Hiển thị các bài đăng có nhãn bổ dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bổ dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Mề đay

Mề đay

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. Mề đay có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. Mề đay có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

Vị trí thường nổi Mề đay là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là Mề đay nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại Mề đay này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.

Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù là hiện tượng ứ nước trong các tổ chức dưới da hoặc ở các tạng của cơ thể. Phù là một dấu hiệu của nhiều bệnh, nên khi bị phù phải tìm nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị mới có kết quả.

  Phát hiện phù

Bằng mắt thường mọi người có thể thấy ngay được, nhưng đôi khi rất khó xác định phù. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nặng chân. Nơi bị phù sưng to, căng mọng, làm mất đi các nếp nhăn, mắt cá, đầu xương bị phẳng lỳ. Da vùng phù nhạt màu, ấn vào nơi phù da lõm xuống, đặc biệt là ấn vào mặt trước trong xương chày.

Các dấu hiệu kèm theo như lượng nước tiểu ít đi, gan to, cổ trướng, khó thở… Phù giữ nước nên cân nặng có thể tăng hằng ngày từ 1 đến 2 kg. Sau đây là các nguyên nhân gây phù:

Phù toàn thân

Thường phù từ mặt, bụng, ngực, chân, tay, kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn. Hay gặp những bệnh sau:

Thận nhiễm mỡ: Phù rất to. Phù trắng, lúc đầu phù ở mặt, sau phù toàn thân. Thường kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng. Ăn nhạt không giảm phù. Nước tiểu có nhiều protein. Xét nghiệm máu: urê, creatinin không cao, protein giảm nhiều, cholesterol tăng nhiều.

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn: Phù trắng, mềm, ấn lõm, phù toàn thân, rõ ở hai chi dưới. Ăn nhạt phù giảm rõ. Có thể kèm theo tăng huyết áp , tràn dịch màng phổi, màng tim. Nước tiểu ít, vẩn đục, có protein, trụ niệu. Có thể thiếu máu. Chức năng thận rối loạn, creatinin tăng cao.

Suy dinh dưỡng: Phù toàn thân hoặc hai chi dưới, phù trắng, mềm, ấn lõm, mức độ phù buổi sáng và chiều như nhau. Nước tiểu không có protein. Thường do thiếu ăn hoặc đang mắc các bệnh mạn tính như: rối loạn tiêu hóa lâu ngày, lao, ung thư, các bệnh tê liệt, bị các bệnh mạn tính nằm lâu.

Phù do nội tiết: Phù do tăng aldosteron: Phù trắng, ấn lõm, phù chi dưới, có khi phù mặt, phù kín đáo, có trường hợp tự khỏi. Gặp ở phụ nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nước tiểu không có protein. Điều trị bằng spirolacton có hiệu quả.

Phù do thiểu năng tuyến giáp: phù cứng, ấn không lõm, mặt tròn mắt híp, môi dày, lưỡi to. Móng chân, tay có ngấn, khô rạn, tóc cứng, dễ gãy. Chậm chạp, trí tuệ kém phát triển, nhiệt độ giảm, huyết áp hạ, mạch chậm.

Phù do ưu năng tuyến thượng thận: Mặt tròn đỏ, phù cứng, huyết áp tăng. Gặp ở người có u ở vỏ thượng thận, người uống corticoid lâu ngày, nếu ngừng uống thì các triệu chứng sẽ hết.

Phù khu trú

Phù ngực: Còn gọi là phù áo khoác, phù từ ngực có thể phù lên cổ, mặt hoặc phù cả hai tay. Do u đè ép vào ống bạch mạch ở ngực và tĩnh mạch chủ trên. Trên da ngực nổi nhiều mạch máu ngoằn nghèo màu tím, bệnh nhân đau ngực, vú to. Chụp Xquang lồng ngực thường thấy khối u trung thất.

Phù hai chi dưới: Do suy tim và xơ gan:

- Do suy tim: lúc đầu phù 2 mắt cá chân, phù mềm, ấn lõm. Phù xuất hiện vào buổi chiều, mất đi lúc sáng sớm và lúc nghỉ ngơi. Hai chân phù rất to, có khi nứt da, nước vàng chảy rỉ ra. Ăn nhạt phù giảm rõ. Kèm theo tim to, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mạch nhanh, khó thở, đái ít. Suy tim nặng có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi.

- Do xơ gan: gan có thể to, cứng, thường gan bị teo. Phù ít, ấn lõm, sau phù to. Nước cổ trướng tái phát nhanh. Có thể kèm theo tràn dịch màng phổi, màng tinh hoàn, có mạch máu nổi ở da bụng. Chức năng gan suy giảm.

Phù do thiếu vitamin B1: (Bệnh Bêribêri hay bệnh tê phù). Phù hai chân, ấn lõm, thường phù rõ vào buổi chiều, hai chân thấy tê bì như kiến bò, hay bị chuột rút, phản xạ gân gối mất. Thường do ăn uống thiếu chất lâu dài. Điều trị bằng vitamin B1 phù mất đi rõ rệt. Nếu mẹ đang nuôi con thì con cũng bị thiếu vitamin B1, hay khóc về đêm, gọi là khóc “dạ đề”.

Phù do thai nghén: Gặp ở người có thai, có hoặc không có protein niệu. Cần phải khám thai định kỳ để xác định.

Phù một chi: Phần nhiều gặp ở chân hơn ở tay, do bệnh của các huyết quản.

Viêm tắc tĩnh mạch: Phù mềm, ấn lõm, da ấm. Rất đau khi nắn vào chi phù. Gác chân lên cao, nằm nghỉ thì bớt phù. Có sốt, gặp ở người sau đẻ, sau phẫu thuật vùng hố chậu, bệnh nhiễm khuẩn nặng.

Viêm mạch bạch huyết : phù mềm, ấn lõm, rất đau. Trên da nổi những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng trong vùng như bẹn, nách cũng sưng và đau. Đôi khi có sốt. Phát hiện có vết xước, vết thương, nhọt. Trong trường hợp mới mắc bệnh giun chỉ, có thể tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở máu tĩnh mạch vào ban đêm.

Phù cứng: Thường là phù chân voi, di chứng của viêm mạch bạch huyết do giun chỉ. Ống bạch huyết bị vỡ vào tổ chức dưới da, gây phù cứng. Da rất dầy và cứng, ấn không lõm. Thường bị một chân, có khi cả 2 chân nhưng không đều. Phù bộ phận sinh dục như bìu xù xì, to và cứng. Nếu ống bạch huyết vỡ vào bể thận, thì bệnh nhân đái ra dưỡng chấp màu đục như nước vo gạo.

Phù dị ứng: Thường xuất hiện đột ngột sau khi ăn hoặc tiếp xúc tác nhân dị ứng như thuốc , thức ăn, bụi nhà, phấn hoa, sâu róm… Phù xuống quanh mắt, mồm, da nổi cục và ngứa, mất đi rất nhanh khi dùng thuốc chống dị ứng, có khi tồn tại vài ngày.

Ngoài ra, phù còn do suy giảm hệ tĩnh mạch, do các nguyên nhân chèn ép tĩnh mạch do viêm, do ung thư hay bệnh toàn thân, bệnh thiếu máu.

Khi bị phù, bạn cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám, làm các xét nghiệm, xác định bệnh. Từ đó bạn sẽ nhận được lời khuyên và phương pháp điều trị theo từng nguyên nhân cụ thể của từng bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Tinh hoàn không xuống bìu: Nguyên nhân, nguy cơ và cách điều trị

Tinh hoàn không xuống bìu: Nguyên nhân, nguy cơ và cách điều trị

Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) là một dịtật khá phổbiến ởtrẻem. Khoảng 4% trẻnam mới sinh bịTHKXB. Năm 2005, có 600 trẻTHKXB đến BV Nhi TW khám, trong đó có 450 cháu đến bệnh viện muộn nên phải phẫu thuật hạtinh hoàn xuống bìu.

THKXB còn gọi là tinh hoàn ẩn, là thuật ngữ được dùng để chỉ các trường hợp tinh hoàn không nằm ở bìu  do bị dừng lại bất thường trên đường di chuyển bình thường từ ổ bụng xuống bìu, bị lạc chỗ hoặc tinh hoàn dao động. THKXB có thể một bên hoặc hai bên.

I. NGUYÊN NHÂN CỦA TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

Cản trở cơ học: Bất cứ sự trở ngại nào của dây chằng và ống bẹn đều có thể làm hạn chế sự di chuyển của tinh hoàn  hoặc dẫn đến tinh hoàn lạc chỗ ở vị trí bất thường.

Nguyên nhân nội sinh: Là những nguyên nhân do chính bản thân tinh hoàn, thường gặp trong những bất thường nhiễm sắc thể 46, XXY, hoặc có thể phối hợp với nhiều hội chứng dị dạng khác.

Bất thường về nội tiết: Do tổn thương trục dưới đồi – yên – sinh dục ở bệnh nhân THKXB. Khi bệnh nhân mắc các hội chứng: Kallmann, Prader-willi-Labhart, quái thai không não, suy tuyến yên do trục dưới đồi – yên – sinh dục bị tổn thương hoặc không bình thường về cấu trúc đều là những nguyên nhân THKXB.

II. NGUY CƠ CỦA TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

Khả năng vô sinh

Qua 27 nghiên cứu về khả năng sinh sản sau điều trị THKXB 1 bên thấy 31% giảm tinh trùng, 14% không có tinh trùng.

Nhiều nghiên cứu về khả năng sinh sản ở những THKXB thấy khả năng vô sinh gặp nhiều ở THKXB 2 bên từ 50-70%.

Những THKXB đều có sự khiếm huyết cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Số lượng tế bào mầm và ống sinh tinh giảm rõ rệt so với tinh hoàn bình thường.

Tỷ lệ vô sinh THKXB 1 bên là 7%. Tỷ lệ vô sinh cao hơn ở THKXB 2 bên.

Khả năng ung thư hóa

Nguy cơ ung thư hóa tinh hòan gặp trong THKXB có tỷ lệ cao gấp 35-48 lần so với tinh hoàn bình thường. Khoảng 10% nam giới bị ung thư tinh hoàn có tiền sử THKXB. Nguy cơ ung thư tinh hòan tăng lên ở những trường hợp tinh hòan ở vị trí cao trong ổ bụng do nhiệt độ ổ bụng cao hơn bìu.

Chẩn đoán THKXB: Gia đình có thể phát hiện qua quan sát thấy trẻ không có tinh hoàn ở vùng bìu 1 hoặc 2 bên, hoặc nhìn thấy 1 bên vùng bìu bị lép hơn bên đối diện.

Sờ: Không tìm thấy tinh hoàn  trong vùng bìu.

Nếu nghi ngờ hoặc phát hiện thấy trẻ THKXB phải đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để có xác định chẩn đoán và điều trị sớm cho trẻ nhằm tránh để tinh hoàn nằm trong ổ bụng quá lâu, các tế bào mầm sinh tinh trùng bị hỏng hoặc phải phẫu thuật hạ tinh hoàn.

III. ĐIỀU TRỊ TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG BÌU:

THKXB là dị tật có thể sửa chữa bằng tiêm thuốc hormon hoặc phẫu thuật THKXB. Do vậy chỉ định điều trị nội hoặc ngoại khoa phụ thuộc vào mức độ và tuổi chẩn đoán sớm hay muộn. Điều trị ngoại khoa có nhiều ưu điểm đưa ngay tinh hoàn xuống bìu nhưng có thể làm thương tổn ống dẫn tinh, mạch máu nuôi tinh hoàn trong quá trình phẫu thuật. Các tai biến này sẽ làm cho tinh hoàn bị teo hoặc tắc ống dẫn tinh sau mổ. Những trường hợp tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng rất khó hạ ngay xuống thì phải mổ. Điều trị nội khoa bằng hormon HCG có thể làm cho một số tinh hoàn di chuyển xuống bìu hoàn toàn, số còn lại nếu chỉ di chuyển một phần cũng làm cho phẫu thuật được dễ dàng hơn.

Điều trị nội khoa (thuốc nội tiết): Chỉ định cho các trường hợp THKXB dừng lại bất thường trên đường di chuyển xuống bìu (THKXB dao động không có chỉ định bắt buộc).

Cơ sở điều trị hormon HCG trong THKXB: Phù hợp với cơ chế bệnh sinh là phương pháp không xâm nhập, tạo điều kiện phẫu thuật thuận lợi và kết quả thành công điều trị nội tiết từ 30-65%. Nên điều trị THKXB trước 2 tuổi.

Thuốc điều trị THKXB: HCG (Biệt dược Pregnyl).

- Liều lượng: Thường cho 7-10 mũi HCG: 50-100UI/kg cách ngày.

Với liều lượng 13.500 UI/đợt sẽ gây tổn thương tinh hoàn.

- Tác dụng phụ của thuốc: Ngứa ngoài da hoặc cương dương vật.

Điều trị ngoại khoa: mang lại kết quả về thẩm mỹ và tâm lý cho bệnh nhân.

Cố định tinh hoàn được chỉ định bắt buộc cho những trường hợp:

- THKXB lạc chỗ.

- Sau điều trị nội khoa thất bại.

- Trước khi ung thư hóa và THKXB có dị tật kèm theo nên phẫu thuật sớm.

Ngày nay xu hướng phẫu thuật sớm hơn trước 2 tuổi.

Đái dắt, hãy coi chừng!

Đái dắt, hãy coi chừng!

Sau khi quan hệ tình dục mà xuất hiện việc đái dắt, bạn hãy coi chừng vì đó có thể là biểu hiện đầu tiên của việc nhiễm bệnh lậu…

Dấu hiệu đặc biệt

Bệnh lậu sinh dục lây theo đường giao hợp với người đang mang vi khuẩn lậu (cấp tính hoặc mãn tính).

Lậu cầu là những song cầu hình hạt cà phê hoặc hình quả thận, xếp đôi, xếp bốn hoặc thành từng đám. Sức đề kháng của lậu cầu kém, ra khỏi cơ thể, lậu cầu dễ bị chết, các thuốc sát trùng thông thường hay nhiệt độ cao cũng làm cho lậu cầu chết.

Các quan điểm trước đây cho rằng bệnh này có thể lây qua gián tiếp như mặc chung quần lót, ngồi phải chỗ bệnh nhân lậu đã ngồi hoặc dùng chung đồ dùng nay đã bị thực tế phủ nhận. Bệnh lậu chỉ có thể lây khi quan hệ tình dục (giao hợp) với người mắc bệnh.

Do phản ứng bảo vệ của cơ thể, lậu cầu khuẩn không xâm nhập được vào sâu hơn, chúng tạo mủ ở niệu đạo, gây rát buốt, đái dắt. Đây là dấu hiệu đặc biệt ở giai đoạn đầu của bệnh lậu và cũng nhờ dấu hiệu này mà chẩn đoán ra bệnh lậu (có mủ dính đặc ở miệng sáo).

Tuy nhiên cần lưu ý, không phải cứ hễ đái dắt là bị lậu mà bị lậu thì dấu hiệu đầu tiên là đái dắt!

Nữ khó nhận biết bệnh hơn nam

Ở nam giới, biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn cấp thường dễ nhận thấy, nhưng ở nữ giới biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn cấp rất ít, nhiều khi không biết mình có bệnh. Vì vậy, phụ nữ mắc lậu là nguồn lây bệnh nguy hiểm cho người khác khi có quan hệ tình dục.

Nếu được điều trị kịp thời, đúng cách, hầu hết (96%) sẽ khỏi bệnh nhanh chóng. Nếu không điều trị kịp thời và đầy đủ thì sau 10-15 ngày nhiễm khuẩn lan rộng dẫn đến viêm niệu đạo toàn bộ, khi đó đái dắt, đái khó, có thể đái ra giọt máu ở cuối dòng, mủ chảy ra nhiều, hạch bẹn có thể sưng đau.

Bệnh lậu có thể dẫn tới các biến chứng ở nam giới như: viêm ống dẫn tinh và mào tinh hoàn; viêm túi tinh và ống phóng tinh; viêm dưới niêm mạc niệu đạo gây nhiều túi mủ xung quanh niệu đạo.

Còn ở nữ, thời gian ủ bệnh thường từ 2 tuần trở lên. Tuy nhiên có tới 75% phụ nữ có thời gian ủ bệnh khó xác định và các triệu chứng ban đầu rất kín đáo. Rất hiếm khi có triệu chứng lâm sàng cấp tính, nếu có thì thường là ở phụ nữ trẻ, mới mắc bệnh lần đầu.

Biểu hiện thường thấy là đái dắt, đau sau khi giao hợp, đau vùng xương chậu. Nếu khám thì thấy viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung có mủ, viêm âm hộ, âm đạo.

Ngoài chữa trị theo Tây y, với bệnh này, y học cổ truyền cũng có các bài thuốc chữa trị, như bài “cân diệp tiễn thang”, với các vị thuốc: bản lam căn 30g, đại thanh diệp 30g, kim tiền thảo 15g, đại hoàng 12g. Cho thuốc vào 600 ml nước, đun nhỏ lửa trong 30 phút. Chắt ra lấy 1/2 chia 3 lần uống trong ngày. Còn 1/2 và bã dùng để rửa và đắp cơ quan sinh dục. Dùng trong 5 ngày liền.

Tốt nhất là bệnh nhân đến khám và điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa về da liễu, tuyệt đối không tự điều trị. Trong thời gian mắc bệnh, tuyệt đối không quan hệ tình dục để tránh lây bệnh cho người khác.

Theo Lương y Hoài Vũ
Thanh Niên

7 bí quyết bảo vệ dạ dày

7 bí quyết bảo vệ dạ dày

Hậu quả của việc ăn uống không theo chuẩn mực sẽ khiến bạn mắc chứng khó tiêu. Nhưng tin tốt là bạn có thể thực hiện vài bước đơn giản dưới đây để tiêu hóa tốt hơn.

Không có gì đáng cười khi nói rằng cần cân nhắc trước khi thưởng thức một bữa ăn ngon, vì nếu không bạn sẽ hối tiếc sau đó. Hậu quả của việc ăn uống không theo chuẩn mực sẽ gây trở ngại cho dạ dày khiến dạ dày bị tổn thương, mắc chứng khó tiêu. Một số các triệu chứng của chứng khó tiêu bao gồm: đầy hơi, ợ hơi, trướng bụng, nóng hoặc đau trong dạ dày hoặc bụng, và thậm chí buồn nôn. Không có triệu chứng nào trong số này dễ chịu. Nhưng tin tốt là bạn có thể thực hiện vài bước đơn giản dưới đây để tiêu hóa tốt hơn.

Dưới đây là 7 điều bạn có thể làm:

1. Ăn những thức ăn có chứa men vi sinh: Men vi sinh có vi khuẩn tốt có thể có lợi cho đường tiêu hóa của bạn. Men vi sinh có nhiều trong sữa chua, sữa, và đồ uống probiotic… nước trái cây không sữa, đậu nành… và ăn chay probiotic.

2. Không nên nằm xuống ngay sau khi ăn:
Cơ thể chúng ta được thực hiện việc tiêu hóa thức ăn ở vị trí thẳng đứng. Nếu nằm xuống ngay sau khi ăn, cơ thể bạn cố gắng để tiêu hóa thức ăn có thể dẫn đến chứng khó tiêu. Chờ 2-3 giờ sau bữa ăn mới lên đi ngủ.

3. Ăn chậm: Khi bạn ăn quá nhanh, bạn sẽ nuốt khá nhiều không khí, có thể làm đảo lộn quá trình tiêu hóa.

4. Ăn nhiều chất xơ: Hãy chắc chắn rằng bạn bổ sung nhiều chất xơ trong chế độ ăn uống của bạn, vì nếu ăn ít chất xơ có thể dẫn đến các vấn đề tiêu hóa. Thêm nhiều chất xơ vào chế độ ăn uống của bạn từ từ và uống thật nhiều nước sau đó.

7 bí quyết bảo vệ dạ dày, Sức khỏe đời sống, benh da day, tieu hoc, thuc pham, loet da day, bao

Nhai kẹo cao su sẽ giúp kích thích sản xuất nước bọt, giúp trung hòa acid dạ dày và làm giảm khả năng gặp khó tiêu. (Ảnh minh họa).

5. Ghi nhật ký thực phẩm để xác định các loại thực phẩm gây ra chứng khó tiêu cho cá nhân bạn : Thông thường các loại thực phẩm hoặc đồ uống có nhiều chất axit là cà phê, rượu hoặc là gia vị các loại thực phẩm kích hoạt.

6. Không mặc quần áo bó sát hoặc thắt lưng chặt trong khi ăn: Điều này có thể nén dạ dày và nhiều khả năng làm tăng chứng ợ nóng.

7. Nhai kẹo cao su sau bữa ăn: Nhai kẹo cao su sẽ giúp kích thích sản xuất nước bọt, giúp trung hòa acid dạ dày và làm giảm khả năng gặp khó tiêu.

Nếu bạn thực hiện những thay đổi này, nhưng vẫn gặp phải những triệu chứng của chứng khó tiêu, hãy cân nhắc và đến gặp bác sĩ . Điều này có thể là một dấu hiệu cho thấy khó tiêu là một triệu chứng của một vấn đề khác, chẳng hạn như hội chứng ruột kích thích, loét dạ dày, hoặc bệnh túi mật.

TAGS: benh da day, tieu hoc, thuc pham, loet da day, bao
Theo Phương Thùy (Afamily)

Giãn tĩnh mạch thực quản

Giãn tĩnh mạch thực quản

Giãn tĩnh mạch thực quản! Thường không gây triệu chứng, trừ khi chảy máu: Nôn ra máu, phân có máu, sốc trong trường hợp nghiêm trọng…Biến chứng nghiêm trọng nhất là chảy máu, nếu đã chảy máu – nguy cơ tiếp tục tăng rất nhiều…

Định nghĩa

Giãn tĩnh mạch thực quản (varices) là bất thường, các tĩnh mạch mở rộng ở phần dưới của thực quản – ống nối cổ họng và dạ dày. Varices thực quản xảy ra thường xuyên nhất ở những người bị bệnh gan nghiêm trọng.

Thực quản varices phát triển khi bình thường lưu lượng máu đến gan chậm lại. Máu sau đó tràn vào các mạch máu gần đó nhỏ hơn, chẳng hạn như trong thực quản, gây ra các mạch sưng lên. Đôi khi, varices thực quản có thể vỡ, gây chảy máu đe dọa tính mạng.

Một số loại thuốc và các thủ tục y tế có sẵn để cầm máu từ varices thực quản. Những phương pháp điều trị tương tự có thể giúp ngăn ngừa chảy máu ở những người được chẩn đoán với varices thực quản.

Các triệu chứng

Varices thực quản thường không gây ra dấu hiệu và triệu chứng, trừ khi bị chảy máu. Các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu thực quản varices bao gồm:

Nôn ra máu.

Màu đen, hắc ín hoặc phân có máu.

Shock, trong trường hợp nghiêm trọng.

Gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu  có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh gan, hãy hỏi bác sĩ về nguy cơ varices thực quản và làm thế nào có thể làm giảm nguy cơ bị các biến chứng. Hãy hỏi bác sĩ cho dù nên trải qua một quy trình nội soi để kiểm tra varices thực quản.

Nếu đã được chẩn đoán với varices thực quản, bác sĩ có thể hướng dẫn phải thận trọng với những dấu hiệu chảy máu. Chảy máu thực quản varices là một trường hợp khẩn cấp. Gọi số dịch vụ khẩn cấp địa phương ngay lập tức nếu trải nghiệm nôn ra máu hay phân có máu.

Nguyên nhân

Các tĩnh mạch thực quản mở rộng của varices hình thành khi dòng máu đến gan chậm lại. Thường thì dòng chảy của máu bị chậm bởi mô sẹo trong gan gây ra bởi bệnh gan. Khi máu đến gan chậm lại, nó bắt đầu trở lại, dẫn đến áp lực tăng lên trong một tĩnh mạch lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu đến gan. Áp lực lực lượng máu vào tĩnh mạch nhỏ ở gần đó, chẳng hạn như trong thực quản. Những tĩnh mạch dễ vỡ, mỏng bắt đầu với máu thêm. Đôi khi các tĩnh mạch có thể bị vỡ và chảy máu.

Bệnh gan và các nguyên nhân khác của varices thực quản

Thực quản varices là thường xuyên nhất một biến chứng của xơ gan, không thể đảo ngược lại sẹo gan. Các bệnh và điều kiện khác cũng có thể gây varices thực quản. Nguyên nhân có thể bao gồm:

Sẹo gan nặng (xơ gan). Một số bệnh gan có thể dẫn đến xơ gan, như nhiễm trùng viêm gan, bệnh gan do rượu và một chứng rối loạn đường mật gọi là xơ gan đường mật chính.

Máu đông (huyết khối). Một cục máu đông trong các tĩnh mạch cửa hoặc trong một tĩnh mạch có nguồn cấp vào trong tĩnh mạch cửa được gọi là các tĩnh mạch lách có thể gây ra varices thực quản.

Nhiễm ký sinh trùng. Sán máng là một nhiễm ký sinh trùng được tìm thấy trong các phần của châu Phi, Nam Mỹ, vùng Caribbean, Trung Đông và Đông Nam Á. Các ký sinh trùng có thể gây hại cho gan, cũng như phổi, ruột và bàng quang.

Hội chứng gây ra máu trở lại trong gan. Hội chứng Budd – Chiari là một tình trạng hiếm gặp gây ra các cục máu đông có thể chặn các tĩnh mạch thực hiện máu của gan.

Yếu tố nguy cơ

Mặc dù nhiều người mắc bệnh gan phát triển varices thực quản, hầu hết sẽ không bị chảy máu. Varices có nhiều khả năng chảy máu nếu có:

Cao áp tĩnh mạch cửa. Nguy cơ chảy máu tăng lên với số lượng áp lực trong tĩnh mạch cửa.

Varices lớn. Nhiều khả năng sẽ chảy máu.

Màu đỏ đánh dấu trên varices. Khi xem qua nội soi, một ống ánh sáng thông qua xuống cổ họng, một số varices hiện dài, vệt màu đỏ hoặc những đốm màu đỏ. Những dấu hiệu cho thấy một nguy cơ chảy máu.

Xơ gan nặng hoặc suy gan. Thông thường, các bệnh gan nghiêm trọng, các varices nhiều khả năng chảy máu.

Tiếp tục uống rượu. Nếu bệnh gan có liên quan đến rượu, nguy cơ chảy máu variceal lớn hơn nhiều nếu tiếp tục uống.

Các biến chứng

Các biến chứng nghiêm trọng nhất của varices thực quản là chảy máu. Một khi đã có chảy máu, nguy cơ khác là tăng lên rất nhiều. Trong một số trường hợp, chảy máu có thể gây ra sự mất khối lượng máu rất nhiều đi vào sốc. Điều này có thể dẫn đến tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu bị xơ gan hoặc một căn bệnh gan nghiêm trọng, bác sĩ có thể chẩn đoán varices thực quản. Bao lâu sẽ trải qua các xét nghiệm tầm soát phụ thuộc vào điều kiện. Các xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán varices thực quản bao gồm:

Sử dụng một phạm vi kiểm tra thực quản. Trong nội soi, bác sĩ đưa một ống mỏng, linh hoạt, sáng (nội soi) thông qua miệng và vào thực quả . Nếu bất kỳ tĩnh mạch giãn nở được tìm thấy, họ đang phân loại theo kích thước của chúng và kiểm tra cho các vệt đỏ, mà thường chỉ ra một nguy cơ chảy máu.

Kiểm tra hình ảnh. Cả hai chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể được sử dụng để chẩn đoán varices thực quản. Các xét nghiệm này cũng cho phép bác sĩ để kiểm tra gan và lưu thông trong tĩnh mạch cửa.

Phương pháp điều trị và thuốc

Mục tiêu chủ yếu trong điều trị varices thực quản là để ngăn chặn chảy máu. Chảy máu thực quản varices là đe dọa tính mạng. Nếu chảy máu xảy ra, phương pháp điều trị có sẵn để cố gắng cầm máu.

Phương pháp điều trị để ngăn ngừa chảy máu

Phương pháp điều trị để giảm áp lực máu trong tĩnh mạch cửa có thể làm giảm nguy cơ chảy máu thực quản varices. Phương pháp điều trị có thể bao gồm:

Các loại thuốc để làm chậm dòng chảy của máu trong tĩnh mạch cửa. Một loại thuốc huyết áp được gọi là một chặn beta có thể giúp giảm áp lực máu trong tĩnh mạch cửa, giảm bớt nguy cơ chảy máu. Những thuốc này bao gồm propranolol và nadolol.

Sử dụng một phạm vi để truy cập vào thực quản và điều trị varices. Nếu varices thực quản xuất hiện để có một nguy cơ rất cao bị chảy máu, bác sĩ có thể đề nghị một số phương pháp điều trị tương tự được sử dụng để cầm máu hoạt động. Phương pháp điều trị có thể liên quan đến cách sử dụng một đèn nội soi để xem bên trong thực quản  và tiêm một loại thuốc, buộc tắt tĩnh mạch với một dụng cụ đàn hồi.

Phương pháp điều trị để cầm máu

Varices chảy máu là đe dọa tính mạng và ngay lập tức điều trị là cần thiết. Phương pháp điều trị sử dụng để cầm máu bao gồm:

Sử dụng dải đàn hồi để buộc chảy máu tĩnh mạch. Trong thời gian thắt variceal, bác sĩ  sử dụng một đèn nội soi để bẫy các varices và quấn chúng với một dụng cụ đàn hồi, trong đó chủ yếu là làm nghẹt các tĩnh mạch vì vậy không thể chảy máu. Thắt Variceal mang một nguy cơ nhỏ bị biến chứng, như vết sẹo của thực quản.

Tiêm một vào tĩnh mạch chảy máu. Trong một thủ tục gọi là liệu pháp tiêm nội soi, các varices chảy máu được tiêm co chúng lại. Các biến chứng có thể bao gồm thủng thực quản và sẹo của thực quản có thể dẫn đến sự cố nuốt (chứng khó nuốt).

Các loại thuốc để làm chậm dòng chảy của máu vào tĩnh mạch cửa. Thuốc có thể làm chậm dòng chảy của máu từ các cơ quan nội tạng đến các tĩnh mạch cửa, giảm áp lực trong tĩnh mạch. Một loại thuốc octreotide gọi là (Sandostatin) thường sử dụng kết hợp với liệu pháp nội soi để điều trị chảy máu thực quản varices. Thuốc thường được tiếp tục trong năm ngày sau khi chảy máu.

Chuyển hướng lưu lượng máu đi từ tĩnh mạch cửa (TIPS). TIPS là một ống nhỏ được đặt giữa các tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan, có thể mang máu từ gan trở lại với trái tim. Bằng cách cung cấp một đường dẫn bổ sung cho máu, song song thường có thể kiểm soát chảy máu từ varices thực quản. Nhưng TIPS có thể gây ra một số biến chứng nghiêm trọng, bao gồm suy gan và rối loạn tâm thần, có thể phát triển khi các độc tố mà thông thường sẽ được lọc ở gan được chuyển qua shunt trực tiếp vào máu. TIPS chủ yếu được sử dụng khi tất cả các phương pháp điều trị khác đã thất bại hoặc như một biện pháp tạm thời trong người đang chờ được ghép gan.

Thay thế gan bệnh với một lành mạnh. Ghép gan là một lựa chọn cho những người bị bệnh gan nặng hoặc những người bị chảy máu tái phát của varices thực quản. Mặc dù cấy ghép gan thường thành công, số người đang chờ cấy ghép đến nay vượt quá các cơ quan có sẵn.

Phòng chống

Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh gan, có thể lo lắng về nguy cơ biến chứng nặng hơn. Hãy hỏi bác sĩ về các chiến lược để tránh biến chứng bệnh gan. Nó có thể giúp đỡ để thực hiện các bước để giữ gan càng khỏe mạnh càng tốt, chẳng hạn như:

Không uống rượu. Những người bị bệnh gan thường được khuyên để bỏ uống rượu, vì rượu được xử lý bởi gan. Uống rượu có thể căng thẳng gan đã bị tổn thương.

Ăn một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Chọn một chế độ ăn uống thực vật đầy đủ các loại trái cây và rau quả. Chọn toàn bộ ngũ cốc và các nguồn protein nạc. Giảm lượng thức ăn béo và chiên.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Một số lượng chất béo dư thừa của cơ thể có thể tổn thương gan. Giảm cân nếu bị béo phì hoặc thừa cân.

Cẩn thận khi dùng hóa chất. Theo các hướng dẫn về hóa chất gia dụng, chẳng hạn như nguồn cung cấp làm sạch và thuốc xịt côn trùng. Nếu làm việc xung quanh hóa chất, hãy làm theo tất cả các biện pháp phòng ngừa an toàn. Gan loại bỏ các độc tố khỏi cơ thể, để cho nó nghỉ ngơi bằng cách giới hạn số lượng độc tố thì phải xử lý.

Giảm nguy cơ viêm gan. Dùng chung kim tiêm và có quan hệ tình dục không an toàn có thể làm tăng nguy cơ viêm gan B và C. Bảo vệ bản thân bằng cách kiêng quan hệ tình dục hoặc sử dụng bao cao su nếu chọn có quan hệ tình dục. Hỏi bác sĩ xem có nên được chủng ngừa viêm gan B.

Theo Dieutri.vn

GERD

GERD

GERD! Cảm giác nóng trong nồng ngực, ợ nóng, đau ngực, khó nuốt, ho khan, nôn chua…Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bị đau ngực, đặc biệt là khi đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng như khó thở hoặc đau cánh tay hoặc hàm. Đây có thể là dấu hiệu và triệu chứng của một cơn đau tim.

Định nghĩa

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một bệnh tiêu hóa mãn tính , xảy ra khi acid dạ dày hay đôi khi dòng chảy mật trở lại (refluxes) vào ống dẫn thức ăn (thực quản). Các axít kích thích niêm mạc thực quản và gây ra các dấu hiệu và triệu chứng GERD.

Các dấu hiệu và triệu chứng của GERD bao gồm acid reflux và ợ nóng. Cả hai đều là điều kiện thông thường tiêu hóa mà hầu hết mọi người trải nghiệm. Khi các dấu hiệu và triệu chứng xảy ra nhiều hơn hai lần mỗi tuần hoặc can thiệp vào cuộc sống hàng ngày, gặp bác sỹ .

Hầu hết mọi người có thể quản lý những khó chịu của chứng ợ nóng với thay đổi lối sống và thuốc không kê đơn. Nhưng đối với những người có GERD, các biện pháp khắc phục có thể cung cấp chỉ giảm tạm thời. Những người bị GERD có thể cần thuốc mạnh hơn, thậm chí phẫu thuật, để làm giảm triệu chứng.

Các triệu chứng

GERD, dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

Một cảm giác nóng trong lồng ngực (ợ nóng), đôi khi lan sang cổ họng, cùng với một hương vị chua trong miệng.

Đau ngực.

Khó nuốt (chứng khó nuốt).

Ho khan.

Khan tiếng hay đau họng.

Thức ăn hoặc nôn sữa chua lỏng (acid reflux).

Cảm giác của một khối u trong cổ họng.

Đến gặp bác sĩ khi

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bị đau ngực, đặc biệt là khi đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng như khó thở hoặc đau cánh tay hoặc hàm. Đây có thể là dấu hiệu và triệu chứng của một cơn đau tim.

Lấy hẹn với bác sĩ nếu gặp các triệu chứng nặng hoặc thường xuyên của GERD. Nếu  chuyển sang thuốc toa cho chứng ợ nóng nhiều hơn hai lần mỗi tuần, hãy gặp bác sĩ.

Nguyên nhân

GERD là do trào ngược axit thường xuyên, sao lưu của acid dạ dày hoặc mật vào thực quản.

Khi nuốt, các cơ vòng thực quản dưới, thư giãn để cho phép thực phẩm và chất lỏng chảy xuống dạ dày. Sau đó, nó đóng lại.

Tuy nhiên, nếu van này thư giãn bất thường hoặc suy yếu, acid dạ dày có thể chảy ngược lại vào trong thực quản, gây ra chứng ợ nóng thường xuyên và phá vỡ cuộc sống hàng ngày. Điều liên tục ngược axit có thể gây kích ứng niêm mạc thực quản, làm cho nó bị viêm (viêm thực quản). Theo thời gian, các chứng viêm có thể làm xói mòn thực quản, gây ra các biến chứng như chảy máu hoặc hơi thở vấn đề.

Yếu tố nguy cơ

Điều kiện có thể làm tăng nguy cơ bị GERD bao gồm:

Bệnh béo phì .

Thoát vị Hiatal.

Mang thai.

Hút thuốc.

Khô miệng.

Hen suyễn.

Bệnh tiểu đường.

Chậm tiêu hóa của dạ dày.

Mô liên kết rối loạn, chẳng hạn như xơ cứng bì.

Hội chứng Zollinger – Ellison.

Các biến chứng

Theo thời gian, mãn tính viêm thực quản có thể dẫn đến biến chứng, bao gồm:

Thu hẹp thực quản (thực quản hẹp). Thiệt hại cho các tế bào ở thực quản thấp hơn do tiếp xúc với acid dẫn đến hình thành mô sẹo. Các mô sẹo thu hẹp con đường thực phẩm, gây ra khó nuốt.

Loét thực quản. Acid dạ dày có thể làm xói mòn các mô ở thực quản nghiêm trọng. Các vết loét có thể chảy máu thực quản, gây đau và làm cho nuốt khó khăn.

Tiền ung thư trong thực quản (thực quản Barrett). Trong thực quản Barrett, màu sắc và thành phần của tế bào lót nơi thấp trong thực quản thay đổi. Những thay đổi này có liên quan với tăng nguy cơ ung thư thực quản. Nguy cơ ung thư là thấp, nhưng bác sĩ sẽ khuyên nên thường xuyên nội soi để tìm những dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư thực quản.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu đang làm phiền bởi ợ nóng thường xuyên hoặc các dấu hiệu và triệu chứng, bác sĩ có thể chẩn đoán GERD với thông tin đó. Bác sĩ cũng có thể đề nghị xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán GERD, bao gồm:

X – quang hệ thống tiêu hóa  trên. Đôi khi được gọi là bari nuốt hoặc loạt GI, thủ tục này liên quan đến việc uống một chất lỏng phấn áo khoác và lấp đầy các hốc của đường tiêu hóa. Sau đó, X – quang chụp đường tiêu hóa trên. Loại sơn này cho phép bác sĩ nhìn thấy một hình bóng của hình dạng và điều kiện của thực quản, dạ dày và ruột non (tá tràng) trên.

Đi qua xuống cổ họng một ống dẻo. Nội soi là một cách để kiểm tra bên trong thực quản. Trong khi nội soi, bác sĩ đưa một ống mỏng, linh hoạt được trang bị với một ánh sáng và camera (nội soi) xuống cổ họng. Nội soi cho phép bác sĩ kiểm tra thực quản và dạ dày. Bác sĩ cũng có thể sử dụng nội soi để lấy mẫu mô (sinh thiết) để thử nghiệm thêm.

Một xét nghiệm để theo dõi số lượng axit trong thực quản. Ambulatory acid (pH) kiểm tra thăm dò, sử dụng một thiết bị đo acid để xác định khi nào và trong bao lâu, acid dạ dày thực quản trào ngược. Ống thông luồn qua mũi vào thực quản. Trong thời gian thử nghiệm, ống chỉ nằm tại chỗ và kết nối vào một máy tính nhỏ đeo quanh eo hoặc với một dây đeo qua vai. Hoặc màn hình acid có thể là một clip đặt trong thực quản trong khi nội soi. Đầu dò truyền tín hiệu đến một máy tính nhỏ đeo quanh eo trong khoảng hai ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu ngừng dùng thuốc GERD để chuẩn bị cho thử nghiệm này.

Xét nghiệm để đo chuyển động của thực quản. Các biện pháp thực quản trở kháng chuyển động và áp lực trong thực quản. Các thử nghiệm bao gồm việc đặt một ống thông qua mũi và thành thực quản .

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị ợ nóng và các dấu hiệu và triệu chứng của GERD thường bắt đầu với các thuốc kê toa, điều khiển acid. Nếu không tìm thấy cứu trợ trong vòng một vài tuần, bác sĩ có thể đề nghị phương pháp điều trị khác, bao gồm cả thuốc và phẫu thuật.

Phương pháp điều trị ban đầu để kiểm soát chứng ợ nóng

Phương pháp điều trị có thể giúp kiểm soát ợ nóng bao gồm:

Thuốc kháng acid là trung hòa acid dạ dày. Thuốc kháng acid, như Maalox, Mylanta, Gelusil, Rolaids và Tums, có thể cung cấp cứu trợ nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc kháng acid một mình sẽ không chữa lành thực quản bị viêm, bị hư hỏng bởi acid dạ dày. Lạm dụng của một số thuốc kháng acid có thể gây ra tác dụng phụ như tiêu chảy hoặc táo bón.

Các loại thuốc để giảm sản xuất acid. Được gọi là H-2-receptor blockers, các loại thuốc này bao gồm cimetidine (Tagamet HB), famotidine (Pepcid AC), nizatidine (Axid AR) hoặc ranitidine (Zantac 75). H-2 receptor blockers không hành động nhanh như thuốc kháng acid, nhưng họ cung cấp cứu trợ lâu hơn. Phiên bản mạnh hơn của các thuốc này có sẵn ở dạng thuốc kê toa.

Thuốc chữa bệnh giảm sản xuất acid. Ức chế bơm proton sản xuất acid và cho phép thời gian cho các mô bị hư hỏng thực quản để chữa bệnh. Ức chế bơm proton bao gồm lansoprazole (Prevacid 24 nhân sự) và omeprazole (Prilosec OTC).

Liên hệ với bác sĩ nếu các loại thuốc này dường như không được cải thiện sau một vài tuần.

Thuốc theo toa

Nếu ợ nóng vẫn tiếp diễn mặc dù cách tiếp cận ban đầu, bác sĩ có thể khuyên nên theo toa thuốc, chẳng hạn như:

Toa H-2-receptor blockers. Chúng bao gồm toa cimetidine (Tagamet), nizatidine famotidine (Pepcid), (Axid) và ranitidine (Zantac).

Toa chất ức chế bơm proton. Toa-ức chế bơm proton bao gồm esomeprazole (Nexium), lansoprazole (Prevacid), omeprazole (Prilosec Rx), pantoprazole (Protonix) và rabeprazole (Aciphex).

Các loại thuốc để tăng cường cơ vòng thực quản dưới. Được gọi là prokinetic, các loại thuốc này giúp dạ dày trống rỗng nhanh hơn và giúp thắt chặt các van giữa dạ dày và thực quản. Tác dụng phụ, chẳng hạn như mệt mỏi, trầm cảm, lo lắng và các vấn đề về thần kinh khác, hạn chế tính hữu dụng của những thuốc này.

Thuốc GERD đôi khi được kết hợp để tăng hiệu quả.

Phẫu thuật và các thủ tục khác sử dụng nếu thuốc không giúp

GERD có thể được điều khiển thông qua thuốc. Trong trường hợp thuốc không phải là hữu ích hoặc muốn tránh sử dụng thuốc lâu dài, bác sĩ có thể khuyên nên thủ tục xâm lấn hơn, chẳng hạn như:

Phẫu thuật để củng cố cơ vòng thực quản dưới. Được gọi là fundoplication Nissen, phẫu thuật này bao gồm việc thắt chặt các cơ vòng thực quản dưới để ngăn chặn trào ngược. Phẫu thuật có thể được mở, có nghĩa là các bác sĩ phẫu thuật làm cho một vết mổ dài ở bụng. Hoặc phẫu thuật có thể được nội soi, có nghĩa là các bác sĩ phẫu thuật làm cho ba hoặc bốn vết mổ nhỏ ở bụng và chèn nhạc cụ, bao gồm một ống linh hoạt với một máy ảnh nhỏ, qua các vết mổ.

Phẫu thuật để tạo ra một rào cản ngăn chặn việc sao lưu của acid dạ dày. Thủ tục này, được gọi là EndoCinch endoluminal gastroplication, sử dụng một công cụ giống như một máy may thu nhỏ. Nó đặt cặp mũi khâu trong dạ dày gần cơ thắt suy yếu. Các vật liệu khâu sau đó được gắn với nhau, tạo ra các rào cản để ngăn chặn axit trong dạ dày vào thực quản. Nó không rõ ai là thích hợp nhất để điều trị và nghiên cứu này đang diễn ra.

Thủ thuật để tạo thành mô sẹo trong thực quản. Cách tiếp cận này, được gọi là hệ thống Stretta, sử dụng điện năng lượng để làm nóng các mô thực quản. Nhiệt tạo mô sẹo và gây tổn thương dây thần kinh phản ứng với acid refluxed. Các mô sẹo hình thành như là chữa bệnh thực quản sẽ giúp tăng cường cơ bắp. Nó không rõ ai là thích hợp nhất để điều trị và nghiên cứu này đang diễn ra.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Thay đổi lối sống có thể giúp làm giảm tần số của chứng ợ nóng. Hãy xem xét cố gắng để:

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Dư thừa cân gây áp lực lên bụng, thúc đẩy dạ dày và gây ra acid sao lưu vào thực quản. Nếu trọng lượng được khỏe mạnh, làm việc để duy trì nó. Nếu đang thừa cân hoặc béo phì, làm việc để từ từ giảm cân – không quá 0,5 – 1 kg một tuần. Hỏi bác sĩ để được giúp đỡ đặt ra một chiến lược giảm cân.

Tránh quần áo chặt. Quần áo với chặt quanh eo gây áp lực lên bụng và các cơ vòng thực quản dưới.

Tránh các loại thực phẩm gây ra chứng ợ nóng. Mọi người đều có cụ thể gây nên. Thường gây nên chẳng hạn như béo hay các thực phẩm rán, rượu, chocolate, bạc hà, hành tây, tỏi và cà phê có thể làm cho chứng ợ nóng tệ hơn.

Không nằm xuống sau bữa ăn. Chờ ít nhất 2 – 3 giờ sau khi ăn trước khi nằm xuống hay đi ngủ.

Nâng cao đầu giường. Độ cao trong khoảng sáu đến chín inch. Đặt khối gỗ hay xi măng dưới chân giường ở cuối đầu. Nếu không thể để nâng cao giường, có thể chèn một cái nêm giữa nệm lò xo để nâng cao cơ thể từ thắt lưng trở lên. Nêm có sẵn tại nhà thuốc và cửa hàng cung cấp y tế.

Không hút thuốc. Hút thuốc làm giảm khả năng của cơ vòng thực quản dưới hoạt động đúng.

Thay thế thuốc

Không có thuốc thay thế được chứng minh để điều trị GERD hoặc để đảo ngược thiệt hại cho thực quản. Tuy nhiên, một số liệu pháp bổ sung và thay thế có thể cung cấp một số cứu trợ, khi kết hợp với chăm sóc của bác sĩ.

Nói chuyện với bác sĩ về những gì thay thế phương pháp điều trị GERD có thể được an toàn. Tùy chọn có thể bao gồm:

Thảo dược biện pháp khắc phục. Đôi khi được sử dụng thảo dược biện pháp khắc phục các triệu chứng GERD bao gồm cam thảo cây du, trơn trượt, hoa cúc và marshmallow. Thảo dược biện pháp khắc phục có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng và có thể can thiệp bằng thuốc. Hãy hỏi bác sĩ về một liều lượng an toàn trước khi bắt đầu bất kỳ thảo dược.

Liệu pháp thư giãn. Kỹ thuật làm dịu căng thẳng và lo lắng có thể làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của GERD. Hãy hỏi bác sĩ về kỹ thuật thư giãn.

Châm cứu. Châm cứu bao gồm việc chèn kim mỏng vào điểm cụ thể trên cơ thể. Một nghiên cứu nhỏ báo cáo rằng châm cứu giúp những người bị ợ nóng mà vẫn tồn tại mặc dù thuốc. Hãy hỏi bác sĩ xem châm cứu là an toàn.

Theo Dieutri.vn

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Viêm đại tràng màng giả

Viêm đại tràng màng giả

Viêm đại tràng màng giả có thể trải nghiệm đau đớn, các triệu chứng báo động và thậm chí có thể trở thành đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, điều trị cho hầu hết các trường hợp viêm đại tràng màng giả là thành công

Định nghĩa

Viêm đại tràng giả là viêm đại tràng xảy ra ở một số người đã nhận được thuốc kháng sinh. Viêm đại tràng giả đôi khi được gọi là viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh hoặc viêm đại tràng C. difficile.

Các viêm trong viêm đại tràng màng giả là hầu như luôn luôn kết hợp với phát triển quá mức của vi khuẩn Clostridium difficile (C. difficile), mặc dù trong trường hợp hiếm hoi, các sinh vật khác có thể tham gia.

Viêm đại tràng màng giả có thể trải nghiệm đau đớn, các triệu chứng báo động và thậm chí có thể trở thành đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, điều trị cho hầu hết các trường hợp viêm đại tràng màng giả là thành công.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm đại tràng màng giả bao gồm:

Tiêu chảy có thể chảy nước và đôi khi có máu.

Chuột rút và đau bụng.

Sốt.

Mủ hoặc chất nhầy trong phân.

Buồn nôn.

Mất nước.

Các triệu chứng của viêm đại tràng màng giả có thể bắt đầu trong vòng 1 – 2 ngày sau khi bắt đầu nhận được một loại kháng sinh, hoặc có thể không xảy ra cho đến vài tuần sau khi ngưng kháng sinh.

Đến gặp bác sĩ khi

Liên hệ với bác sĩ nếu đang dùng hay gần đây đã đưa thuốc kháng sinh và phát triển bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan với viêm đại tràng màng giả, bao gồm cả tiêu chảy liên tục, đau bụng, và máu hoặc mủ trong phân.

Nguyên nhân

Viêm đại tràng giả xảy ra khi vi khuẩn có hại trong ruột già – thông thường nhất C. difficile phát hành độc tố mạnh. Những độc tố gây kích ứng ruột, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của viêm đại tràng màng giả. Vi khuẩn có hại thường được giữ cân bằng bởi các vi khuẩn lành mạnh trong hệ thống tiêu hóa, nhưng sự cân bằng giữa các vi khuẩn lành mạnh và có hại có thể bị khó chịu bởi thuốc kháng sinh và thuốc khác.

Kháng sinh phổ biến nhất gây ra

Hầu như bất kỳ loại kháng sinh có thể gây viêm đại tràng màng giả. Thuốc kháng sinh phổ biến nhất là liên quan với viêm đại tràng màng giả bao gồm:

Quinolone, chẳng hạn như ciprofloxacin (Cipro), và levofloxacin (Levaquin).

Penicillin, như amoxicillin và ampicillin.

Clindamycin (Cleocin).

Cephalosporin, như cefixime (SUPRAX) và cefpodoxime (VANTIN).

Các nguyên nhân

Mặc dù kháng sinh các loại thường được kết hợp với sự phát triển của viêm đại tràng màng giả, thuốc khác cũng có thể phải chịu trách nhiệm. Ngoài ra, ở những người bị bệnh ung thư, hóa trị đôi khi có thể phá hoại các vi khuẩn trong ruột và kích hoạt sự phát triển của viêm đại tràng màng giả. Viêm đại tràng giả cũng có thể phát triển ở những người bị bệnh có ảnh hưởng đến đại tràng, viêm loét đại tràng như bệnh Crohn.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ viêm đại tràng màng giả bao gồm:

Uống thuốc kháng sinh.

Ở trong bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão.

Lớn tuổi, đặc biệt là trên 65 năm.

Có hệ thống miễn dịch suy yếu.

Có một căn bệnh đại tràng, chẳng hạn như bệnh viêm ruột và ung thư đại trực tràng.

Trải qua phẫu thuật đường ruột.

Nhận hóa trị liệu điều trị ung thư.

Các biến chứng

Bởi thời gian bác sĩ phát hiện viêm đại tràng màng giả đã có thể bị bệnh nặng. Nếu điều kiện không phải là điều trị thành công tại thời điểm chẩn đoán, một số biến chứng có thể phát triển, bao gồm:

Mức thấp bất thường của kali trong máu (hạ kali máu), do sự mất kali trong quá trình tiêu chảy quá nhiều.

Mất nước dẫn đến huyết áp thấp bất thường (hạ huyết áp), liên quan đến thiệt hại đáng kể của chất lỏng và chất điện giải do tiêu chảy.

Suy thận, do mất nước nặng do tiêu chảy.

Một lỗ trong ruột (thủng ruột kết), có thể dẫn đến nhiễm trùng ổ bụng.

Megacolon, nhưng nghiêm trọng hiếm căng phồng của ruột kết, nó không có khả năng trục xuất khí và phân, mà có thể gây ra ruột già bị vỡ

Hầu hết mọi người đáp ứng tốt với điều trị, nhưng viêm đại tràng màng giả có thể gây tử vong nếu không điều trị hiệu quả.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Các xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán viêm đại tràng màng giả bao gồm:

Mẫu phân. Một đánh giá phòng thí nghiệm được tiến hành trên một hoặc nhiều mẫu phân có thể xác định liệu C. difficile hiện diện trong ruột già.

Xét nghiệm máu. Bác sĩ có thể khuyên nên xét nghiệm máu. Ví dụ, một số tế bào máu có thể tiết lộ một số bất thường tế bào máu trắng (tăng bạch cầu), có thể chỉ ra viêm đại tràng màng giả.

Kiểm tra đại tràng. Trong nội soi hoặc sigmoidoscopy, bác sĩ dùng một ống với một máy ảnh thu nhỏ ở đầu. Ống này được nâng cao thông qua trực tràng và vào ruột già, cho phép bác sĩ để kiểm tra bên trong dấu hiệu ruột già của viêm đại tràng màng giả. Nếu có viêm đại tràng màng giả, có thể hiển thị lớn lên những mảng màu vàng hoặc tổn thương trong ruột già, cũng như sưng.

Hình ảnh kiểm tra. Bác sĩ có thể có được X-quang bụng hoặc bụng CT scan nếu có các triệu chứng nghiêm trọng để tìm biến chứng như megacolon độc hại hoặc vỡ đại tràng.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị viêm đại tràng màng giả thường bao gồm việc ngừng thuốc kháng sinh hiện tại và bắt đầu một kháng sinh hiệu quả đối với C. difficile. Trong trường hợp hiếm hoi, phẫu thuật có thể là cần thiết.

Ngừng các thuốc kháng sinh hiện nay

Điều trị viêm đại tràng màng giả thường bắt đầu với ngưng thuốc kháng sinh được cho là gây ra các dấu hiệu và triệu chứng. Đôi khi, điều này có thể là đủ để giải quyết tình trạng hoặc ít nhất là dấu hiệu, chẳng hạn như tiêu chảy.

Chuyển sang một loại kháng sinh khác nhau

Nếu vẫn còn trải nghiệm các dấu hiệu và triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị một kháng sinh có hiệu quả chống lại vi khuẩn C. difficile hoặc khác được hiện diện trong ruột già. Mặc dù nó có vẻ xa lạ đối với sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị một chứng rối loạn gây ra bởi thuốc kháng sinh, điều trị bằng thuốc kháng sinh khác nhau để tiêu diệt C. difficile cho phép các vi khuẩn bình thường phát triển trở lại, phục hồi sự cân bằng của vi khuẩn trong ruột già.

Các kháng sinh dùng để điều trị viêm đại tràng màng giả thường uống. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng viêm và thuốc men, có thể được điều trị bằng các loại thuốc tiêm tĩnh mạch hoặc thông qua một ống đưa vào qua mũi và luồng vào dạ dày (ống mũi dạ dày).

Khi bắt đầu điều trị viêm đại tràng màng giả, dấu hiệu và triệu chứng có thể bắt đầu cải thiện trong vòng vài ngày.

Điều trị các dấu hiệu và triệu chứng tái phát

Ngay cả ở những người được điều trị thành công, viêm đại tràng màng giả có thể trở lại trong vài tuần đến vài tháng sau khi điều trị đã được hoàn thành. Trong những trường hợp này, lựa chọn điều trị có thể bao gồm:

Thuốc kháng sinh. Có thể cần một hoặc ba vòng hai kháng sinh để giải quyết tình trạng.

Phẫu thuật. Nếu kháng sinh không làm việc, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật, mặc dù điều trị này hiếm khi cần thiết cho những người bị viêm đại tràng màng giả. Phẫu thuật có thể là một lựa chọn ở những người có suy cơ quan tiến triển, vỡ đại tràng và viêm niêm mạc của thành bụng (viêm phúc mạc). Phẫu thuật thường bao gồm việc loại bỏ một phần ruột kết (một phần colectomy).

Phòng ngừa tái phát viêm đại tràng màng giả

Nếu đã có trải nghiệm nhiều đợt viêm đại tràng màng giả, hoặc nếu có nguy cơ tái phát, có thể lựa chọn để thử điều trị probiotic. Probiotics được tập trung bổ sung các vi khuẩn có lợi và nấm men có sẵn ở dạng viên nang hoặc chất lỏng. Có những bổ sung bằng miệng. Người ta cho rằng điều này cho phép bổ sung các vi khuẩn đến ruột già, nơi giúp chống lại các vi khuẩn có hại. Một số bằng chứng cho thấy nấm men Saccharomyces boulardii có thể làm giảm nguy cơ tái phát bệnh tiêu chảy liên quan đến nhiễm C. difficile.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để đối phó với bệnh tiêu chảy và mất nước sau đó, có thể xảy ra với viêm đại tràng màng giả, cố gắng:

Uống nhiều nước. Nước là tốt nhất, nhưng chất lỏng với natri và kali tăng (điện giải) có thể có lợi. Hãy thử dùng nước uống hoặc nước trái cây. Tránh các đồ uống có nhiều chất đường hoặc chứa cồn hoặc caffeine, chẳng hạn như trà, cà phê, cola, có thể làm nặng thêm các triệu chứng.

Chọn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. Chúng bao gồm táo, chuối và gạo. Tránh các loại thực phẩm giàu chất xơ như đậu, các loại hạt và rau quả. Nếu cảm thấy giống như triệu chứng được cải thiện, từ từ thêm chất xơ thực phẩm trở lại chế độ ăn uống.

Cố gắng ăn nhiều bữa ăn nhỏ thay vì một bữa ăn vài lớn. Nhiều bữa ăn trong ngày thay vì ăn hai hoặc ba người lớn.

Tránh các loại thực phẩm gây dị ứng. Tránh xa các chất béo, nhiều gia vị, thực phẩm chiên và bất kỳ loại thực phẩm khác mà làm cho các triệu chứng nặng hơn.

Theo Dieutri.vn