũng chưa được nghiên cứu, các bác sĩ thường khuyên sau đây cho những phụ nữ đã có bệnh nhiễm trùng bàng quang lặp đi lặp lại:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng đặc biệt quan trọng nếu đang trải qua hóa trị hoặc xạ trị, đặc biệt vào những ngày điều trị.

Đi tiểu thường xuyên. Nếu cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu, không chậm trễ bằng cách sử dụng nhà vệ sinh.

Lau từ trước ra sau sau khi đi tiêu. Điều này ngăn cản các vi khuẩn trong khu vực lây lan qua đường hậu môn vào âm đạo và niệu đạo.

Tắm vòi sen thay vì tắm bồn. Nếu dễ bị nhiễm trùng, tắm vòi sen thay vì tắm bồn có thể giúp ngăn ngừa nó.

Nhẹ nhàng rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn. Làm điều này hàng ngày, nhưng không sử dụng xà phòng rửa quá khắc nghiệt hoặc mạnh mẽ. Da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Rỗng bàng quang càng sớm càng tốt sau khi giao hợp. Uống một ly nước đầy để giúp vi khuẩn tuôn ra.

Tránh sử dụng thuốc xịt khử mùi hoặc các sản phẩm xịt phụ nữ ở vùng sinh dục. Những sản phẩm này có thể kích thích niệu đạo và bàng quang.

Theo Dieutri.vn

BƯỚU THẬN

BƯỚU THẬN

A. BƯỚU LÀNH

  • Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

 

B. BƯỚU ÁC TÍNH

I. Ở TRẺ EM:

  • Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp , sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

II. Ở NGƯỜI LỚN:

B ướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

1. Giải phẫu bệnh và tiến triển:

  • Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày, Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.
  • Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.
  • Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

  2. Biểu hiện lâm sàng:

  Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đau khối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

  • Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.
  • Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.
  • Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.
  • Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

  3. Chẩn đoán dựa vào:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

4. Ðiều trị:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

I II. BƯỚU ÐÀI BỂ THẬN:

  • Thường là loại tế bào chuyển tiếp (niệu mạc – urothelium ). Ðôi khi niệu mạc có thể bị chuyển sản ( Metaplasia ) trở thành tế bào gai ( Squamous cells ) và gây ra ung thư tế bào tuyến ( adenocarcinoma ) thường kết hợp với sỏi bể thận lâu ngày không điều trị. bướu có thể ăn lan từ bể thận xuống Niệu quản và chỉ phát hiện nhờ tiểu ra máu khi bướu đã ăn đến bọng đái, chẩn đoán dựa vào UIV, UPR, soi Niệu quản bể thận , tế bào học nước tiểu, đôi khi làm động mạch đồ.
  • Ðiều trị thường phải cắt bỏ toàn thể thận, Niệu quản kể cả cắt bổ xung quanh miệng Niệu quản nằm trong Bọng đái. Khi bướu xâm đã lấn ra các tổ chức vùng chậu hay mỡ quanh bể thận thì cần xạ trị phối hợp sau mổ hoặc hoá trị nếu bướu chỉ xâm lấn tại chỗ.

Hỏi đáp về bệnh Nang thận

Hỏi đáp về bệnh Nang thận

Tôi 28 tuổi, nữ, đã lập gia đình, chưa có con. Gần đây tôi đi siêu âm bác sĩ cho biết thận trái và phải có nhiều nang và sỏi. Xin hỏi nang thận là gì và cách giải quyết trường hợp của tôi như thế nào? Tôi rất lo lắng vì dự kiến có thai vào hai tháng nữa. Xin cảm ơn.

Cẩm Hà

- Trả lời của Phòng mạch Online:

Thận được cấu tạo bởi khoảng 1 triệu đơn vị thận được gọi  là néphrone. Mỗi néphrone đều có nhiệm vụ lọc, tái hấp thu và bài tiết nước tiểu vào một hồ chứa chung là bể thận.

Từ bể thận nước tiểu sẽ chảy theo niệu quản xuống bàng quang để khi bạn buồn đi tiểu, nước tiểu được bài xuất ra ngoài. Nếu một đơn vị thận bị viêm , bị sỏi, bị xơ làm bít lại thì nước tiểu bị ứ hình thành một cái bọc chứa nước. Nước không được đưa ra ngoài sẽ tái hấp thu lại nhưng phần cặn lưu trữ tạo ra những thứ gọi là “nang thận”.

Có ba loại nang thận: nang đơn độc, chỉ có một ống bị bít tắc, bạn cứ chung sống vui vẻ với nó. Thận đa nang thường do di truyền, cần được theo dõi mỗi 6 tháng siêu âm một lần. Nếu chúng gây đau, nhiễm trùng thì các nhà niệu khoa phải chọc hút. Nang lớn hơn 6cm thì phải mổ vì nó sẽ đè ép các đơn vị thận bên cạnh khiến chúng không làm việc được.

Riêng trường hợp của bạn có thể do sỏi thận hình thành trước làm tắc rồi gây ra nang thận. Thường sỏi thận khi làm việc nặng sẽ gây đau lưng, có người viên sỏi lay lắc sẽ gây cơn đau quặn thận. Có thể trong gia đình (cha mẹ) bạn có người bị tiểu đường hoặc mỡ trong máu cao gây rối loạn chuyển hóa chung. Cũng có thể chế độ ăn của bạn giàu canxi (uống sữa, ăn cá kho nhừ xương, uống nhiều nước suối)… tạo cơ hội lắng đọng thành sỏi. Có khi chỉ vì bạn không chịu uống đủ nước nên không đủ nước hòa tan chất cặn. Nếu thiếu nước, các chất như canxi, oxalat, axit uric không được hòa tan hoàn toàn dẫn đến sự hình thành các tinh thể.

Nước tiểu chứa các chất hóa học như xitrat, manhê, pyrôphôtphat có tác dụng chống lại quá trình tạo tinh thể. Nếu hàm lượng những chất này trong nước tiểu thấp sẽ tạo điều kiện cho sỏi hình thành. Trong những chất này, xitrat đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình chống tạo tinh thể.

Thận có các loại sỏi:

Bốn dạng sỏi hay gặp là: sỏi canxi, sỏi axit uric, sỏi struvite và sỏi cystine.

(1) Sỏi canxi: khoảng 85% thành phần của loại sỏi này là canxi. Canxi kết hợp với các chất thải khác hình thành sỏi. Canxi có thể phối hợp với oxalat để trở thành sỏi canxioxalat hay kết hợp với photphat trở thành sỏi canxiphotphat. Chúng ta ăn uống nhiều canxi hoặc rối loạn hormon cận giáp sẽ làm rối loạn chuyển hóa canxi, photpho, chúng bị thải ra nước tiểu tạo thành sỏi.

Sỏi acid uric: thường gặp ở những đàn ông hay nhậu, uống rượu, ăn thịt màu đỏ, hải sản nhiều.

Sỏi struvite: do đường tiết niệu bị viêm nhiễm, vi khuẩn làm rối loạn cân bằng trong nước tiểu tạo cơ hội cho các chất cặn lắng đọng. Phụ nữ hay bị loại sỏi này do sau khi lập gia đình bị viêm bàng quang nhiều lần, vi khuẩn chạy ngược dòng lên thận gây rối loạn ở bể thận và tạo thành sỏi. Sỏi loại này thường lởm chởm, sắc cạnh, có khi phát triển nhanh, choán bể thận

Sỏi cystin: cystin là một axit amin khó hòa tan. Do di truyền nên một số người có hàm lượng cystin trong nước tiểu cao dẫn đến hiện hình thành sỏi. Loại sỏi này khó điều trị và cần thời gian điều trị dài.

Bạn 28 tuổi và đang muốn sinh con thì cứ theo kế hoạch. Có điều không nên uống sữa mà nên bù canxi bằng cách ăn nhiều rau xanh. Nên uống nhiều nước. Vì bạn không cho biết viên sỏi to bao nhiêu, có gây đau lưng hay đi tiểu ra máu chưa nên rất khó đưa ra lời khuyên cụ thể hơn.

Mong nhận được nhiều thông tin nữa từ bạn. Chúc may mắn.

Theo Tuổi Trẻ

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Cách phát hiện u nang thận

Cách phát hiện u nang thận

Qua tuổi 40, tỷ lệ mắc u nang buồng trứng tăng cao. Dù không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng đôi khi gây sự đau đớn cho người bệnh .

1. U nang thận là gì?

U nang thậnlà một loại túi nhỏ (có kích cỡ đa dạng từ vài mm đến vài cm) chứa chất l lỏng mầu vàng nhạt. Một người có thể có nhiều u nang trong 1 quả thận hoặc trong cả 2 quả thận.

2. Làm thế nào để phát hiện u nang thận?

U nang thận không có triệu chứng nào đặc biệt nên rất khó phát hiện. Cách tốt nhất để phát hiện bệnh này là phương pháp siêu âm. Nếu phát hiện ra khối u, bác sỹ sẽ cho làm xét nghiệm tế bào để biết được đó là u nang hay là một khối u ác tính.

3. Cần phải lập tức điều trị u nang thận khi được phát hiện?

U nang thận lành tính thường không gây đau lưng do đó nó rất khó phát hiện. Khối u này đôi khi được phát hiện khi bạn được bác sỹ chỉ định đi siêu âm hệ tiêu hóa hay đường tiết niệu .

Tuy nhiên đối với các u nang thận lành tính không cần phải điều trị đặc biệt. Phần lớn trường hợp, người bệnh sống chung với u nang thận trong nhiều năm.

Bác sỹ chỉ định điều trị u nang thận khi khối u này chèn lên đường tiết niệu hay đường kính của nó quá lớn.

4. Khi nào cần phẫu thuật u nang thận?

Bác sỹ sẽ chỉ định phẫu thuật u nang thận khi nó chèn lên các bộ phận xung quanh hoặc nó quá to. Mổ nội soi hút dịch u nang thận là cách thông dụng hiện nay.

Theo Dantri

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Phì đại tuyến tiền liệt là hiện tượng “phát phì” không bình thườngcủa tuyến tiền liệt ( TTL),  là sinh lý bình thường của người cao tuổi nhưng khi đã có những triệu chứng bất thường thì cần phải nghĩ ngay đến một tình trạng bệnh .

Khi tuổi càng cao, tuyến tiền liệt càng có nguy cơtăng kích thước, chèn ép vào niệu đạo và bàng quang, gây nên chứng bệnh này…. Và đây là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (50 – 60 tuổi trở lên).

Chức năng của tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt (TTL) là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở nam giới, nằm ngay dưới bàng quang và trước trực tràng. Khi mới sinh thì TTL nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam… Chức năng của TTL phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. Thông thường tuổi càng cao thì TTL càng to ra nên gọi là phì đại TTL (u xơTTL, bướu lành TTL). Đây là hiện tượng sinh lý bình thường của sự lão hóa cơthể.

Ảnh hưởng của phì đại tuyến tiền liệt

Sự phì đại TTL chèn ép niệu đạo (ống tiểu) và gây nên những rối loạn về đi tiểu. Khi phát triển lớn, u xơ sẽ gây chèn ép làm bế tắc ống tiểu và đôi khi còn kèm đau khi tiểu tiện. Đây là lúc TTL có trạng thái bệnh nên mọi người cần phải chú ý.

Khi nào tuyến tiền liệt có vấn đề?

Thông thường những người cao tuổi bị phì đại TTL sinh lý do tuổi tác, nếu chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ như hay tiểu tiện nhiều hơn so với thời trẻ thì chưa phải là bệnh nên không cần phải điều trị. Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như: tiểu gấp, đêm phải đi tiểu nhiều lần, phải rặn khởi động, tia nước tiểu yếu, tiểu xong có cảm giác là tiểu chưa hết, phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ, khó đi tiểu, tiểu đau buốt… thì đó là dấu hiệu bệnh lý nên cần phải đi khám ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay. Khi khám thì bác sĩ có thể khám bằng cách thăm dò trực tiếp trực tràng, siêu âm, chụp hình hệ niệu có cản quang, làm các xét nghiệm tổng quát để đánh giá tình trạng chung của người bệnh.
Các biến chứng có thể gặp của bướu lành tính TTL: Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mạn tính, suy giảm chức năng thận… và có thể suy thận.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên vừa qua cho thấy phì đại tiền liệt tuyến dễphát tán ởngười mà cuộc sống trước đây thường:

• Stress kinh niên.
• Uống không đủ nước trong giờ làm việc lại hay đổ mồ hôi.
• Sinh hoạt thường xuyên trong môi trường ô nhiễm nhưng thiếu phương tiện bảo vệ sức khoẻ • Có chế độ dinh dưỡng đơn điệu nên cơthể thiếu hụt sinh và khoáng tố thuộc nhóm kháng oxy-hóa.
• Lạm dụng bia rượu, chất béo động vật, chất kích thích (cà-phê, thuốc lá…) khiến sức đề kháng bị sói mòn.
• Mắc bệnh trên đường tiết niệu ( viêm bàng quang), bệnh nội tiết (tiểu đường, rối loạn chức năng tuyến giáp) không được điều trị đến nơi đến chốn.

Nói cách khác, bệnh có thể phòng ngừa không mấy khó nếu nạn nhân đừng quên khắc phục các nhược điểm vừa kể khi còn trẻ, khi tuyến tiền liệt hãy còn “chạy êm” Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơđầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng nhưchất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn, tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơthể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơcàng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơthể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

II. TRIỆU CHỨNG CỦA PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

-Bất chợt có một thôi thúc cấp bách muốn đi tiểu mà ta không kiểm soát, kiềm chếđược. Lý do là bàng quang bịcăng đầy nước tiểu.

-Mót tiểu là vậy mà khi vào nhà cầu thì nước chẳng chịu ra ngay, phải gồng bụng rặn, vì ống dẫn bị nhiếp tuyến đè nghẹt.

-Nếu có ra thì, vòi nước tiểu cũng yếu ngắt quãng vì “ đường ống” quá hẹp.

-Tiểu xong mà thấy vẫn như còn tưng tức có nước, muốn đi thêm.

-Nước tiểu sót lại trong bàng quang kích thích nên ta hay đi đái rắt, nhất là vào đêm khuya.

-Nước tiểu đôi khi có máu vì huyết quản dãn nở đứt vỡ;

Nhiều khi vì nằm lâu trong bàng quang, nên nước tiểu cũng bị nhiễm vi khuẩn, đưa tới bệnh đường niệu.

Người ta thường hay ví người bị u xơ tuyến tiền liệt là “tiểu ướt mũi giày” là do nước tiểu nhỏ giọt xuống mũi giày hay hội chứng bàn tay khai vì tay dính nước tiểu) hoặc tiểu bị tắc xong lại tiểu tiếp, đi tiểu rất lâu… và nặng hơn có thể bị bí tiểu hoàn toàn.

Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơ đầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng như chất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn,  tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơ thể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơ càng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơ thể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

III. ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Sau khi bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán thì bác sĩ sẽ cho biết là nên điều trị nội khoa hay phải phẫu thuật (dùng thuốc hay mổ). Ngày nay có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn đi tiểu của người bệnh, cũng nhưcó nhiều phương pháp can thiệp ngoại khoa. Nói chung là tùy theo thể trạng người bệnh, kích thước bướu và bướu có gây biến chứng gì lên đường tiết niệu hay chưa… mà bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Một điều cần lưu ý đối với người cao tuổi (từ 45 tuổi trở lên) rằng, bướu lành TTL là căn bệnh không thực sự nguy hiểm nhưng muốn điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và tự điều trị ở nhà thì bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Vì thực tế hiện nay, ngay cả khi đã mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của thầy thuốc thì người bệnh vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

 

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

B ướu thận có hai loại:

B ƯỚ U LÀNH

Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

B ƯỚ U ÁC TÍNH

Ở trẻ em:

·       Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp, sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

Ở người lớn:

Bướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

I. GIẢI PHẪU VÀ TIẾN TRIỂN CỦA BƯỚU THẬN:

Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày , Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.

·       Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.

·       Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BƯỚU THẬN:

Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đaukhối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

·       Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.

·       Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.

·       Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.

·       Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH BƯỚU THẬN:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

IV. ĐIỀU TRỊ BƯỚU THẬN:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

- Nếu bệnh nhân bị b ướ u lành thì chỉcần mổkhi bướu lớn quá, chảy máu hoặc đau. Mổcắt bỏcảthận hoặc một phần thận có bướu tùy tình hình cụthể.

- Nếu bệnh nhân bị ung thư thận thì phải cắt bỏ toàn bộ thận có bướu càng sớm càng tốt. Việc hóa trị và xạ trị sau đó chỉ có tính cách bổ túc mà thôi.