Hiển thị các bài đăng có nhãn thầy thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thầy thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, hiện nay, khoảng 30-40% dân số nhiều nước trên thế giới bị mắc các bệnh dị ứng, và tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển.

Cùng với sự gia tăng này, một vấn đề đang hết sức được quan tâm đó là sự tác động của yếu tố môi trường đối với những bệnh dị ứng, đặc biệt là tác động của bia rượu, do việc sử dụng những thức uống này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh rất nhiều tác hại đối với sức khỏe con người đã được khẳng định như gây các bệnh lý về tim mạch , tâm thần kinh, tiêu hóa , bia rượu còn có thể có nhiều tác động tiêu cực đối với các bệnh dị ứng. Theo những kết quả nghiên cứu gần đây, các loại bia rượu có thể liên quan đến những phản ứng dị ứng tức thì sau khi uống và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng ở những người sử dụng kéo dài các thức uống này.

Trong thực tế, các phản ứng dị dứng tức thì liên quan đến bia rượu xảy ra tương đối phổ biến, với biểu hiện lâm sàng và cơ chế gây bệnh khá đa dạng và phức tạp. Hầu hết các trường hợp này không phải là những phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trên lâm sàng, các biểu hiện dị ứng sau uống bia, rượu thường gặp nhất là hội chứng nóng bừng (bao gồm cảm giác bốc hỏa, tụt huyết áp , tăng thân nhiệt, nhịp tim nhanh, chóng mặt, đau đầu, buồn ngủ, lo lắng, mệt mỏi và buồn nôn), mày đay, phù Quincke và sốc phản vệ. Ngoài ra, bia rượu còn có thể là yếu tố làm khởi phát hoặc làm nặng triệu chứng của một số bệnh dị ứng đã có từ trước như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, sốc phản vệ do vận động, mày đay, sẩn ngứa… ở những cá thể nhạy cảm. Các phản ứng dị ứng liên quan với bia, rượu thường gặp ở người châu Á, Trung và Nam Mỹ hơn so với các chủng tộc người khác, có thể do sự khác biệt trong quá trình chuyển hóa cồn giữa các chủng tộc.

Những nghiên cứu trên cả người và động vật trong khoảng 3 thập kỷ gần đây cho thấy, cồn và acetaldehyd (là sản phẩm chuyển hóa của cồn trong cơ thể) đều có thể trực tiếp phá vỡ các tế bào mast, gây giải phóng histamin và nhiều hoạt chất trung gian gây dị ứng. Ngoài ra, các chất này còn có thể ức chế quá trình chuyển hóa và đào thải histamin được hấp thu từ thức ăn, do đó, làm tăng nồng độ của hoạt chất này ở các tổ chức. Tăng nồng độ histamin chính là yếu tố quan trọng góp phần gây ra hội chứng nóng bừng, làm bùng phát triệu chứng của hen phế quản và nhiều bệnh dị ứng khác sau uống bia, rượu. Các nghiên cứu còn cho thấy, khí dung chất acetaldehyd có thể gây co thắt phế quản rất mạnh và gây ra cơn hen cấp.

Bên cạnh cơ chế kể trên, trong một số ít trường hợp, các biểu hiện dị ứng với bia, rượu còn có thể gây ra do phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trong những trường hợp này, các biểu hiện lâm sàng thường gặp là mày đay, phù Quincke hoặc sốc phản vệ. Cồn (etanol) và các sản phẩm chuyển hóa của nó đều có trọng lượng phân tử thấp và bản thân chúng không có khả năng gây dị ứng, nhưng khi chúng được gắn với protein trong cơ thể sẽ tạo ra các dị nguyên hoàn chỉnh có khả năng gây dị ứng. Trong một số nghiên cứu, người ta đã tìm thấy các kháng thể dị ứng kháng lại phức hợp với acetaldehyd – protein trong máu của những người bị dị ứng với rượu.

Ngoài cồn là yếu tố chủ yếu gây ra các vấn đề về dị ứng, các chất phụ gia, bảo quản và tạp chất như histamin, gốc sulphite hoặc phẩm nhuộm cũng có thể là nguyên nhân gây ra các phản ứng này trong một số trường hợp. Theo một số nghiên cứu, những người có cơ địa dị ứng với lúa mạch và men cũng sẽ có nguy cơ bị dị ứng với bia.

Bên cạnh những phản ứng dị ứng tức thì, đang có ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy việc dùng bia, rượu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng với nhiều loại dị nguyên khác nhau. Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng ở những người nghiện rượu cao hơn rõ rệt so với những người không nghiện. IgE là một loại kháng thể dị ứng quan trọng, có vai trò trung tâm trong hầu hết các phản ứng dị ứng loại hình nhanh ở người. Theo một số nghiên cứu gần đây, những người nghiện rượu hoặc thường xuyên uống rượu với số lượng trung bình có nồng độ kháng thể IgE trong máu cao hơn so với những người không uống rượu, sau khi cai rượu, nồng độ IgE của những người này lại giảm về bình thường. Không những vậy, ở những bà mẹ có nghiện rượu trong thời gian mang thai, những đứa con của họ cũng có nồng độ kháng thể IgE tăng cao. Việc tăng nồng độ IgE trong máu không phải là một bệnh và không gây ra các triệu chứng lâm sàng nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng trong một số trường hợp. Bên cạnh việc làm tăng nồng độ IgE trong máu, dùng bia rượu thường xuyên còn có thể làm cho cơ thể trở nên nhạy cảm với một số yếu tố trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, thực phẩm… và dễ bị dị ứng với những yếu tố này. Mức nhạy cảm này tăng tỷ lệ thuận với lượng rượu uống hằng ngày, và sau khi cai rượu, mức nhạy cảm có thể trở về bình thường. Cơ chế chính xác của những hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ, nhưng các nhà khoa học cho rằng đó là do sự tương tác giữa cồn ở trong bia, rượu và hệ thống miễn dịch, gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Bản thân cồn là một chất có tác dụng điều hòa miễn dịch, các nghiên cứu tiêm cồn cho động vật thí nghiệm cũng có thể gây ra các đáp ứng về dị ứng tương tự như ở những người nghiện rượu.

Sưu tầm!

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Những ngày qua, tại các phòng khám da liễu của các bệnh viện, bệnh nhân đến khám do sẩn ngứa ngoài da tăng đột biến. Để có cái nhìn toàn diện về căn bệnh ngứa da, chúng tôi xin đăng bài viết của PGS.TS. Bùi Khắc Hậu để bạn đọc tham khảo.

Ngứa da là một triệu chứng thường gặp với nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Khi ngứa, người bệnh sẽ gãi làm xây xước da, chảy máu gây nhiễm trùng mưng mủ hoặc ngứa, gãi tạo thành các nốt sẩn, mụn nước, khi khỏi ngứa thường để lại các nốt thâm, thậm chí để lại các nốt sẹo nhỏ. Nguyên nhân gây nên ngứa có thể ở ngay ngoài da hoặc có thể ở bên trong nội tạng của cơ thể.

Nguyên nhân ở ngoài da:

Bệnh viêm da dị ứng: Trong các bệnh viêm da dị ứng có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có viêm da do tiếp xúc thường hay gặp. Viêm da tiếp xúc là do dị ứng nguyên khi gặp kháng thể gây nên hiện tượng phản ứng biểu hiện là viêm da và gây ngứa, ví dụ viêm da dị ứng ở một số người do đeo quai đồng hồ bằng da hoặc bằng nhựa hoặc viêm quanh thắt lưng quần do giây chun bằng cao su. Cũng có một số người dị ứng với da hoặc cao su nên không đi dép da hoặc dép nhựa được vì hễ mỗi lần đi dép vào là ngứa da vùng tiếp xúc trực tiếp tạo nên phản ứng gây ngứa.

Bệnh mề đay: Mề đay là một bệnh dị ứng da do tiếp xúc với thời tiết lạnh hoặc do ăn, uống với chất hay gây dị ứng ở một số người như tôm, cua, ốc, mắm tôm… Đây là những chất đóng vai trò là dị ứng nguyên khi gặp kháng thể có sẵn trong máu bệnh nhân sẽ gây nên hiện tượng dị ứng. Bệnh mề đay thường xảy ra ngứa đột ngột, dữ dội tại một vùng da nào đó hoặc có khi gần khắp da cơ thể như cánh tay, bụng, đùi, cẳng chân. Đôi khi bệnh mề đay còn xảy ra ở niêm mạc làm sưng mắt, môi, thậm chí gây viêm niêm mạc ruột gây đau bụng, tiêu chảy, viêm, phù thanh quản. Người ta gọi là nổi mề đay vì nổi lên các nốt sẩn, ngứa. Trong bệnh mề đay điển hình nhất là ngứa, người bệnh càng gãi càng ngứa. Các sẩn ngứa to, nhỏ khác nhau đôi khi tạo thành từng mảng. Viền của sẩn ngứa mề đay có màu hồng, trung tâm của sẩn ngứa có màu nhạt hơn.

Bệnh nấm da : Viêm da do nấm là bệnh nói chung, nhưng do nhiều loài nấm khác nhau gây nên (nấm thân, nấm kẽ, nấm móng, nấm tóc…). Mỗi một loài nấm gây bệnh cho da được gọi các tên khác nhau. Bệnh nấm da cũng gây nên ngứa làm cho bệnh nhân rất khó chịu, ví dụ bệnh hắc lào. Bệnh hắc lào là do nấm thân gây nên. Đầu tiên là ngứa vùng bị bệnh, sau đó thấy một vệt màu hơi đỏ, có viền, bờ rõ rệt, trên viền có các mụn nước lấm tấm. Viền này càng ngày càng lan rộng tạo thành nhiều hình vòng cung. Do người bệnh bị ngứa, gãi làm lây lan ra nhiều vùng da khác trên cơ thể. Bệnh hắc lào là bệnh lây từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn tắm, ngủ chung giường, chiếu… Muốn phòng bệnh hắc lào cần vệ sinh cá nhân tốt. Không dùng chung quần áo, chiếu, khăn và không nằm chung giường với người bị bệnh hắc lào. Khi nghi bị bệnh hắc lào nên đi khám để được xác định và điều trị dứt điểm tránh lây lan cho người khác.

Bệnh lang ben : là một bệnh do nấm gây ra và cũng gây ngứa ghê gớm. Bệnh gây ngứa đặc biệt là khi người bệnh ra nhiều mồ hôi nhất là khi trời nắng. Bệnh lang ben hay gặp ở cổ, vai, ngực, bụng, cánh tay. Bệnh lang ben cũng lây lan từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn mặt, ngủ chung giường… Khi bị lang ben rất nên đi khám bệnh để được làm các xét nghiệm xác định nấm và trên cơ sở đó người thầy thuốc sẽ cho thuốc điều trị thích hợp và tư vấn sát với thực tế hơn.

Gầu da đầu : Ở người nhiều gầu thường kèm theo ngứa da đầu. Gầu là hiện tượng viêm da làm bong lớp sừng ở da vùng đầu. Hiện nay có nhiều loại dầu gội đầu khác nhau và tùy thuộc vào da đầu của từng người. Vì vậy khi bị gầu nên chọn loại dầu gội thích hợp với da đầu của mình mới hy vọng làm giảm hoặc hết gầu.

Nguyên nhân từ trong nội tạng của cơ thể.

Dị ứng thuốc: ngày nay hiện tượng dị ứng thuốc là điều làm cho thầy thuốc hết sức quan tâm. Loại thuốc nào cũng có thể gây nên dị ứng tùy từng cơ địa của từng người (để cả thuốc Tây y và đông y ). Khi dị ứng thuốc, ngoài các triệu chứng khác thì ngứa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao.

Bệnh giun sán: Khi mắc bệnh giun, sán thì ngoài rối loạn tiêu hóa có thể có triệu chứng ngứa và nổi mẩn ngoài da. Những trường hợp này người ta ít nghĩ tới chỉ khi đi khám bệnh, xét nghiệm phân mới tìm ra được nguyên nhân và thầy thuốc mới có chỉ định dùng thuốc tẩy giun đúng loại. Song song với việc tẩy giun cần ăn uống hợp vệ sinh, không ăn rau sống và uống nước lã để đề phòng mắc bệnh giun tái phát.

Mắc bệnh tiểu đường (đường máu tăng cao): thường có sụt cân, ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều kèm theo có thể có ngứa da. Do ngứa nên gãi nhiều làm xây xước da gây nhiễm khuẩn. Mắc bệnh tiểu đường cần ăn kiêng một số thực phẩm như đường, các loại nước giải khát có đường, bia, rượu, chuối chín. Nên tập thể dục đều đặn. Cần vệ sinh da thật tốt để tránh nhiễm khuẩn.

Bệnh về gan, mật: Các bệnh về gan mật làm tắc mật làm vàng da và gây ngứa. Khi ngứa mà tìm các loại nguyên nhân chưa xác định được thì cần kiểm tra chức năng và kiểm tra gan, mật để xem có viêm nhiễm, sỏi, u hay không. Viêm gan thì có nhiều nguyên nhân nhưng hay gặp nhất là viêm gan do virut và viêm gan do rượu. Muốn phòng tránh viêm gan do virut (virut viêm gan A,B,C) cần được tiêm phòng. Cần bỏ rượu, đặc biệt khi đã có hiện tượng viêm gan bất kỳ do nguyên nhân gì.

Như vậy, muốn hết bệnh ngứa cần tìm nguyên nhân, khi đã biết chắc chắn nguyên nhân của nó thì việc điều trị sẽ có nhiều thuận lợi cho dù là nguyên nhân bên trong cơ thể hay nguyên nhân ngoài da.

Theo suckhoedoisong.vn

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Những ngày qua, khí hậu các tỉnh phía Bắc trở rét, hanh khô kéo dài khiến nhiều người có biểu hiện da khô ráp, nổi sẩn và ngứa.

Bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Da liễu Quốc gia cho hay, một ngày khoa tiếp nhận trên 15 bệnh nhân đến khám liên quan đến bệnh mày đay – một bệnh thường xảy ra vào những ngày mùa đông hanh khô.

Trên thực tế số người mắc các bệnh về da vào mùa đông rất cao nhưng không phải ai cũng đến viện khám. Đây là bệnh do thời tiết nên có thể tự điều trị tại nhà.

Ngứa khắp người, gãi xước da

”Mỗi lần tắm xong, mặc quần áo vào, nhất là đồ len dạ, cảm giác người nóng ran và ngứa khắp người, những lúc đó chỉ còn cách dùng kem dưỡng ẩm bôi lên mới hy vọng dứt cơn ngứa…”, chị Mai Dung, ở Hoàng Mai, Hà Nội đang ”say sưa” kể về nỗi khổ của mình với đồng nghiệp.

Hoá ra nỗi khổ đó không chỉ riêng của chị Dung mà nhiều người cũng bị trong những ngày qua. Người thì ngứa ở lưng, ở tay, ở chân… thậm chí cả mông.

Còn bàn tay của chị Hương, chủ cửa hàng làm đầu Thu Hương trên phố Cầu Giấy, Hà Nội mấy hôm nay đỏ tấy, khô ráp và ngứa. Công việc hàng ngày đòi hỏi chị phải tiếp xúc nhiều với hoá chất như dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc, hấp tóc… khiến đôi bàn tay bị ”xâm hại”. ”Sử dụng găng tay thì không thật và làm rất chậm nhưng bỏ ra thì bàn tay nứt nẻ hết. Ban ngày động nước nhiều còn đỡ nhưng tối đến nó khô hết lại cảm giác rát bỏng và ngứa hành hạ rất khó chịu. Kem dưỡng ẩm bôi không đỡ vì thời tiết này khô hanh quá lại tiếp xúc với hoá chất quá nhiều”, chị Hương nói.

Tất cả đều có chung biểu hiện lúc đầu là khô da rồi dần dần căng ra gây ngứa. Nếu cố chịu đựng không gãi, sử dụng kem dưỡng ẩm sẽ đỡ. Nhưng khi đã gãi thì vết mẩn đỏ càng lan và gây khó chịu. Tuy nhiên, khi thời tiết ấm, đỡ hanh khô thì tình trạng trên sẽ tự hết.

BS. Nguyễn Thành cho hay, đây là bệnh rất nhiều người mắc phải vào mùa đông, nhất là thời điểm hanh khô. Những bệnh nhân có cơ địa da khô càng dễ phát. Phản ứng của người bệnh khi bị khô da là ngứa, gãi gây xước da.

Cách chữa đơn giản và hiệu quả nhất mà mọi người thường áp dụng là hạn chế sử dụng nước quá nóng, tiếp xúc với hoá chất, đặc biệt nên sử dụng kem dưỡng ẩm.

Khô ráp da còn do bệnh mày đay

Theo BS. Nguyễn Thành, một trong những nguyên nhân bệnh mày đay gia tăng những ngày qua do biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn.

Người bệnh thường có biểu hiện da đỏ, xuất hiện phù nề nhanh nhưng cũng mất nhanh phụ thuộc vào khả năng điều trị.

Bệnh mày đay có 2 thể: cấp tính và mạn tính.

Mày đay cấp tính xảy ra đột ngột và xuất hiện ở bất kỳ vùng da, niêm mạc nào trên cơ thể, biểu hiện các nốt sẩn, phù nề màu hồng hoặc đỏ. Ngứa là triệu chứng điển hình nhất của mày đay. Ngứa rất dữ dội, càng gãi càng ngứa. Có khi gãi chảy máu vẫn không đỡ ngứa. Nốt sẩn ngứa kéo dài vài ba phút đến vài ba giờ rồi lặn. Bệnh có thể biểu hiện ở đường tiêu hóa gây đau quặn bụng, nôn, tiêu chảy, thậm chí xảy ra ở tổ chức não gây phù nề rất nguy hiểm.

Mày đay mạn tính xảy ra khi bệnh xuất hiện kế tiếp nhau nhiều lần hoặc cách quãng, không kể số lượng nốt sẩn nhiều hay ít. Mày đay mạn tính gặp ở nhiều dạng khác nhau như: mày đay thành vòng, thành vạch, mày đay xuất huyết, mày đay mụn nước.

Trong tuần này, khoa khám bệnh đã điều trị cho một bệnh nhân N.T.P. 35 tuổi, ở Hà Nội mắc mày đay mạn tính. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau bụng, nôn. Các cơn đau không liên tục mà theo từng đợt. Sau khi khám và cho thuốc uống thể trạng bệnh nhân đã khá hơn và được xuất viện ngay trong ngày.

BS. Nguyễn Thành cho hay, trường hợp như bệnh nhân này không phải ai cũng gặp. Tuy nhiên, khi bị bệnh mày đay, nên đến khám bác sĩ để được xác định nguyên nhân và có chỉ định thích hợp cho từng loại mày đay.

Những ngày này, khi độ ẩm xuống thấp, thời tiết hanh khô gây khó chịu cho làn da.

BS. Nguyễn Thành có lời khuyên với mọi người, nếu phải ra đường nên dùng khẩu trang, mũ và sử dụng kem dưỡng da trước khi ra đường 1 tiếng đồng hồ. Khi thấy da khô vùng nào có thể dùng kem bôi lên chỗ đó. Nếu người nào có da nhạy cảm không nên tiếp xúc nhiều với hoá chất, nếu buộc phải dùng nên đi găng tay. Với những trường hợp nặng, nên đến khám bác sĩ khi có biểu hiện ngứa.

Theo vietnamnet.vn

Mề đay

Mề đay

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. Mề đay có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. Mề đay có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

Vị trí thường nổi Mề đay là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là Mề đay nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại Mề đay này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.

Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona, theo từ chuyên môn là Herpes zoster, là mẫn đỏ da gây ra do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu. Vi-rút gây bệnh này có tên là Varicella zoster. Sau khi bị bệnh thuỷ đậu, vi-rút sống trong dây thần kinh, nguyên nhân tại sao vẫn chưa có lời giải đáp.

Trong một số hoàn cảnh nào đó như xúc động, stress, suy giảm miễn dịch ( AIDS , hoá trị liệu ) hay ung thư, vi rút sẽ hoạt động trở lại gây bệnh zona. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, nguyên nhân hoạt động trở lại của virút vẫn chưa có căn cứ. Vi rút này gây ra bệnh thuỷ đậu và bệnh zona, không giống với virút gây mụn nước ở cơ quan sinh dục và ở miệng.

Bệnh zona khởi phát và tiến triển như thế nào?

Trước khi thấy được những mẫn đỏ, bệnh nhân có thể có cảm giác đau rát và nhạy cảm vùng da trước đó vài ngày đến 1 tuần. Bệnh zona khởi đầu là những mụn rộp (mụn nước) trên nền da màu đỏ, những mụn nước mới tiếp tục hình thành từ 3-5 ngày. Mụn nước này thường đi theo đường dây thần kinh của tuỷ sống.

Toàn bộ dây thần kinh liên quan có thể bị, hay những vùng khác không có liên quan đến phân bố dây thần kinh cũng có thể bị. Thường thì bệnh zona chỉ ăn theo một dây thần kinh, hiếm khi bị nhiều hơn một dây thần kinh.

Cuối cùng thì các mụn nước này vỡ ra và bắt đầu chảy nước, bề mặt bên trên khô đi và hoá sẹo. Quá trình này có thể kéo dài 3-4 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh đến khi khỏi. Thỉnh thoảng, đau vẫn còn mặc dù không bao giờ nhìn thấy mụn nước, làm dễ lầm lẫn với nguyên nhân đau tại chỗ.

Bệnh zona có lây không ?

Vâng. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác.

Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa.

Điều trị zona như thế nào ? Tôi sẽ chăm sóc sức khoẻ của mình như thế nào ?

Có một số cách điều trị zona. Thuốc kháng vi-rút như acyclovir (Zovirax) hay famciclovir (Famvir) có thể làm rút ngắn thời gian bị mẫn đỏ da, nếu bắt đầu dùng sớm trong vòng 48 giờ khi xuất hiện mẫn đỏ. Phối hợp thêm thuốc nhóm steroid cũng có thể hạn chế và rút ngắn thời gian bị đau do zona. Tuy nhiên, lợi ích của 2 loại thuốc này vẫn còn hạn chế.

Ngoài thuốc kháng vi-rút, thuốc giảm đau cũng cần thiết để kiểm soát triệu chứng . Vùng da bị bệnh cần phải được giữ sạch sẽ và khô ráo. Người bệnh vẫn có thể được tắm rữa, kỳ cọ bằng xà phòng và nước nơi bị zona mà không bị cấm. Dung dịch aluminum acetate (Burows hay Domeboro”s, có bán ở nhà thuốc) có thể được sử dụng giúp làm khô bề mặt da bị zona và nơi rĩ dịch.

Biến chứng của bệnh zona là gì?

Thường thì bệnh zona được chữa khỏi, và bệnh zona cũng có một số vấn đề. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau.

Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này.

Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế.

Đau dây thần kinh sau bệnh zona là gì ? Và cần phải làm gì khi bị như vậy?

Đau dây thần kinh sau zona là đau khu trú ở vùng có liên quan đến bệnh zona, cơn đau này có thể kéo dài cả tháng.

Biến chứng thường gặp nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau bệnh zona Đau dây thần kinh sau zona thường kéo dài cả tháng, thậm chí ngay sau khi bệnh zona đã khỏi mà đau thì vẫn còn. Ở những người trên 50 tuổi, bị zona lần đầu, thường bệnh zona gây đau nhiều hơn, người bệnh dễ bị suy sụp hơn. Rõ ràng là điều trị zona bằng steroid và thuốc kháng vi-rút có thể rút ngắn thời gian và tai biến đau dây thần kinh sau zona. Tuy nhiên, chỉ giảm đi đôi chút.

Đau dây thần kinh sau zona có thể được điều trị bằng nhiều loại thuốc như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng amitriptyline (Elavil), và các thuốc khác như thuốc chống động kinh gabapentin (Neurontin), carbamazipine (Tegretol), được dùng để giảm đau dây thần kinh do zona.

Cuối cùng, kem capsaicin (Zostrix), là một chất được chiết xuất từ trái ớt, có thể được dùng để thoa lên vùng da bị zona để làm giảm đau, sau khi các mụn nước đã khô. Châm cứu và kích thích điện thần kinh vùng da bị bệnh cũng giúp ích được cho vài bệnh nhân. Lidocain dạng dán da cũng có thể giúp giảm đau dây thần kinh do zona.

Việc chọn lựa thuốc nào là tốt nhất cho bạn, cần phải thảo luận với thầy thuốc của bạn.

Tóm lược bệnh zona

Bệnh zona do vi-rút cùng loại với virút gây bệnh thuỷ đậu, bệnh lây sang người mà người đó trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh zona còn được gọi là Herpes zoster, bệnh này không liên quan gì đến bệnh nhiễm herpes sinh dục.

Bệnh zona có thể gây đau kéo dài, ngay cả sau khi hết mẫn đỏ da.

Steroids và thuốc kháng virút có thể giúp ngăn ngừa đau lâu dài sau nhiễm zona, nếu bắt đầu điều trị trong vòng 2 ngày đầu sau khi xuất hiện mẫn đỏ da.

Thuốc nào làm mệt thận?

Thuốc nào làm mệt thận?

Quá trình suy thận (thận mất khả năng lọc máu cho cơ thể) diễn ra một cách nhanh chóng (gọi là suy thận cấp) hoặc từ từ (suy thận mãn)

Ảnh: minh họa – Internet

Một số loại dược phẩm như thuốc kháng viêm không steroids (non-steroidal anti-inflammatory drugs – NSAIDs), thuốc trị cao huyết áp, một vài dạng thuốc kháng sinh, các phẩm màu dùng trong X – quang hay bức xạ có thể gây suy thận cấp.

Các thuốc NSAIDs can thiệp vào sự tổng hợp prostaglandin, vốn là một chất đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đủ lượng máu đi đến thận. Thiếu prostaglandin đồng nghĩa với việc giảm lưu lượng máu đến thận, làm cho thận hoạt động kém hiệu quả. Những bệnh nhân sử dụng NSAIDs liều cao, những bệnh nhân sẵn có các vấn đề về thận, bệnh nhân cao tuổi… rất dễ bị suy thận do NSAIDs gây ra. Bệnh nhân đang sử dụng thuốc lợi tiểu, nếu sử dụng thêm NSAIDs càng dễ bị suy thận. Vì vậy, những nhóm bệnh nhân này không nên tự ý mua thuốc NSAIDs để sử dụng mà cần phải có chỉ dẫn rõ ràng từ thầy thuốc .

Thuốc ức chế ACE và thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II là những nhóm thuốc dùng để trị bệnh cao huyết áp. Khi mới sử dụng những loại thuốc này, bệnh nhân nên khởi đầu ở liều thấp; sau đó, thường xuyên xét nghiệm máu để giám sát chức năng thận. Suy thận nhẹ thường xảy ra ở giai đoạn đầu sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu chức năng thận suy giảm quá 30% thì cần phải ngưng sử dụng thuốc ngay. Trong quá trình dùng, tuyệt đối không nên sử dụng kèm các thuốc NSAIDs.

Kháng sinh Aminoglycoside là những loại kháng sinh rất hữu dụng trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng 10% – 20% bệnh nhân bị suy thận khi sử dụng nhóm kháng sinh này, nhất là khi uống với liều cao hoặc dùng trong thời gian dài. Quá trình suy thận sẽ dễ thấy rõ chỉ sau một tuần sử dụng nhóm kháng sinh Aminoglycoside.

Những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường và bệnh thận càng dễ bị suy thận nếu được chụp X – quang có dùng màu phản quang. Khi lượng màu sử dụng nhiều, bệnh nhân bị mất nước thì càng dễ bị suy thận. Do vậy, bệnh nhân cần nạp vào cơ thể lượng nước thích hợp và dùng phẩm màu ít tác dụng phụ hơn.

Đối với những người dễ mắc bệnh thận, một vài loại dược phẩm như thuốc lợi tiểu sẽ làm cơ thể bị mất nước dẫn đến suy thận. Người bệnh cần lưu ý những loại thuốc kháng sinh, thuốc kháng nấm, thuốc kháng virus có thể gây suy thận. Trong trường hợp suy thận, bệnh nhân cần ngưng sử dụng các loại thuốc này; sau đó thông báo cho bác sĩ vì sử dụng chung nhiều loại dược phẩm cùng lúc thì đồng nghĩa với “bức tử” thận nhanh hơn.

Theo Người Lao Động

Tiểu máu

Tiểu máu

Tiểu máu! Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn.

Định nghĩa

Nhìn thấy máu trong nước tiểu có thể gây ra hơn một chút lo lắng. Tuy nhiên, máu trong nước tiểu không phải luôn luôn là một vấn đề cần quan tâm. Tập thể dục quá nặng có thể gây ra máu trong nước tiểu, có thể một số thuốc thông thường, bao gồm cả aspirin. Nhưng tiểu chảy máu cũng có thể chỉ ra một sự rối loạn nghiêm trọng.

Có hai loại máu trong nước tiểu. Máu mà có thể nhìn thấy được gọi là tiểu máu tổng thể. Tiểu máu (hematuria) chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi được gọi là tiểu máu kính hiển vi và được tìm thấy khi bác sĩ xét nghiệm nước tiểu. Dù bằng cách nào, điều quan trọng để xác định lý do chảy máu.

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản. Máu trong nước tiểu gây ra bởi tập thể dục thường trong vòng một hoặc hai ngày, nhưng các vấn đề khác thường đòi hỏi chăm sóc y tế.

Các triệu chứng

Dấu hiệu nhìn thấy được của hematuria là màu hồng, màu đỏ hoặc màu nước tiểu cola, kết quả của sự hiện diện của tế bào máu. Phải mất ít máu để sản xuất nước tiểu màu đỏ, và chảy máu thường không đau đớn. Nếu đông máu trong nước tiểu, có thể bị đau. Rất nhiều lần, tuy nhiên, nước tiểu đẫm máu xảy ra mà không có dấu hiệu hay triệu chứng khác.

Trong nhiều trường hợp, có thể có máu trong nước tiểu chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi.

Mặc dù nhiều trường hợp hematuria không nghiêm trọng, điều quan trọng để gặp bác sĩ bất kỳ lúc nào nhận thấy máu trong nước tiểu. Hãy ghi nhớ rằng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc nhuận tràng Ex và các loại thực phẩm nhất định, bao gồm củ cải đường, đại hoàng có thể gây ra nước tiểu chuyển sang màu đỏ. Sự thay đổi màu sắc nước tiểu gây ra bởi thuốc, thức ăn hoặc tập thể dục thường biến mất trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, có thể không tự nhận biết thuộc tính nước tiểu màu đỏ hoặc máu do thuốc hoặc tập thể dục, vì vậy tốt nhất gặp bác sĩ bất cứ lúc nào nhìn thấy máu trong nước tiểu.

Nguyên nhân

Đường tiết niệu được tạo ra bởi bàng quang, hai quả thận, hai niệu quản và niệu đạo. Thận loại bỏ chất thải và nước thừa ra khỏi máu và chuyển đổi nó thành nước tiểu. Nước tiểu sau đó chảy qua hai ống rỗng (niệu quản) – mỗi một từ thận để tới bàng quang, nơi nước tiểu được lưu giữ cho tới khi được ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Trong hematuria thận hoặc các bộ phận khác của đường tiết niệu, cho phép các tế bào máu bị rò rỉ vào nước tiểu. Một số vấn đề có thể gây ra rò rỉ này, bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Nhiễm trùng đường tiểu đặc biệt phổ biến ở phụ nữ, mặc dù đàn ông cũng gặp. Nó có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên trong bàng quang. Các nhiễm khuẩn đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, phát triển sau khi sinh hoạt tình dục. Các triệu chứng có thể bao gồm một sự liên tục kích thích để đi tiểu, đau và buốt khi đi tiểu, và nước tiểu có mùi rất mạnh. Đối với một số người, đặc biệt là người lớn tuổi, dấu hiệu của bệnh có thể được phát hiện bằng kính hiển vi.

Nhiễm trùng thận. Nhiễm trùng thận (viêm bể thận) có thể xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập thận từ dòng máu hoặc di chuyển lên từ niệu quản đến thận. Các dấu hiệu và triệu chứng thường tương tự như nhiễm trùng bàng quang, mặc dù nhiễm trùng thận có nhiều khả năng gây sốt và đau sườn.

Sỏi bàng quang hoặc thận. Các khoáng chất trong nước tiểu tập trung đôi khi kết tủa, tạo thành các tinh thể trên các bức tường của thận hay bàng quang. Theo thời gian, các tinh thể có thể trở thành sỏi nhỏ, đá cứng. Các đá này thường không đau, và có thể sẽ không biết có nó trừ khi nó gây ra tắc nghẽn hoặc đang di chuyển. Sau đó, thường có triệu chứng sỏi thận, đặc biệt có thể gây ra đau đớn. Bàng quang hoặc sỏi thận cũng có thể làm cả đái máu tổng thể và vi chảy máu.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt nằm ngay dưới bàng quang và bao quanh phần trên của niệu đạo, thường bắt đầu phát triển cách tiếp cận khi nam giới tuổi trung niên. Khi các tuyến lớn, nén niệu đạo, một phần chặn dòng chảy nước tiểu. Các dấu hiệu và triệu chứng của một tuyến tiền liệt mở rộng (tuyến tiền liệt lành tính hyperplasia, hay BPH) bao gồm tiểu khó, một nhu cầu khẩn cấp hoặc liên tục để đi tiểu, và một trong hai chảy máu tổng thể hoặc vi chảy máu. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự.

Bệnh thận. Vi chảy máu là một triệu chứng phổ biến của viêm cầu thận, gây viêm nhiễm của hệ thống lọc của thận. Viêm cầu thận có thể là một phần của một bệnh hệ thống, chẳng hạn như tiểu đường, hoặc nó có thể xảy ra riêng một mình. Nó có thể được kích hoạt bởi nhiễm virus hoặc các bệnh mạch máu (viêm mạch), và các vấn đề miễn dịch như bệnh lí thận IgA, mà ảnh hưởng đến các mao mạch nhỏ, lọc máu trong thận.

Ung thư. Nhìn thấy nước tiểu chảy máu có thể là một dấu hiệu của thận, bàng quang hoặc ung thư tuyến tiền liệt. Thật không may, có thể không có dấu hiệu hoặc triệu chứng trong giai đoạn đầu, khi các bệnh ung thư được chữa trị thêm.

Rối loạn di truyền. Bệnh thiếu máu thiếu hụt kinh niên của các tế bào máu đỏ có thể là nguyên nhân gây ra máu trong nước tiểu, cả tổng và vi hematuria. Vì vậy, có thể có hội chứng Alport, ảnh hưởng đến các màng lọc ở cầu thận của thận.

Chấn thương thận. Một cú đánh hoặc thương tích khác với thận từ một tai nạn hoặc với môn thể thao có thể gây ra máu trong nước tiểu mà có thể nhìn thấy.

Thuốc. Thuốc thường gặp có thể gây ra có thể nhìn thấy máu tiết niệu bao gồm aspirin, penicillin, heparin và các thuốc chống ung thư cyclophosphamide.

Tập thể dục nặng. Không rõ ràng lý do tại sao tập thể dục gây ra hematuria tổng thể. Nó có thể tổn thương đến bàng quang, mất nước hoặc sự cố của các tế bào máu đỏ xảy ra với tập thể dục aerobic bền vững. Hầu hết các vận động viên có thể nhìn thấy chảy máu nước tiểu sau khi một buổi tập luyện dữ dội.

Yếu tố nguy cơ

Hầu như bất cứ ai, kể cả trẻ em và thanh thiếu niên có thể có tế bào hồng cầu trong nước tiểu. Yếu tố tạo nên nhiều khả năng này bao gồm:

Tuổi. Nhiều đàn ông lớn tuổi hơn 50 có hematuria thỉnh thoảng do một tuyến tiền liệt mở rộng.

Gới tính. Hơn một nửa của tất cả các phụ nữ sẽ có một nhiễm trùng đường tiết niệu ít nhất một lần trong cuộc sống của họ, có thể với một số chảy máu đường tiết niệu. Người đàn ông trẻ tuổi có nhiều khả năng có sỏi thận hoặc hội chứng Alport, một dạng của viêm thận di truyền có thể gây ra máu trong nước tiểu.

Một nhiễm trùng gần đây. Viêm thận sau khi bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn (postinfectious viêm cầu thận) là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nước tiểu có thể nhìn thấy máu ở trẻ em.

Lịch sử gia đình. Có thể dễ bị chảy máu đường tiểu nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh thận hoặc sỏi thận.

Một số thuốc. Aspirin và các thuốc giảm đau không steroid khác chống viêm và kháng sinh như penicillin được biết là làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiết niệu.

Vất vả tập thể dục. Chạy dài – xa đặc biệt dễ bị gây ra chảy máu đường tiết niệu. Trong thực tế, tình trạng này đôi khi được gọi là Jogger ‘s hematuria. Nhưng bất kỳ ai hoạt động kịch liệt có thể phát triển triệu chứng.

Những chuẩn bị cho việc khám bệnh

Trong một số trường hợp, mặc dù có thể gọi ngay cho một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu (tiết niệu).

Dưới đây là một số thông tin để giúp chuẩn bị cho buổi khám, và những gì mong đợi từ bác sĩ.

Những gì có thể làm

Hãy nhận biết của bất kỳ hạn chế trước khi khám. Đồng thời thực hiện việc khám, hãy chắc chắn để hỏi nếu có bất cứ điều gì cần làm trước để chuẩn bị cho chẩn đoán xét nghiệm thông thường.

Bất kỳ triệu chứng đã gặp, bao gồm bất kỳ mà có vẻ không liên quan đến lý do mà dự kiến khám.

Tạo một danh sách các thông tin y tế, bao gồm bất kỳ điều kiện nào khác mà đang được điều trị, và tên của bất cứ loại thuốc, vitamin bổ sung đang dùng.

Đối với hematuria, một số câu hỏi cơ bản để yêu cầu bác sĩ bao gồm

Các nguyên nhân có thể có các triệu chứng là gì?

Những loại kiểm tra cần? Những thử nghiệm này yêu cầu bất kỳ chuẩn bị đặc biệt không?

Tôi có cần điều trị?

Điều gì là phương pháp điều trị?

Có bất cứ tài liệu quảng cáo hay tài liệu in khác có thể mang về nhà?

Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn sàng để yêu cầu bác sĩ, đừng ngần ngại đặt câu hỏi bất kỳ lúc nào nếu không hiểu điều gì đó.

Bác sĩ hoặc nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe có thể sẽ hỏi một số câu hỏi. Sẵn sàng để trả lời họ.

Các câu hỏi bác sĩ hỏi có thể bao gồm

Có bị đau khi đi tiểu?

Có thấy máu trong nước tiểu, chỉ thỉnh thoảng hoặc tất cả thời gian?

Khi đi tiểu có máu trong thời điểm hiện tại? Ví dụ, có thấy máu khi lần đầu tiên bắt đầu đi tiểu hoặc nước tiểu có máu không trở nên rõ ràng vào cuối dòng nước tiểu? Hoặc có nhìn thấy dòng máu trong nước tiểu trong suốt thời gian đang đi tiểu?

Có cục máu đông trong thời gian qua đi tiểu? Kích thước và hình dạng gì?

Đã dùng thuốc gì?

Có hút thuốc không?

Có tiếp xúc với hóa chất trong công việc? Những loại?

Đã bao giờ điều trị bằng phóng xạ?

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để tìm một nguyên nhân cho chảy máu đường tiết niệu, các xét nghiệm sau đây và các buổi khám đóng một vai trò quan trọng:

Khám sức khỏe, trong đó bao gồm một cuộc thảo luận của lịch sử y tế.

Xét nghiệm nước tiểu. Ngay cả khi chảy máu lần đầu tiên được phát hiện qua kiểm tra nước tiểu, có thể có một thử nghiệm để xem nước tiểu vẫn còn chứa các tế bào máu đỏ. Hematuria xảy ra chỉ một lần thường không cần phải đánh giá thêm. Phân tích nước tiểu cũng có thể giúp xác định xem có một nhiễm trùng đường tiết niệu hay có bài tiết khoáng chất gây sỏi thận.

Hình ảnh. Hầu hết mọi người với hematuria có thể có một kiểm tra hình ảnh, cung cấp hình ảnh chi tiết của các cơ quan nội tạng. Điều này có thể là một máy vi tính chụp cắt lớp (CT scan), trong đó sử dụng bức xạ và một máy tính mạnh mẽ để tạo ra hình ảnh mặt cắt của các bên trong cơ thể; Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), trong đó sử dụng một từ trường và sóng radio thay vì X – quang để sản xuất hình ảnh, hoặc một siêu âm. Siêu âm sử dụng một sự kết hợp của sóng âm thanh tần số cao và chế biến máy tính để xem thận và bàng quang.

Soi bàng quang. Trong thủ tục này, một ống nhỏ được trang bị một máy ảnh thu nhỏ vào bàng quang để kiểm tra toàn bộ cả bàng quang và niệu đạo.

Nguyên nhân của chảy máu đường tiết niệu có thể không bao giờ được tìm thấy. Trong trường hợp đó, bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra thường xuyên theo dõi, đặc biệt là nếu có yếu tố nguy cơ ung thư bàng quang, chẳng hạn như hút thuốc lá, tiếp xúc với chất độc môi trường và lịch sử một liệu pháp bức xạ.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hematuria không có điều trị cụ thể. Thay vào đó, bác sĩ sẽ tập trung vào những điều kiện cơ bản:

Nhiễm trùng đường tiểu. Kháng sinh điều trị tiêu chuẩn cho nhiễm trùng đường tiểu. Các triệu chứng thường giảm dần trong vài ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc, nhưng bệnh nhiễm trùng định kỳ có thể cần nhiều phương pháp điều trị hoặc lâu hơn.

Sỏi thận. Có thể loại bỏ một sỏi thận do uống một lượng lớn nước và hoạt động. Nếu điều này không hiệu quả, bác sĩ có thể thử các biện pháp xâm lấn hơn. Chúng bao gồm sử dụng sóng xung kích để phá vỡ sỏi thành từng miếng nhỏ (sóng xung extracorporeal lithotripsy) và trong một số trường hợp, phẫu thuật để loại bỏ những sỏi.

Mở rộng tuyến tiền liệt. Điều trị cho một tuyến tiền liệt mở rộng tìm cách giảm các triệu chứng và phục hồi chức năng bình thường của đường tiết niệu. Tất cả đều có hiệu quả đến mức độ khác nhau, và tất cả đều có một số nhược điểm. Thuốc men thường cố gắng đầu tiên, và nó cung cấp sự hỗ trợ lâu dài cho nhiều người đàn ông. Khi thuốc không giúp đỡ, điều trị xâm lấn tối thiểu bằng cách sử dụng nhiệt, tia laser hoặc sóng âm để tiêu diệt tế bào tuyến tiền liệt có thể là cố gắng quá mức.

Bệnh thận. Nhiều vấn đề về thận thường cần điều trị. Không có vấn đề gì là nguyên nhân cơ bản, mục đích là để làm giảm viêm nhiễm và hạn chế thiệt hại thêm cho thận.

Ung thư. Mặc dù có một số lựa chọn điều trị ung thư thận và bàng quang, phẫu thuật để loại bỏ các tế bào ung thư thường là lựa chọn đầu tiên bởi vì các tế bào là tương đối kháng bức xạ và hầu hết các loại hóa trị. Việc điều trị chính cho bệnh ung thư bàng quang là phẫu thuật cắt bỏ hoặc loại bỏ hoàn toàn bàng quang. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể được kết hợp với hóa trị. Trong những người khác, hệ thống miễn dịch trong bàng quang thúc đẩy mạnh mẽ với thuốc.

Rối loạn di truyền. Điều trị cho chứng rối loạn di truyền ảnh hưởng đến thận thay đổi rất nhiều. Hematuria gia đình lành tính thường không cần điều trị, ví dụ ,trong khi những người bị hội chứng Alport nghiêm trọng cuối cùng có thể cần phải chạy thận – một phương tiện nhân tạo loại bỏ các chất thải từ máu khi thận không còn có thể làm như vậy. Thiếu máu hồng cầu liềm được điều trị bằng truyền máu, hoặc trong trường hợp kịch bản tốt nhất, một cấy ghép tủy xương.

Phòng chống

Thường không thể ngăn chặn hematuria, mặc dù có những bước có thể làm để giảm nguy cơ của một số các bệnh gây ra nó. Phòng chống chiến lược bao gồm:

Nhiễm trùng đường tiểu. Uống thật nhiều nước, đi tiểu khi cảm thấy có yêu cầu và càng sớm càng tốt sau khi giao hợp, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu, và các sản phẩm vệ sinh phụ nữ có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu.

Sỏi thận. Để giúp hạ thấp nguy cơ sỏi thận, uống nhiều nước và hạn chế muối, protein và các thực phẩm chứa oxalate, chẳng hạn như rau bina và đại hoàng.

Ung thư bàng quang. Ngưng hút thuốc, tránh tiếp xúc với hóa chất và uống nhiều nước có thể cắt giảm nguy cơ ung thư bàng quang.

Ung thư thận. Để giúp ngăn ngừa ung thư thận, hút thuốc dừng lại, duy trì một trọng lượng khỏe mạnh, ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, trở lại hoạt động, và tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Theo Dieutri.vn

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Xuất tinh sớm: Nguyên nhân và cách điều trị

Xuất tinh sớm: Nguyên nhân và cách điều trị

Xuất tinh sớm (Tiếng Anh: Premature ejaculation) là hiện tượng xuất tinh sau một khoảng thời gian ngắn không theo chủ định và mong muốn của người đàn ông .

Có thể nói xuất tinh sớm là một hiện tượng thường gặp, ít người đàn ông nào trong suốt cuộc đời không trải qua ít nhất một lần xuất tinh sớm; theo thống kê thì khoảng 20% nam giới rơi vào tình trạng xuất tinh sớm. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này phần lớn có nguồn gốc tâm lý chẳng hạn như: lo lắng, căng thẳng hoặc do những kích thích quá độ mà người nam không tự điều khiển được cảm xúc của mình. Xuất tinh sớm không hề có lợi, tác hại của nó khiến: giảm khoái cảm tình dục, gây liệt dương ở nam giới, dẫn đến cơ thể mệt mỏi.

Không có quy ước cụ thể về thời gian định nghĩa hiện tượng xuất tinh sớm. Theo Masters và Johnson, người đàn ông xuất tinh sớm nếu sự xuất tinh xảy ra trước khi bạn tình đạt được cực khoái trong hơn 50% số lần quan hệ tình dục. Một số nhà nghiên cứu về tình dục khác lấy thời gian xuất tinh trước hai phút để định nghĩa xuất tinh sớm.

Nghiên cứu của Alfred Kinsey thực hiện vào thập niên 1950 cho thấy ba phần tư đàn ông xuất tinh trong vòng hai phút, kể từ lúc bắt đầu giao hợp trong hơn một nửa số lần quan hệ tình dục của họ.

Gây ra mặc cảm, tự ti đối với người nam và khoái cảm không trọn vẹn đối với người nữ. Bị thường xuyên sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người nam dẫn đền mệt mỏi cơ thể.

I. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA VIỆC XUẤT TINH:

- Giai đoạn giải thoát tinh dịch: là kết quả co thắt của ống dẫn tinh, túi tinh, bóng tinh, tuyến tiền liệt do kích thích ngày càng mãnh liệt. Tinh trùng được tích trữ ở mào tinh theo ống dẫn tinh đi lên, các dịch tiết từ các ống dẫn, túi tinh, bóng tinh, tuyến tiền liệt ngày càng nhiều làm gia tăng áp suất trong niệu đạo ở khoang tiền liệt, làm căng phồng lên, khi áp lực đó vượt qua giới hạn sẽ làm bung ra đầu phía dưới, đã được bít kín bởi cơ vòng.

- Giai đoạn xuất tinh thực sự: Các cơ ở vùng đáy chậu, các cơ túi tinh, bóng tinh trong ống dẫn, tuyến tiền liệt đồng thời co bóp mạnh là toàn bộ tinh dịch được bắn ra ngoài từng đợt với một vận tốc 3m/giây.

Sinh hoạt tình dục hoàn toàn là một vấn đề riêng tư của từng cặp vợ chồng, không ai giống ai. Số lần giao hợp trong tuần, thời gian xuất tinh, chất lượng của hoạt động tình dục tùy thuộc vào từng cá nhân, từng cặp, tùy theo từng thời điểm trong đời sống, lúc trẻ hay lúc về già… Tuy nhiên, nếu một nửa số lần sinh hoạt tình dục mà người đàn ông không thể kéo dài thời gian (kể cả thời gian tiền giao hợp) để cho bạn tình thỏa mãn thì được gọi là xuất tinh sớm, có thể tóm tắt như sau:

- Chỉ vừa chạm nhẹ vào cơ quan sinh dục đã xuất tinh.

- Vừa vào đến âm đạo đã xuất tinh.

- Sau một vài động tác.

- Sau một phút.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY XUẤT TINH SỚM:

Ngoài nguyên nhân bẩm sinh, hầu hết các trường hợp xuất tinh sớm là do vấn đề tâm lí – bao gồm: khái niệm đạo lí (coi quan hệ tình dục là tội lỗi); thiếu tình yêu; có chuyện đau buồn trong quá khứ; và một số do lo sợ không làm đủ bổn phận bạn tình. Dưới góc độ sinh lý các nhà khoa học cho rằng xuất tinh sớm do sự rối nhiễu của hệ thống các receptor và các chất dẫn truyền thần kinh serotonin.

Xuất tinh sớm là một trong 4 tình trạng của bệnh bất lực. Ngoài những nguyên nhân thực thể chiếm một tỷ lệ nhỏ còn phần lớn là do nguyên nhân tâm lý như:

Mặc cảm do mình xuất tinh quá sớm, do thủ dâm, do cắt bao quy đầu, do lòng ham muốn quá cao, do có tưởng tượng quá mạnh, do bạn tình quá nồng nhiệt, do hoàn cảnh không thuận tiện như sợ người khác bắt gặp, sợ gây ra tiếng động…

Một khi kích thích đủ để đưa cường độ cảm giác lên đến cực điểm thì sẽ xảy ra tình trạng xuất tinh. Kích thích tình dục có thể là hiện tượng cơ học như đụng chạm, hôn hít, ôm ấp và cũng có thể rất mơ hồ như những lời yêu đương hoặc chỉ nhìn thấy hay nghĩ đến thân thể của đối tượng cũng đủ gây ra cảm giác. Ngay cả các điều kiện để cấu thành kích thích như chỉ nghĩ đến, nhìn thấy, cảm nhận mùi vị toát ra từ thân thể của người tình cũng thuộc lĩnh vực tâm lý. Đỉnh cao của cảm giác đạt được quá sớm làm cho xuất tinh nhanh chóng, điều này dễ nhận thấy ở những cặp vợ chồng mới cưới vào ngày tân hôn, những cặp vợ chồng gặp lại sau một thời gian xa nhau hoặc người tình mới…

Cảm xúc và cảm giác tùy thuộc vào từng cá nhân nên khó có thể có một tiêu chuẩn để đo lường. Một cảm giác mạnh rất dễ đưa đến xuất tinh sớm, cảm giác nếu được lặp nhiều lần, được tập luyện và chế ngự tốt thì sẽ giảm đi tình trạng đó. Ví dụ như những gặp gỡ lần đầu hay những cặp vợ chồng mới cưới thường hay gặp phải tình trạng xuất tinh sớm. Nhiều cặp tưởng chừng như lâm vào cảnh tuyệt vọng nhưng sau một vài tháng chung sống và được sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa thì họ trở lại sinh hoạt bình thường. Một chấn động nhỏ về tâm lý hay bệnh tật của tuổi già, stress cũng có thể là nguyên nhân gây xuất tinh sớm.

Hoặc hiếm hơn, xuất tinh sớm là hậu quả của một trục trặc thể chất như nhiễm trùng tuyến tiền liệt hay đường tiết niệu. Nghiên cứu gần đây cho thấy một số đàn ông có thể mắc một bẩm chất sinh lý trong hệ thần kinh gây ra xuất tinh nhanh. Nhưng với hầu hết đàn ông, phóng tinh sớm sẽ xuất hiện trong những lúc bị stress hoặc sức khoẻ kém.

III. ĐIỀU TRỊ XUẤT TINH SỚM:

Hoạt động tình dục đều đặn thường xuyên với tâm lý ổn định thì sẽ bào mòn đi cảm giác nóng bỏng lúc đầu là một phương pháp áp dụng trong điều trị xuất tinh sớm.

Đa số đều đồng ý rằng chỉ cần 2-5 phút gần gũi là đủ cho thỏa mãn đôi bên. Nếu cuộc giao hợp liên tục xảy ra trên 30 phút chắc chắn sẽ không còn gì thú vị vì chỉ gây nên những tổn thương xây xát trên niêm mạc, da của cơ quan sinh dục.

Xuất tinh sớm là kết quả của kích thích đưa cảm giác lên đến đỉnh điểm, vì vậy điều trị xuất tinh sớm nhằm vào hai yếu tố:

- Giảm cường độ kích thích.

- Làm chậm lại cảm giác.

Phối hợp được hai yếu tố trên một cách nghệ thuật và nhuần nhuyễn trong điều trị thì sẽ thành công trong giai đoạn đầu và sau đó phải duy trì kết quả đó cho các lần kế tiếp, tuần sau, tháng sau.

Xuất tinh sớm là một vấn đề có nguyên nhân phần lớn do tâm lý nên phải tùy từng trường hợp mà điều trị, không thể có một phác đồ điều trị chung. Cách này lại có kết quả cho trường hợp này mà lại không có kết quả cho trường hợp kia. Nguyên tắc chung của điều trị là dùng:

- Dược phẩm: Có khả năng giảm kích thích tại chỗ hay làm chậm lại cảm giác.

- Giải tỏa các ức chế tâm lý.

- Duy trì kết quả bước đầu bằng luyện tập.

Ngoài chọn phương pháp điều trị bằng dược phẩm và tâm lý trị liệu của thầy thuốc thì vai trò của người bạn tình chiêm 80% kết quả thành công.

Ngoài ra:

Có một số cách khác giúp bạn nhận ra “điểm không thể dừng lại”. Lúc đầu, bạn có thể tập luyện một mình, rồi sau đó trao đổi với bạn đời và nhờ họ giúp vượt qua vấn đề.

  • Thư giãn. Đây là điều quan trọng nhất bạn cần làm. Đi tắm, hít thở sâu, hoặc ngồi tĩnh tâm.
  • Giải quyết các trục trặc trong mối quan hệ. Đảm bảo rằng cả đầu óc và con tim đều sẵn sàng cho sex. Nếu bạn không hạnh phúc về điều gì thì hãy giải quyết trước với bạn đời.
  • Luyện tập khung xương chậu. Nhiều đàn ông cho biết họ có thể trì hoãn việc xuất tinh bằng cách siết chặt hoặc đẩy mạnh cơ xương chậu.
  • Dừng lại rồi tiếp tục. Đây là phương pháp phổ biến nhất trong liệu pháp tâm lý. Luyện tập kích thích bản thân lên đến điểm trước khi xuất tinh rồi dừng lại. Làm lại tự đầu khi xúc cảm đã giảm xuống. Lặp lại 3 lần. Bạn sẽ thấy khoảng thời gian trước mỗi lần dừng lại sẽ kéo dài ra.
  • Thay đổi kiểu kích thích. Nếu bạn thấy đã giành được nhiều sự kiểm soát bằng phương pháp trên, thử thay đổi kiểu tác động của mình để giảm bớt kích thích, thay vì dừng lại tất cả.
  • Thay đổi vị trí. Trong quá trình giao hợp, thử biện pháp dừng lại rồi tiếp tục khi cảm xúc quá mạnh. Khi bạn tự tin hơn, đổi vị trí thay vì dừng hẳn lại.

 

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Phì đại tuyến tiền liệt là hiện tượng “phát phì” không bình thườngcủa tuyến tiền liệt ( TTL),  là sinh lý bình thường của người cao tuổi nhưng khi đã có những triệu chứng bất thường thì cần phải nghĩ ngay đến một tình trạng bệnh .

Khi tuổi càng cao, tuyến tiền liệt càng có nguy cơtăng kích thước, chèn ép vào niệu đạo và bàng quang, gây nên chứng bệnh này…. Và đây là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (50 – 60 tuổi trở lên).

Chức năng của tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt (TTL) là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở nam giới, nằm ngay dưới bàng quang và trước trực tràng. Khi mới sinh thì TTL nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam… Chức năng của TTL phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. Thông thường tuổi càng cao thì TTL càng to ra nên gọi là phì đại TTL (u xơTTL, bướu lành TTL). Đây là hiện tượng sinh lý bình thường của sự lão hóa cơthể.

Ảnh hưởng của phì đại tuyến tiền liệt

Sự phì đại TTL chèn ép niệu đạo (ống tiểu) và gây nên những rối loạn về đi tiểu. Khi phát triển lớn, u xơ sẽ gây chèn ép làm bế tắc ống tiểu và đôi khi còn kèm đau khi tiểu tiện. Đây là lúc TTL có trạng thái bệnh nên mọi người cần phải chú ý.

Khi nào tuyến tiền liệt có vấn đề?

Thông thường những người cao tuổi bị phì đại TTL sinh lý do tuổi tác, nếu chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ như hay tiểu tiện nhiều hơn so với thời trẻ thì chưa phải là bệnh nên không cần phải điều trị. Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như: tiểu gấp, đêm phải đi tiểu nhiều lần, phải rặn khởi động, tia nước tiểu yếu, tiểu xong có cảm giác là tiểu chưa hết, phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ, khó đi tiểu, tiểu đau buốt… thì đó là dấu hiệu bệnh lý nên cần phải đi khám ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay. Khi khám thì bác sĩ có thể khám bằng cách thăm dò trực tiếp trực tràng, siêu âm, chụp hình hệ niệu có cản quang, làm các xét nghiệm tổng quát để đánh giá tình trạng chung của người bệnh.
Các biến chứng có thể gặp của bướu lành tính TTL: Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mạn tính, suy giảm chức năng thận… và có thể suy thận.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên vừa qua cho thấy phì đại tiền liệt tuyến dễphát tán ởngười mà cuộc sống trước đây thường:

• Stress kinh niên.
• Uống không đủ nước trong giờ làm việc lại hay đổ mồ hôi.
• Sinh hoạt thường xuyên trong môi trường ô nhiễm nhưng thiếu phương tiện bảo vệ sức khoẻ • Có chế độ dinh dưỡng đơn điệu nên cơthể thiếu hụt sinh và khoáng tố thuộc nhóm kháng oxy-hóa.
• Lạm dụng bia rượu, chất béo động vật, chất kích thích (cà-phê, thuốc lá…) khiến sức đề kháng bị sói mòn.
• Mắc bệnh trên đường tiết niệu ( viêm bàng quang), bệnh nội tiết (tiểu đường, rối loạn chức năng tuyến giáp) không được điều trị đến nơi đến chốn.

Nói cách khác, bệnh có thể phòng ngừa không mấy khó nếu nạn nhân đừng quên khắc phục các nhược điểm vừa kể khi còn trẻ, khi tuyến tiền liệt hãy còn “chạy êm” Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơđầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng nhưchất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn, tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơthể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơcàng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơthể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

II. TRIỆU CHỨNG CỦA PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

-Bất chợt có một thôi thúc cấp bách muốn đi tiểu mà ta không kiểm soát, kiềm chếđược. Lý do là bàng quang bịcăng đầy nước tiểu.

-Mót tiểu là vậy mà khi vào nhà cầu thì nước chẳng chịu ra ngay, phải gồng bụng rặn, vì ống dẫn bị nhiếp tuyến đè nghẹt.

-Nếu có ra thì, vòi nước tiểu cũng yếu ngắt quãng vì “ đường ống” quá hẹp.

-Tiểu xong mà thấy vẫn như còn tưng tức có nước, muốn đi thêm.

-Nước tiểu sót lại trong bàng quang kích thích nên ta hay đi đái rắt, nhất là vào đêm khuya.

-Nước tiểu đôi khi có máu vì huyết quản dãn nở đứt vỡ;

Nhiều khi vì nằm lâu trong bàng quang, nên nước tiểu cũng bị nhiễm vi khuẩn, đưa tới bệnh đường niệu.

Người ta thường hay ví người bị u xơ tuyến tiền liệt là “tiểu ướt mũi giày” là do nước tiểu nhỏ giọt xuống mũi giày hay hội chứng bàn tay khai vì tay dính nước tiểu) hoặc tiểu bị tắc xong lại tiểu tiếp, đi tiểu rất lâu… và nặng hơn có thể bị bí tiểu hoàn toàn.

Tiền liệt tuyến – kho chứa chất độc:

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy tiền liệt tuyến là thành phần dơ đầu chịu báng, để lưu giữ độc tố, vi khuẩn, hóa chất, thay vì tiến thẳng vào đường tiết niệu. Bằng chứng là chất oxy-hóa cũng như chất sinh ung thư tích lũy trong tuyến này với hàm lượng tăng theo tuổi đời. Nhưng chưa hẳn chúng là điều kiện đủ để gay ra phì đại. Sâu sa hơn,  tình trạng giảm thiểu nội tiết tố nam tính testosterone, bắt đầu rõ nét từ tuổi 40, mà nội tiết tố nữ tính estradiol vốn trước đó đóng vai đối kháng nhưng mờ nhạt trong cơ thể đàn ông, càng lúc càng quấy phá. Hậu quả là tuyến tiền liệt có khuynh hướng tăng dần thể tích với lượng mô xơ càng lúc càng lấn át. Nói cách khác, phì đại tiền liệt tuyến hình thành một phần lớn do yếu tố phá hoại ngấm ngầm của mất quân bình nội tiết tố trong cơ thể đàn ông. Có đến 10% trường hợp có thể trở thành ác tính

III. ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT:

Sau khi bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán thì bác sĩ sẽ cho biết là nên điều trị nội khoa hay phải phẫu thuật (dùng thuốc hay mổ). Ngày nay có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn đi tiểu của người bệnh, cũng nhưcó nhiều phương pháp can thiệp ngoại khoa. Nói chung là tùy theo thể trạng người bệnh, kích thước bướu và bướu có gây biến chứng gì lên đường tiết niệu hay chưa… mà bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Một điều cần lưu ý đối với người cao tuổi (từ 45 tuổi trở lên) rằng, bướu lành TTL là căn bệnh không thực sự nguy hiểm nhưng muốn điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và tự điều trị ở nhà thì bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Vì thực tế hiện nay, ngay cả khi đã mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của thầy thuốc thì người bệnh vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

 

Suy thận cấp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Suy thận cấp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Suy thận cấp (STC) là tình trạng giảm mức lọc cầu thận một cách đột ngột và nhanh chóng, xuất hiện trong vòng từvài giờđến vài ngày, dẫn đến tình trạng rối loạn nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan và tích tụcác sản phẩm chuyển hóa trong cơthể.

Tình trạng này thường được phát hiện trên lâm sàng khi có tăng các chất chứa nitơ(urê, creatinin) và hoặc có biểu hiện thiểu niệu hay vô niệu.

Cho đến nay các nhà Thận học trên thế giới chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về tiêu chuẩn chẩn đoán suy thận cấp và thường dựa trên tốc độ gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh so với nồng độ creatinin nền (baseline) của chính bệnh nhân đó để chẩn đoán suy thận cấp.

Suy thận cấp được đặt ra khi:

- Tốc độ gia tăng creatinin huyết thanh > 42,5mmol/l trong vòng 24 đến 48 giờ so với creatinin nền nếu nồng độ creatinin nền của bệnh nhân < 221mmol/l hoặc:

- Tốc độ gia tăng creatinin huyết thanh >20% trong vòng 24 đến 48 giờ so với creatinin nền nếu nồng độ creatimn nền của bệnh nhân > 221mmol/l

Trên thực tế lâm sàng không phải bao giờ chúng ta cũng biết được chính xác nồng độ creatinin máu của bệnh nhân khi chưa có suy thận cấp (creatinin nền) vì vậy phần lớn các nhà lâm sàng thường dựa trên tốc độ gia tăng của creatinin huyết thanh trong một khoảng thời gian cụ thể để chẩn đoán suy thận cấp như sau:

- Khi tốc độ gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh > 45mmol/l trong vòng 24-48 giờ.

Bên cạnh dựa vào sự gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh người thầy thuốc cần phải dựa vào các biểu hiện lâm sàng khác như: tác nhân gây bệnh, sự xuất hiện đột ngột của các triệu chứng như đái ít vô hiệu để đưa ra chẩn đoán và xử trí kịp thời đối với các trường hợp nghi ngờ suy thận cấp.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY SUY THẬN CẤP

Suy thận cấp do nhiều nguyên nhân, cho nên khó có thể diễn giải cơ chế bệnh sinh một cách đơn thuần. Nói chung có thể có 5 yếu tố đóng góp vào cơ chế sinh bệnh trong suy thận cấp như sau(xem sơ đồ 1):

1. Khuyếch tán trở lại của dịch lọc cầu thận khi đi qua ống thận do màng tế bào ống thận bị hủy hoại.

2. Tắc ống thận do xác tế bào, do sắc tố, hoặc các sản phẩm protein

3. Tăng áp lực ở tổ chức kẽ của thận do phù nề

4. Giảm sút dòng máu hiệu dụng ở vỏ thận dẫn đến giảm mức lọc cầu thận một cách cấp tính.

5. Thay đổi tính thấm của màng đáy mao quản cầu thận

Tất cả những yếu tố đó đều góp phần ít nhiều dẫn đến vô niệu. Yếu tố nào chính, yếu tố nào phụ là tuỳ theo bệnh nguyên và diễn biến của quá trình bệnh lý.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA SUY THẬN CẤP:

1. Các dấu hiệu lâm sàng

Đa số các trường hợp suy thận cấp khởi phát với dấu hiệu thiểu niệu (<400ml/24h), nhưng một số trường hợp nước tiểu vẫn >1l/24h (thể còn bảo tồn nước tiểu).

Ngoài ra tuỳ theo nguyên nhân dẫn đến suy thận cấp mà biểu hiện lâm sàng có thể khác nhau:

Suy thận cấp do nguyên nhân trước thận:

Thường thấy các triệu chứng mất nước như:

- Mạch nhanh, hạ HA tư thế, tụt HA

- Da, niêm mạc khô; giảm độ chun giãn da, tĩnh mạch cổ xẹp

- Số lượng nước tiểu giảm dần

Suy thận cấp do nguyên nhân tại thận:

Có thể thấy một hoặc một số dấu hiệu sau:

- Các yếu tố nguy cơ: sốc kéo dài, dùng thuốc độc cho thận, thuốc cản quang; tiêu cơ vân, tan máu

- Nước tiểu có màu đỏ hoặc thẫm màu do đái ra máu trong viêm cầu thận cấp v.v…

- Đau vùng thắt lưng do sỏi thận, niệu quản.

- Thiểu niệu, phù, tăng huyết áp…

- Sốt đau cơ và ngứa, nổi ban sẩn sau dùng thuốc.

Suy thận cấp thể hoại tử ống thận cấp

Thuộc nhóm suy thận cấp tại thận nhưng có thể được tách thành một thể lâm sàng riêng biệt.

Suy thận cấp do nguyên nhân sau thận

Thường thấy dấu hiệu tắc nghẽn đường tiết niệu như:

- Cơn đau quặn thận hoặc đau hố lưng hoặc các điểm niệu quản

- Thận to do ứ nước, ứ mủ.

- Các triệu chứng của bàng quang: đau tức vùng bàng quang, đái buốt, đái dắt…

- Thiểu niệu, vô niệu rõ.

- Thăm trực tràng có thể thấy tuyến tiền hệt to đi kèm với các rối loạn tiểu tiện trước đó.

Chức năng thận thường phục hồi nhanh sau khi giải quyết được nguyên nhân tắc nghẽn như lấy sỏi, cắt bỏ tiền liệt tuyến…

2. Các biểu hiện cận lâm sàng

- Trong tất cả các trường hợp suy thận cấp đều thấy urê, creatinin máu tăng dần hàng ngày, có thể tăng rất nhanh trong vòng vài giờ.

- Kali máu sẽ tăng dần nếu như suy thận cấp không được can thiệp kịp thời và hiệu quả.

- Thiếu máu khi bị mất máu nặng hoặc tan máu trong lòng mạch ồ ạt.

- Ngoài ra có thể thấy: giảm calci máu, đôi khi tăng calci máu, tăng phospho máu, nhiễm toan chuyển hóa biểu hiện bằng giảm dự trữ kiềm, tăng khoảng trống anion…

3. Một số thăm dò cận lâm sàng giúp chẩn đoán nguyên nhân

3.1. Xét nghiệm nước tiểu

- Bình thường hoặc có ít hồng cầu hoặc bạch cầu gặp trong: suy thận do nguyên nhân trước thận, tắc động mạch thận, viêm mạch trước cầu thận, hội chứng tan máu có tăng urê máu hoặc gặp trong hội chứng huyết khối vi mạch có phát ban và giảm tiểu cầu, các nguyên nhân gây suy thận cấp sau thận như sỏi thận, sỏi niệu quản…

- Các loại tinh thể có gặp: do tăng urate cấp tính, do ngộ độc acyclovir, sulfonamid, các thuốc cản quang dùng đường tĩnh mạch.

- Có trụ hạt trong hoại tử ống thận cấp, gợi ý thiếu máu thận và ngộ độc.

- Protein niệu vết hoặc âm tính gợi ý nguyên nhân trước hoặc sau thận, protein mếu trên 1g/ngày và thoặc trụ hồng cầu: gợi ý bệnh lý cầu thận.

- Trụ bạch cầu: nhiễm khuẩn nhu mô thận như viêm thận bể thận cấp, viêm cầu thận thể xuất tiết.

- Bạch cầu ưa acid: viêm tổ chức ống kẽ thận dị ứng do kháng sinh, do thuốc giảm đau chống viêm non-steroids, bệnh lý nghẽn mạch do xơ vữa mạch hoặc một vài hình thái viêm cầu thận cấp.

- Hemoglobin mếu và myoglobin niệu: gợi ý tan máu hoặc tiêu cơ vân.

3.2. Xét nghiệm máu

Khi có tăng nhanh kèm, phosphat, acid uric máu và creatinine kinase (CK), creatinin máu tăng nhiều hơn urê máu gợi ý tiêu cơ vân.

- Thiếu máu nặng khi không có xuất huyết gợi ý tan máu, đa u tủy xương, bệnh vi mạch do huyết khối (thrombotic microangiopathy).

- Tăng bạch cầu ái toan máu gợi ý viêm thận kẽ do dị ứng, hoặc viêm nút quanh động mạch.

3.3. Chẩn đoán hình ảnh

- Chụp X.quang hệ tiết niệu không chuẩn bị phát hiện sỏi cản quang;

- Chụp hệ tiết niệu có tiêm thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch hoặc chụp bể thận – niệu quản ngược xuôi dòng phát hiện vị trí tắc nghẽn gây nên suy thận cấp tuy nhiên chỉ tiến hành khi thật cần thiết và suy thận mức độ nhẹ hoặc ở cơ sở có khả năng lọc máu ngoài thận vì thuốc cản quang đường tĩnh mạch sẽ làm nặng thêm tình trạng suy thận.

- Xạ hình thận khi có chống chỉ định dùng thuốc cản quang đường tĩnh mạch, và đặc biệt là suy thận cấp do sỏi trước khi phẫu thuật lấy sỏi nhằm đánh giá chức năng thận có sỏi và thận không có sỏi.

- Siêu âm: xác định kích thước thận, các dấu hiệu gián tiếp của sỏi hoặc nguyên nhân tắc nghẽn khác, cụ thể là loại trừ nguyên nhân suy thận cấp sau thận.

- Siêu âm Doppler mạch thận có thể xác định nguyên nhân gây suy thận cấp là do mạch máu: huyết khối động, tĩnh mạch thận, tình trạng tưới máu nhu mô thận cũng như sức cản mạch máu trong thận.

- Chụp CT scanner, chụp cộng hưởng từ có thể khẳng định chẩn đoán dễ dàng hơn trong một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây suy thận cấp.

3.4. Sinh thiết thận

Chỉ định trong một số trường hợp suy thận cấp do viêm cầu thận, nghi ngờ bệnh hệ thống gây tổn thương thận thứ phát nhằm mục đích:

+ Đánh giá mức độ tổn thương cầu thận.

+ Tổn thương ống kẽ thận và phân loại tổn thương cầu thận.

+ Khi các biện pháp khác chưa làm rõ chấn đoán, sinh thiết thận còn giúp ích cho lựa chọn biện pháp điều trị và tiên lượng.

4. Diễn biến lâm sàng

Suy thận cấp thể điển hình thường tiến triển qua 4 giai đoạn.

Hoại tử ống thận cấp gây suy thận cấp là một thể điển hình.

4.1. Giai đoạn khởi phát

Khởi phát, trong vòng 24h, là giai đoạn tấn công của tác nhân gây bệnh. Diễn biến tùy theo từng nguyên nhân. Ở bệnh nhân ngộ độc thì diễn biến nhanh có thể dẫn tới vô niệu ngay thường có số lượng nước tiểu giảm; nếu can thiệp kịp thời có thể tránh được chuyển sang giai đoạn 2.

4.2. Giai đoạn đái ít – vô niệu

Vô niệu có thể diễn biến từ từ, bênh nhân đái ít dần rồi vô niệu, nhưng vô niệu cũng có thể xảy ra đột ngột, nhất là trong trường hợp ngộ độc hoặc nguyên nhân cơ giới. Đái ít, vô niệu có thể kéo dài 1-2 ngày, có khi 1- 6 tuần, trung bình 7-14 ngày bệnh nhân sẽ đái trở lại.

- Có thể có phù

- Urê, creatinin tăng nhanh, rối loạn nước điện giải, tăng K+ máu

- Toan chuyển hóa

- Acid uric máu tăng

- Các biểu hiện tim mạch, hô hấp, thần kinh, tiêu hóa…của hội chứng urê máu cao.

Khi tốc độ tăng urê, creatinin máu càng nhanh thì tiên lượng càng nặng. Urê máu tăng phụ thuộc vào mức độ vô niệu, phụ thuộc vào chế độ ăn nhiều protid, phụ thuộc vào quá trình giáng hóa protid trong cơ thể. Creatin máu, sản phẩm giáng hóa cuối cùng của creatinin (có chủ yếu trong cơ), không phụ thuộc vào chế độ ăn, nên nó phản ánh chức năng thận chính xác hơn urê. Khi nồng độ urê tăng trên 8 mmol/24 giờ hoặc creatinin tăng trên 90mmol/l/24giờ thì tiên lượng rất xấu.

4.3. Giai đoạn đái trở lại

- Kéo dài trung bình khoảng 5-7 ngày

- Có lại nước tiểu, bắt đầu 200-300ml/24h, có thể đái 4-5lít/24h

- Vẫn có các nguy cơ cao: tăng urê, creatinin; đái nhiều, mất nước, mất điện giải (K+ máu hạ, Na+ máu hạ).

4.4. Giai đoạn hồi phục:

- Tùy theo nguyên nhân gây suy thận cấp thời gian hồi phục có thể kéo dài rất khác nhau, trung bình khoảng 4 tuần.

- Các rối loạn về sinh hóa dần trở về bình thường: urê, creatinin máu giảm dần. Urê, creatinin niệu tăng dần. Tuy nhiên khả năng cô đặc nước tiểu của ống thận có khi hàng năm mới hồi phục hoàn toàn. Mức lọc cầu thận hồi phục nhanh hơn, thường sau 2 tháng có thể trở về bình thường.

III. CHẨN ĐOÁN SUY THẬN CẤP

1. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định dựa vào:

- Có nguyên nhân cấp tính dẫn đến như uống mật cá trắm, ngộ độc kali loại nặng, ỉa chảy mất nước, viêm cầu thận cấp…

+ Xuất hiện: thiểu niệu, vô niệu

+ Urê, creatinin máu tăng nhanh trong vòng vài giờ đến vài ngày (xem phần định nghĩa suy thận cấp)

+ K+ máu tăng dần.

+ Có thể rối loạn thăng bằng kiềm toan đi kèm, thường gặp là toan chuyển hóa.

2. Chẩn đoán phân biệt

2.1. Một số trường hợp có tăng creatinin hoặc urê máu mà không có suy thận cấp

2.1.1. Tăng urê do

- Tăng quá nhiều lượng protein vào cơ thể: qua ăn, uống, truyền nhiều acid amin

- Xuất huyết đường tiêu hóa

- Tăng quá trình giáng hóa

- Đang dùng corticoid

- Đang dùng tetracyclin

2.1.2 Tăng nồng độ creatinin máu do:

- Tăng giải phóng từ cơ

- Giảm bài tiết ở ống lượn gần do dùng cimetidin, trimethoprim…

2.2. Suy thận cấp với đợt cấp của suy thận mạn

- Có nghĩa là suy thận cấp xảy ra trên nền bệnh nhân đã có suy thận mạn từ trước đó.

- Cần chú ý chẩn đoán phân biệt bởi vì chúng ta có thể chỉ định nhầm cho bệnh nhân suy thận mạn ở mức độ nhẹ hoặc trung bình lựa chọn phương pháp điều trị thay thế thận suy mà trên thực tế có thể chỉ cần điều trị bảo tồn.

Trong suy thận mạn:

- Tiền sử có bệnh thận – tiết niệu.

- Creatinin và urê huyết thanh tăng từ trước nếu đã được chẩn đoán và theo dõi.

- Thiếu máu tương ứng với mức độ suy thận.

- Tăng huyết áp, suy tim: thường nặng hơn trên bệnh nhân suy thận mạn.

- Siêu âm có thể thấy hai thận teo nhỏ, nhu mô thận tăng độ cản âm (phản ánh mức độ xơ của nhu mô thận) nếu do viêm cầu thận mạn, hoặc thấy các nguyên nhân gây suy thận mạn khác như: thận đa nang, sỏi thận…

Đợt cấp của suy thận mạn:

- Có các nguyên nhân làm nặng thêm mức độ suy thận như: dùng các thuốc độc cho thận, dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc hoạt chất, mất nước do nôn, ỉa chảy, nhiễm trùng toàn thân hoặc các ổ nhiễm trùng tại thận, tắc nghẽn sau thận đột ngột.

- Suy thận nặng nhưng thiếu máu không nặng nếu nguyên nhân gây suy thận cấp không do mất máu và bệnh nhân không dùng thuốc kích thích tăng sinh hồng cầu trước đó.

- Trên siêu âm: kích thước và tính chất nhu mô thận không tương xứng với mức độ suy thận, suy thận nặng nhưng thận không teo và cản âm nhiều nếu nguyên nhân gây suy thận mạn là viêm cầu thận mạn.

- Loại trừ các nguyên nhân thuận lợi gây suy giảm chức năng thận thì mức độ suy thận sẽ giảm đi nhưng không bao giờ trở về bình thường.

2.3. Phân biệt thể lâm sàng

Suy thận cấp do nguyên nhân trước thận với suy thận cấp do nguyên nhân tại thận gây hoại tử ống thận cấp (Bảng trang 418).

3. Chẩn đoán nguyên nhân

Suy thận cấp do rất nhiều nguyên nhân gây nên, có các nguyên nhân trước thận, tại thận và sau thận. Có thể tóm tắt bằng sơ đồ dưới đây:

Một số chỉ số phân biệt suy thận cấp do nguyên nhân trước thận

với suy thận cấp do nguyên nhân tại thận gây hoại tử ống thận cấp

Chỉ số chẩn đoán Nguyên nhân trước thận Tại thận
Phân số thải Na < 1 > 1
Na niệu < 10 > 20
Ucre/Pure > 40 < 20
Uure/Pure > 8 < 3
Tỷ trọng nước tiểu > 1.018 < 1.012
Áp lực thẩm thấu niệu > 500 mOsm/kg nước <250 mOsm/kg nước
Pure/Pcre > 20 < 10-15
Chỉ số suy thận < 1 > 1

 

- Ucre = Nồng độ creatinin niệu

- Uure =  Nồng độ urê niệu

- Pcre = Nồng độ creatinin huyết thanh

- Pure = Nồng độ urê huyết thanh

- Chỉ số suy thận = Na niệu / Ucre/ Pcre

- Phân số lọc cầu thận =

3.1. Suy thận cấp trước thận (chiếm khoảng 55-60% tổng số ca suy thận cấp)

- Sốc giảm thể tích: mất nước, mất máu.

- Sốc tim.

- Sốc nhiễm khuẩn.

- Sốc quá mẫn.

- Các nguyên nhân gây giảm khối lượng tuần hoàn khác như: hội chứng thận hư, xơ gan, thiểu dưỡng… gây giảm protid máu và đặc biệt là albumin máu thiếu trầm trọng.

3.2. Suy thận cấp tại thận (chiếm khoảng 35-40% tổng số ca suy thận cấp)

3.2.1. Các bệnh lý cầu thận cấp : chiếm khoảng 3- 12% bệnh nhân suy thận cấp.

Bệnh cầu thận nguyên phát: suy thận cấp có thể là biến chứng của viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu.

Bệnh cầu thận thứ phát:

- Viêm cầu thận lupus trong những đợt tiến triển cấp tính.

- Hội chứng Goodpasture.

- Schonlein – Henoch có tổn thương thận.

3.2.2. Các bệnh ống kẽ thận cấp tính

Các nguyên nhân gây viêm ống kẽ thận cấp tính (còn gọi là hoại tử ống thận cấp):

- Nhiễm độc: tetrachlorua carbon, glycol, mật cá trắm, thuốc nam có chứa…

- Thuốc: kháng sinh aminosid, cephalosporin, cyclosporin A…

- Các thuốc khác: chống viêm giảm đau không steroid (Glafenin, paracetamol…), lithium, lợi tiểu nhóm thiazid, các thuốc chống ung thư , các thuốc cản quang có iod…

- Tan máu cấp tính: do truyền nhầm nhóm máu ABO, nhiễm virus, sốt rét ác tính, một số thuốc gây tan máu: quinin, rifampycin, chống viêm giảm đau.

- Tiêu cơ vân cấp tính do: chấn thương cơ, thiếu máu cơ, hôn urê kéo dài, co giật, nghiện heroin, lạm dụng thuốc chống động kinh…

- Các tình trạng sốc: lúc đầu là suy thận cấp chức năng, sau có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp.

- Các nguyên nhân gây viêm kẽ thận cấp tính:

+ Do nhiễm trùng: nhiễm trùng huyết, bệnh do Leptospira, bệnh do Salmonella, viêm thận bể thận cấp.

+ Nguyên nhân thông qua cơ chế miễn dịch dị ứng: kháng sinh: b lactamin, cephalosporin, rifampycin, sulfamid… Một thuốc khác như kháng viêm không steroid, thuốc giảm đau, lợi tiểu thiazid, thuốc chống co giật, alloprinol, cimetidin…

- Rối loạn chuyển hóa: tăng acid uric máu.

- Một số nguyên nhân khác: đa u tủy xương (myeloma), u bạch huyết (lymphoma)…

3.2.3. Các bệnh lý mạch máu tổn thương thận

- Cryoglobulin huyết.

- Viêm nút quanh động mạch.

- Viêm mạch dị ứng.

- Bệnh u hạt Wegner.

- Bệnh Takayasu.

- Chấn thương thận.

- Tắc mạch thận…

3.3. Suy thận cấp sau thận (chiếm khoảng dưới 5% tổng số ca suy thận cấp)

Gồm các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường dẫn niệu:

- Sỏi bể thận, niệu quản.

- U chèn ép, tắc đường bài niệu.

- Nguyên nhân do viêm xơ, chít hẹp: lao thận – tiết niệu, giang mai.

- Xơ hóa sau phúc mạc…

4. Chẩn đoán biến chứng

4.1. Tim mạch

Tình trạng thừa dịch nặng cùng với tăng huyết áp có thể gây phù phổi cấp, suy tim, phù não,… trong giai đoạn thiểu niệu /vô niệu. Trong giai đoạn này cũng thường gặp tình trạng tăng kali máu gây rối loạn nhịp tim, nếu nặng có thể gây ngừng tim. Có thể có tràn dịch màng tim, viêm màng ngoài tim, nhồi máu cơ tim.

4.2. Thần kinh

- Hội chứng tăng urê máu không chỉ gặp trong giai đoạn thiểu niệu /vô niệu mà vẫn có thể thấy ở giai đoạn bệnh nhân đái trở lại hoặc đái nhiều gây rối loạn thần kinh cơ, có thể co giật, hôn mê.

4.3. Tiêu hóa

Viêm loét dạ dày ruột, viêm tụy cấp, xuất huyết đường tiêu hóa đây là một biến chứng rất nặng và làm tăng nguy cơ tử vong.

4.4. Chuyển  hoá

- Bệnh nhân rất dễ bị mất nước và rối loạn điện giải như tăng calci máu, tăng phospho, tăng acid uric, tăng magie máu. Giảm kali, natri máu trong giai đoạn đái nhiều và có thể tử vong nếu không được điều trị đúng và theo dõi chặt chẽ.

- Giảm chuyển hóa insulin, tăng hormon cận giáp và giảm hormon tuyến giáp T3-T4

- Suy dinh dưỡng

4.5. Nhiễm trùng

- Bội nhiễm phổi, đường tiết niệu, vết thương ngoài da, nhiễm khuẩn huyết.

IV. MỘT SỐ THỂ LÂM SÀNG CỦA SUY THẬN CẤP

1. Suy thận cấp trên quan đến quá trình mang thai và sinh đẻ

Các yếu tố tại thận đóng vai trò chủ yếu gây nên tình trạng suy thận cấp bao gồm:

+ Sản giật và tiền sản giật, thiếu máu do mất máu, rau bong non, tắc mạch ối, suy thận sau phá thai…

+ Suy thận cấp sau đẻ có thể do hội chứng tan máu, huyết khối vi mạch và giảm tiểu cầu… Có thể gặp suy thận cấp sau thận do tắc nghẽn niệu quản bởi tử cung to và gây viêm thận bể thận cấp có suy thận cấp.

2. Suy thận cấp trong một số bệnh lý về gan (hội chứng gan thận)

Xảy ra ở các bệnh nhân có bệnh lý gan ở giai đoạn nặng, nguyên nhân được cho là do co mạch và giảm tưới máu thận gây suy thận cấp trước thận. Giảm albumin máu cũng là một yếu tố góp phần làm nặng tình trạng suy thận.

- Một vài trường hợp có thể do mất khối lượng tuần hoàn thực sự do chảy máu đường tiêu hóa, lạm dụng lợi tiểu. Suy thận cấp trong hội chứng gan thận thì nồng độ urê và creatinin máu không phản ánh trung thực mức độ suy thận. Urê và creatinin máu không tăng quá nhiều mặc dù suy thận rất nặng bởi vì có sự giảm sản sinh urê và creatinin.

- Cần phân biệt hội chứng gan thận với tình trạng tổn thương thận do độc chất ở bệnh nhân đã có suy giảm chức năng gan như viêm gan, viêm tổ chức kẽ thận do thuốc hoặc vi khuẩn hoặc các tình trạng viêm mạch có tổn thương gan.

3. Suy thận cấp và các bệnh lý phổi (hội chứng thận phổi)

- Điển hình là hội chứng Goodpasture, bệnh u hạt Weneger và một vài tình trạng viêm mạch khác. Sự có mặt của các kháng thể như: kháng thể kháng màng đáy cầu thận, kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính hoặc giảm bổ thể trong máu giúp chẩn đoán xác định.

- Một vài trường hợp suy thận cấp trước thận có thể gặp ở những bệnh nhân có tăng khối lượng tuần hoàn và phù phổi, hoặc bệnh phổi nặng gây giảm cung lượng tim và gây suy thận cấp trước thận.

4. Suy thận cấp do tiêu cơ vân (Rhabdomyolysis)

- Hay gặp trên lâm sàng, đây là suy thận cấp tại thận do myoglobin. Có tăng cao creatine phosphokinase, phosphate, acid ưric, kali và creatinin máu. Điều đặc trưng ở đây là creatinin máu tăng rất nhanh so với các thể lâm sàng khác của suy thận cấp. Tỷ lệ urê /creatinin máu thường <10 và tăng kali máu thường gặp và xuất hiện sớm.

- Triệu chứng của hạ calci máu cũng rất hay gặp do tình trạng tăng phospho máu và lắng đọng calci ở cơ, calci máu sẽ tăng trở lại ở giai đoạn hồi phục. Về điều trị chú ý khi đã có nước tiểu cần tăng lượng dịch truyền và kiềm hóa nước tiểu nhằm mục đích hòa loãng và làm tăng đào thải sắc tố cơ.

5. Suy thận cấp trong hội chứng thận hư

Một số nguyên nhân gây suy thận cấp trước thận: giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng do dùng lợi tiểu, do albumin máu thấp, do thoát dịch ra ngoài khoảng kẽ gây nên tình trạng cô đặc máu. Do vậy cần bù lại áp lực keo đóng một vai trò quan trọng trong quá trình điều trị suy thận cấp.

- Suy thận cấp tại thận có thể do: biểu hiện của bệnh cầu thận nguyên phát, viêm thận kẽ do thuốc chống viêm non-steroids, rifampin, interferon alfa dùng thuốc nam độc cho thận, do tắc tĩnh, động mạch thận, phù nặng tổ chức kẽ…

- Đa số các trường hợp suy thận cấp trong hội chứng thận hư chức năng thận được phục hồi tốt sau khi điều trị bằng corticoid, lợi tiểu và bù albumin.

V. ĐIỀU TRỊ SUY THẬN CẤP

Để điều trị hiệu quả và đem lại tiên lượng tốt cần chẩn đoán kịp thời suy thận cấp ở giai đoạn còn sớm. Các chỉ số urê và creatinin máu và thể tích nước tiểu đôi khì không phải là dấu hiệu chỉ điểm tốt về tình trạng suy thận cấp, cần chú ý đến các chỉ số về sinh hóa, chuyển hóa và phân tích nước tiểu để chẩn đoán nguyên nhân và phân biệt.

1. Nguyên tắc điều trị

- Nhanh chóng loại bỏ ngay các nguyên nhân có thể gây suy thận (trước thận, sau thận, thuốc): ngừng sử dụng các thuốc độc cho thận hoặc gây dị ứng.

- Cố gắng hồi phục số lượng nước tiểu.

- Điều trị bảo tồn: cân bằng nguồn nước, điện giải, nguồn nitơ (protid, acid amin) vào và ra, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, điều chỉnh thuốc điều trị, theo dõi chặt chẽ bệnh nhân ngăn ngừa và phát hiện xử trí kịp thời các biến chứng.

- Điều trị phù hợp với từng giai đoạn của bệnh, lựa chọn đúng thời điểm và đúng phương pháp điều trị thay thế thận suy hoặc kịp thời chuyển bệnh nhân đến nơi có đủ điều kiện chẩn đoán và điều trị.

2. Điều trị cụ thể

2.1. Suy thận cấp trước thận

- Khi có dấu hiệu mất nước nhất máu cần bù thể tích tuần hoàn (truyền tĩnh mạch NaCl 0,9%; dung dịch keo, plasma, albumin, máu)

- Nếu không thiếu dịch và có nguy cơ tụt HA có thể dùng thuốc vận mạch và chuyển bệnh nhân đến cơ sở có đủ trang bị theo dõi và điều trị các tình trạng sốc.

2.2. Suy thận cấp sau thận

- Loại bỏ tắc nghẽn (phối hợp điều trị triệu chứng): nếu có cầu bàng quang cần đặt ống thông tiểu và tìm nguyên nhân gây tắc đường tiết niệu thấp (tại cổ bàng quang, tuyến tiền liệt, niệu đạo). Trường hợp có tắc đường tiết niệu cao (tại niệu quản, bể thận) cần xem xét chỉ định phẫu thuật (lấy khối u, sỏi) hoặc tán sỏi khi có chỉ định. Có thể phải đặt dẫn lưu bể thận màng quang tạm thời.

- Nếu bệnh nhân đái nhiều sau khi nguyên nhân gây tắc đã được giải quyết gây mất nước điện giải nhiều cần bù nước và điện giải.

2.3. Suy thận cấp tại thận (thực tổn)

Đối với suy thận cấp thực tổn cần điều trị nguyên nhân gây tổn thương thận phối hợp điều trị triệu chứng và hỗ trợ và theo dõi tiến triển của suy thận cấp.

2.3.1. Giai đoạn đái ít vô niệu

Mục đích cơ bản của điều trị trong giai đoạn này là:

- Giảm cân bằng nội môi.

- Hạn chế tăng kali máu.

- Hạn chế tăng nitrơ phi protein máu.

Nước:

- Ở bệnh nhân vô niệu đảm bảo cân bằng âm, nghĩa là vào ít hơn ra.

- Cần lưu ý đến lượng nước mất do nôn, ỉa chảy. Phải tính lượng nước sinh ra do chuyển hóa (vào khoảng 300 ml mỗi ngày). Lượng nước mất qua mồ hôi, hơi thở khoảng 600 ml/ 24giờ.

Lợi tiểu: nhóm furosemid, lợi tiểu quai nhằm đào thải nước và điện giải, đặc biệt là kali, chỉ định khi không có nguyên nhân tắc nghẽn sau thận.

- Liều dùng: phải dò liều, có thể cho 200-500mg/24 giờ hoặc hơn tuỳ vào mức độ đáp ứng bài niệu. Liều khởi đầu thường là 40-80 mg. Liều cao 1000mg/24 giờ có thể được chỉ định. Chú ý về tác dụng gây độc đối với thính giác của dùng liều cao furosemid.

Có thể dùng dopamin liều dùng 1-3mg/kg/phút truyền tĩnh mạch có tác dụng lợi tiểu (tuy nhiên chưa có bằng chứng rõ ràng về tác dụng làm giảm thời gian suy thận).

Khi có tăng kali máu

- Giai đoạn suy thận cấp thực thể phải đảm bảo cân bằng nước điện giải, đặc biệt là tình trạng tăng kali máu. Lựa chọn một hay nhiều biện pháp điều trị hạ kali máu dựa vào mức độ nặng, nhẹ của tình trạng tăng kali máu.

- Hạn chế đưa kali vào: rau quả nhiều kali, thuốc, dịch truyền có kali

- Loại bỏ các ổ hoại tử, chống nhiễm khuẩn.

Các biện pháp có thể điều trị tăng kali máu trong tình huống cấp cứu bao gồm:

- Calci (gluconat hoặc clorua) cần dùng ngay khi có những biểu hiện rối loạn tim mạch nặng (mạch chậm, QRS giãn rộng…) 0,5-2g tiêm TM chậm trong 5-10 phút, tác dụng nhanh nhưng ngắn. Có thể tiêm nhắc lại 30 phút/ lần tiêu dùng phụ thuộc vào nồng độ kali máu.

- Glucose ưu trương (20%, 30%, 50%) 250-500ml kết hợp với Insulin 10 – 20ui truyền TM: bắt đầu tác dụng sau 15 – 30 phút, giảm kali máu 0,5 – 1,5mmol/lít.

- Truyền natribicarbonat: khi có một lượng nước tiểu nhất định (300- 500ml/24giờ) thì việc truyền dịch sẽ dễ dàng hơn: Có thể truyền natri bicarbonat 1,4% hoặc 4,2% hoặc tiêm tĩnh mạch natri bicarbonat 8,4% nếu muốn hạn chế lượng nước đưa vào. Bù natri bicarbonat giúp cải thiện tình trạng toan máu, qua đó ion K không đi từ trong tế bào ra ngoài tế bào. Dùng liều 1mEq/kg, truyền TM chậm (tác dụng rõ trong trường hợp nhiễm toan).

- Resin trao đổi ion uống: polystyrene sulfonate (Kayexalate), Resin calcio, cứ 15g uống phối hợp với sorbitol có thể giảm được 0,5mmol/l. Có thể pha trong dung dịch đẳng trương 100ml thụt hậu môn, tác dụng kém hơn đường uống áp dụng cho một số trường hợp bệnh nhân không có khả năng uống hoặc nôn nhiều. Thuốc sẽ tác dụng sau khoảng 1 giờ.

- Tiếp tục dùng lợi tiểu trong trường hợp bệnh nhân còn đái được, không có tắc đường tiết niệu và không giảm thể tích tuần hoàn

- Lọc máu: thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng khi tăng kali máu dai dẳng không hoặc kém đáp ứng với các biện pháp nêu trên

Điều trị các rối loạn điện giải khác:

- Natri và clo: natri máu hạ do ứ nước. Tốt nhất là hạn chế nước. Khi kali máu hạ nhiều, bệnh nhân có buồn nôn, cần phải bù natri.

- Calci máu: ít khi có hạ calci máu. Nếu có xuất hiện têtani do calci máu thấp thì cho calci gluconat hoặc calci clorua.

Hạn chế tăng nitơ phi protein máu: chủ yếu là hạn chế tăng urê máu:

- Chế độ ăn: giảm đạm 0,4g/kg/24giờ, đủ calo ít nhất 35kcal/kg trọng lượng cơ thể, đủ vitamin.

- Loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn, tránh dùng kháng sinh gây độc cho thận (ví dụ nhóm aminoglycosid), điều chỉnh liều dùng theo mức độ cầu thận cũng như tình trạng nhiễm trùng và đường thải trừ của thuốc.

Điều trị tăng huyết áp:

- Tăng huyết áp thường do thừa thể tích tuần hoàn hoặc do bệnh lý cầu thận: kết hợp lọc máu, lợi tiểu với các nhóm thuốc hạ áp. Khi dùng các nhóm thuốc hạ áp, chú ý chọn lựa tuỳ theo nguyên nhân suy thận.

- Khi có tăng kali máu không dùng các thuốc nhóm ức chế men chuyển, các tác nhân kháng thụ thể angiotensin và các thuốc chẹn bêta giao cảm, vì các thuốc này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tăng kali máu.

Chỉ định lọc máu:

Cần chỉ định lọc máu sớm khi có một trong các dấu hiệu sau:

- Tăng kali máu dai dẳng không giảm bằng các biện pháp điều trị nội khoa hoặc kali máu > 6,5mmol/l.

- Có toan chuyển hóa nặng không cải thiện bằng các phương pháp kiềm hóa.

- Thừa dịch (hypervolemia) đe dọa các biến chứng tim mạch.

- Có những biểu hiện não (encelophathy) như rối loạn tâm thần do hội chứng urê máu cao, viêm ngoại tâm mạc.

2.3.2. Xử trí trong giai đoạn đái trở lại

- Ở giai đoạn này, tuy đái nhiều nhưng chức năng thận chưa hồi phục. Những ngày đầu đái nhiều urê và creatinin máu vẫn còn tăng. Đái nhiều có thể gây mất nước, mất điện giải.

- Cần tiếp tục hạn chế protid trong thức ăn, chỉ tăng protid khi urê máu đã giảm tới mức an toàn (< 10 mmol/1). Chỉ cho rau quả khi không còn nguy cơ tăng kali máu.

- Truyền dịch hoặc uống để chống mất nước và mất điện giải.

+ Trong những trường hợp đái nhiều vừa phải, chỉ cần bù bằng uống oresol (2-2,51/24 giờ).

+ Khi nước tiểu >3 lít, nên bù bằng đường truyền tĩnh mạch. Lượng truyền tuỳ theo lượng nước tiểu.

+ Tuy nhiên nếu sau 5-7 ngày vẫn đái nhiều nên hạn chế lượng dịch truyền và theo dõi tình trạng bệnh nhân, lượng nước tiểu 24 giờ để có thái độ bù dịch thích hợp vì thận đã có thể bắt đầu hồi phục chức năng cô đặc.

- Cần theo dõi sát điện giải máu, đặc biệt là natri và kali máu.

2.3.3. Xử trí trong giai đoạn phục hồi

- Sức khỏe bệnh nhân được phục hồi dần. Khi urê máu trở về bình thường thì cần tăng protid trong khẩu phần ăn và đảm bảo đủ calo và vitamin.

- Cần chú ý tới công tác chăm sóc điều dưỡng ngay từ đầu để chống loét, chống bội nhiễm do nằm lâu. Trung bình sau 4 tuần điều trị thì chức năng thận bắt đầu phục hồi tốt và bệnh nhân có thể xuất viện.

- Theo dõi định kỳ hàng tháng cho đến khi chức năng thận hồi phục hoàn toàn. Đối với các bệnh có thể trở thành mạn tính (bệnh cầu thận, bệnh kẽ thận do thuốc hay nhiễm trùng) cần khám định kỳ cho bệnh nhân lâu dài.

- Tiếp tục điều trị nguyên nhân: tắc nghẽn, bệnh cầu thận nguyên phát, bệnh hệ thống (lupus, myelome…)

3. Các phương pháp điều trị thay thế thận trong suy thận cấp

- Các kỹ thuật lọc máu liên tục dùng để loại bỏ dịch và các độc chất hoà tan, nhất là những bệnh nhân suy thận cấp do ngộ độc mà có tình trạng huyết động không ổn định, tăng dị hóa nhiều.

- Lọc máu ngắt quãng hàng ngày có thể sử dụng thay thế cho lọc máu liên tục đối với các bệnh nhân tăng dị hóa có tình trạng huyết động tương đối ổn định.

- Lọc máu ngắt quãng thường quy có tác dụng loại bỏ dịch và các độc chất hoà tan, được chỉ định cho những bệnh nhân không có tình trạng rối loạn về huyết động và giúp chuẩn bị cho các phẫu thuật giải quyết nguyên nhân suy thận cấp sau thận.

- Lọc màng bụng cấp có thể áp dụng cho các trường hợp suy thận cấp do ngộ độc, có tình trạng huyết động không ổn định, suy tim nặng, và nhất là áp dụng cho các cơ sở không có điều kiện lọc máu.

- Siêu lọc chậm có thể áp dụng cho các bệnh nhân có tình trạng thừa dịch là chủ yếu mà không có rối loạn về chuyển hóa nhiều.

- Lọc huyết tương (Plasma exchange) áp dụng cho các bệnh nhân có nhiễm trùng, nhiễm độc, hoặc một số bệnh tự miễn gây nên suy thận cấp, có tác dụng loại bỏ các phức hợp kháng nguyên kháng thể, các kháng thể lưu hành trong máu, các cytokin và các chất trung gian hóa học.

4. Dinh dưỡng cho bệnh nhân suy thận cấp

- Ưu tiên dinh dưỡng đường miệng nếu bệnh nhân có thể tự ăn và uống được hoặc bệnh nhân không có tình trạng nôn nhiều. Tùy theo từng trường hợp cụ thể và ở từng giai đoạn của suy thận cấp sẽ áp dụng chế độ ăn khác nhau. Tuy nhiên cần cung cấp một chế độ ăn như sau:

- Hạn chế lượng muối đưa vào nên hạn chế ở mức 2 – 4g Na/ngày bao gồm cả lượng muối trong dịch truyền.

- Cung cấp đủ năng lượng: 30 – 50 Kcal/kg/ngày

- Hạn chế tối đa lượng kali thường < 40 mEq/ngày

- Protein < 0,6g/kg/ngày

- Lipid 2 – 2,5g /kg/ngày

- Carbonhydrate: 100g/ngày

- Trong trường hợp lọc máu thì không cần phải hạn chế dinh dưỡng, đặc biệt khi áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục

VI. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA THẬN SAU SUY THẬN CẤP

Tổn thương của cầu thận, ống kẽ thận phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân gây suy thận cấp và xử trí, các tổn thương về cấu trúc và chức năng có thể bao gồm:

1. Những thay đổi của cầu thận

- Dày màng đáy mao quản cầu thận

- Cầu thận có thể bị hyaline hóa hoặc xơ hóa

- Giảm mức lọc cầu thận

- Tăng lọc ở cầu thận bởi các cầu thận lành

- Giảm độ thanh thải inulin

- Tăng nồng độ creatinin máu

- Giảm độ thanh thải urê

- Tăng phân số lọc

2. Những thay đổi của ống- kẽ thận

- Teo ống thận

- Xơ hóa kẽ thận

- Giảm bài tiết phenolsulfonphtalein

- Giảm khả năng cô đặc nước tiểu

3. Một vài biến đổi khác

- Protein niệu kéo dài

- Giảm kích thước thận

- Suy thận cấp tiếp tục tiến triển nặng hơn

- Tiến triển đến suy thận mạn tính trong một số ít trường hợp

VII. TIÊN LƯỢNG

Từ những năm 1960 đến nay, tiên lượng đã có nhiều thay đổi tốt hơn, nhờ có sự đóng góp của các kỹ thuật hồi sức hiện đại. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong còn cao, ở những trung tâm có lọc máu bằng thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng, tỷ lệ tử vong vẫn còn 20 – 40%, tuỳ theo từng nhóm bệnh nhân. Đối với những bệnh nhân suy thận cấp sau mổ lớn, chấn thương nặng, bỏng nặng, nhiễm trùng tử cung sau đẻ, ngộ độc kali loại nặng, tiên lượng rất xấu.

Nguyên nhân gây tử vong có thể do bệnh chính, do nhiễm khuẩn, hội chứng urê máu cao, kali máu cao. Tiên lượng còn phụ thuộc vào bệnh chính, kỹ thuật hồi sức, công tác hộ lý và các biện pháp đề phòng bội nhiễm nhất là bội nhiễm phổi và nhiễm khuẩn từ các vết thương, vết loét.

VIII. DỰ PHÒNG

- Hạn chế tối đa việc sử dụng các thuốc có thể gây độc cho thận, điều chỉnh liều lượng căn cứ vào mức lọc cầu thận

- Duy trì đủ thể tích tuần hoàn, gây tăng bài niệu trong một số trường hợp cụ thể (như phẫu thuật tim, chấn thương nặng, tiêu cơ vân, tan máu trong mạch, dùng các thuốc cản quang nhất là cản quang đường tĩnh mạch…).

- Hồi sức tích cực cho các bệnh nhâm chấn thương, bù đủ dịch sớm để đề phòng suy thận cấp trước thận.

- Giải quyết ngay các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường dẫn niệu khi được phát hiện nhằm ngăn ngừa biến chứng suy thận cấp.

IX. KẾT LUẬN

- Suy thận cấp là một hội chứng nặng nhưng có thể hồi phục. Cần phát hiện sớm suy thận cấp cũng như nguyên nhân gây suy thận cấp.

- Chẩn đoán chủ yếu dựa vào đái ít vô niệu, urê máu, kali máu tăng cao dần.

- Theo dõi lượng nước tiểu liên tục hàng giờ và các diễn biến lâm sàng và xét nghiệm khác phải đánh giá hàng ngày thậm chí hàng giờ như: creatinin, urê, kali máu, tình trạng thăng bằng kiềm toan.

- Xử trí phải tuỳ theo nguyên nhân và giai đoạn, theo dõi và xử trí kịp thời các biến loạn trên bệnh nhân có thể được cứu sống hoàn toàn.

- Những trường hợp urê, kali tăng ít và đáp ứng với điều trị thì không cần lọc máu. Nếu urê máu tăng nhanh, kali máu cao hoặc có các biến chứng nặng khác thì cần lọc máu kịp thời nhằm đưa bệnh nhân nhanh chóng khỏi tình trạng nguy kịch góp phần giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân suy thận cấp.