Hiển thị các bài đăng có nhãn an toàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn an toàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Thực tế, da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Vì vậy, da cũng là nơi chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài như: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… các yếu tố này kích thích cơ thể sản sinh ra các chất độc hại làm cho da bị sạm, khô, teo và dần xuất hiện các nếp nhăn và các đốm nâu đen.

Nguyên nhân và dấu hiệu lão hóa da

Kết quả từ nhiều cuộc nghiên cứu cho biết, có đến 90% nguyên nhân của lão hóa da là do ánh nắng mặt trời và chỉ có 10% là do di truyền. Về cơ bản, lão hóa da được hình thành từ 2 nhóm nguyên nhân sau:

Nhóm nguyên nhân nội sinh (lão hóa da nội sinh): là hiện tượng da già đi theo thời gian. Càng lớn tuổi các sợi collagen sẽ mất dần, các sợi đàn hồi (elastin) thượng bì bị teo mỏng đi, quá trình sản sinh tế bào bị giảm xuống. Da trở nên mỏng, mất tính đàn hồi, chùng nhão và nếp nhăn sâu xuất hiện.

Nhóm nguyên nhân ngoại sinh (lão hóa da ngoại sinh): do tác động của những yếu tố bên ngoài như: ánh nắng mặt trời, ô nhiễm môi trường, hóa chất, khói thuốc … Da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường và chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… Dưới những tác nhân này, các sợi collagen và elastin bị thoái hóa, bề dày của da thay đổi, tế bào hắc tố ở thượng bì giảm, xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ. Da có màu vàng sậm, nhiều nếp nhăn nhỏ, đồng thời những vùng da phơi bày ra ngoài ánh nắng như: mặt, vùng ngoài cánh tay, bàn tay sẽ có sự tăng giảm sắc tố. Đây là những dấu hiệu cho biết làn da đang “xuống cấp”. Sự xuống cấp này báo hiệu tình trạng lão hóa sắp sửa tấn công vào làn da. Tuy nhiên, những thay đổi trên da trong quá trình lão hóa rất đa dạng và ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những dấu hiệu lão hóa đặc trưng. Không chỉ là sự rối loạn sắc tố da điển hình như sự xuất hiện của những bướu lành trên da (nốt ruồi son, đồi mồi, những đốm nâu, đen hay xám, sần sùi, bong vảy…), mà còn là những biểu hiện rõ ràng, cụ thể ở từng độ tuổi.

Độ tuổi lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Giai đoạn và độ tuổi lão hóa thường không giống nhau với mỗi người. Làn da có thể có nguy cơ bị lão hóa bất cứ lúc nào nếu không được chăm sóc hợp lý. Ở một số người, đặc biệt, những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng và da không được bảo vệ, làn da có thể bắt đầu lão hóa ngay từ năm 20 tuổi trở đi, nhưng những dấu hiệu này chưa bộc lộ rõ rệt và thường khó nhận biết.

Tuy nhiên theo thống kê, hiện nay tình trạng lão hóa da thường xuất hiện nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 35. Nguyên nhân tình trạng lão hóa da ở phụ nữ lứa tuổi này là do sự mất cân bằng của một số hormone, khiến khả năng tự phục hồi của cơ thể bị suy yếu, lượng tế bào mỡ dưới da cũng như các sợi đàn hồi giảm đi làm làn da trở nên mỏng, khô, các cơ dần dần bị nhão, chảy xệ. Các tế bào da ở người trưởng thành ngày càng kém phân chia, nên da dễ bị khô, dễ bị bầm, tụ máu, các chức năng của da cũng giảm sút rõ rệt. Đây là thời điểm sức đề kháng của da bị giảm sút đáng kể nên dễ bị tác động từ những thay đổi bên trong cơ thể và những ảnh hưởng từ môi trường nhất.

Ở độ tuổi 30: da giảm độ căng mịn, lỗ chân lông to ra và thậm chí xuất hiện vài nếp nhăn.

Ở độ tuổi 40: những nếp nhăn đã hình thành từ tuổi 30 sẽ hằn sâu hơn, lộ rõ và nhiều nếp nhăn trên trán. Dấu “chân chim” nơi khóe mắt cũng bắt đầu xuất hiện, da xỉn, ít sức sống.

Ở độ tuổi 50, 60: nếp nhăn sẽ chằng chịt nhiều hơn, da khô và thô ráp hơn.

Để khắc phục và hạn chế tình trạng lão hóa da

Bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời: tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Sử dụng kem chống nắng có chỉ số chống nắng SPF từ 15 trở lên khi ra đường vào ban ngày, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang, găng tay…

Nuôi dưỡng da: thường xuyên dưỡng ẩm, bổ sung dưỡng chất cho da bằng các loại kem chống lão hóa vào ban đêm có thành phần chiết xuất từ trái cây, mía đường… Ngoài ra, có thể uống các loại thuốc như: vitamin A, E, C… để bổ sung chất và cải thiện làn da từ bên trong.

Tập thể dục thể thao, massage da mặt và cơ thể: giúp tinh thần thoải mái để có làn da hồng hào và săn chắc.

Cung cấp oxy nguyên chất cho da: cung cấp đủ lượng oxy nguyên chất và dinh dưỡng cho da sẽ tăng cường khả năng đề kháng của da, trước các tác động tiêu cực của môi trường và cả những thay đổi bất lợi về nội tiết bên trong cơ thể.

Ngoài ra, còn có một phương pháp can thiệp mang lại hiệu quả tức thời cho làn da như: căng da mặt, chích botox, đốt laser… Tuy nhiên, những phương pháp này khá tốn kém và dễ để lại những biến chứng như: sẹo, cơ mặt không biểu cảm, kích ứng da.

(Theo: suckhoedoisong.vn)

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bệnh tổ đỉa

Bệnh tổ đỉa

1.Chẩn đoán:

- Vị trí: 2 lông bàn tay, lông bàn chân (đầu ngón, mặt dưới, mặt dưới ngón, ria ngón, vòm lòng bàn tay, ô mô cái, ô mô út, vòm lông bàn chân0.

- Tổn thương cơ bản:

Mụn nước sâu, chìm dưới da, như khảm vào da, kích thước 1-2 mm, không tự vỡ.

Mụn nước phân bố rải rác hay thành đmá cụm.

Triệu chứng cơ năng:

- Ngứa nhiều:

- Hay tái phát, thường tái phát vào mùa hè.

- Do ngứa chọc gãi làm xuất hiện mụn mủ, vết chợt, bàn tay chân có khó sưng táy nhiễm khuẩn thứ phát, hạch nách, bẹn sưng ( tổ đỉa nhiễm khuẩn).

2. Thể lâm sàng

- Tổ đỉa thể giản đơn: tổn thương là mụn nước sâu ở vị trí trên.

- Tổ đỉa nhiễm khuẩn: có mụn mủ, chợt loét, sưng viêm tấy.

- Tổ đỉa thể khô: lòng bàn tay chân có đảm đỏ róc vẩy.

3. Chẩn đoán phân biệt

+ Ghẻ:

Vị trí kẽ ngón tay, ngấn cổ tay.

Tổn thương là mụn nước đường hang.

Nhể khêu bắt được cái ghẻ.

Ngứa nhiều về đêm.

Có tính chất lây lan.

+ Eczema bàn tay, bàn chân:

Vị trí thường ở mặt lưng (mu) bàn tay chân.

Đám đỏ, nên có mụn nước nhỏ, nông chi chít, tự vỡ.

Đám tổn thương chợt chảy dịch.

Lâu ngày liken hoá dày cộm.

(tổ đỉa không bào giờ liken hoá).

4. Điều trị

- Tại chỗ:

+ Mụn nước đơn thuần bôi cồn focmolsalicylic 3%.

Mụn mủ, chột bôi thuốc màu(dd tím Metin 1% , dd xanh metilen 1%).

Khi tổn thương khô bỗi mỡ corticoids (Flucinar, synalar)

Toàn thân:

- Nếu có bội nhiễm cho uống một đợt kháng sinh.

- Kháng sinh Histamin tổng hợp: Histalong 10 mg /1 viên /ngày.

- Vitamin c 0,50 2 viên/ ngày hoặc ascorvit 500mg 2ống/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

- Đông y : xông khói thương truật 5 phút ( bàn tay, bàn chân).

Chú ý: Giữa bàn tay bàn chân khô sạch.

Hạn chế xà phòng.

Trách nhiệm ngâm nước nhiều, bẩn, phân gio đất cát.

- Một số trường hợp tổ đỉa căn nguyên do nấm thì cho dùng kháng sinh chống nấm Griseofulvin 0,502 viên / ngày x 30ngày.

- Tổ đỉa là bệnh dị ứng, cơ thể địa dị ứng, tác nhân kích thích là vi khuẩn ( tụ cầu, liên cầu) : hoá chất; một số trường hợp là nấm.

Theo benhhoc.com

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Những ngày qua, khí hậu các tỉnh phía Bắc trở rét, hanh khô kéo dài khiến nhiều người có biểu hiện da khô ráp, nổi sẩn và ngứa.

Bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Da liễu Quốc gia cho hay, một ngày khoa tiếp nhận trên 15 bệnh nhân đến khám liên quan đến bệnh mày đay – một bệnh thường xảy ra vào những ngày mùa đông hanh khô.

Trên thực tế số người mắc các bệnh về da vào mùa đông rất cao nhưng không phải ai cũng đến viện khám. Đây là bệnh do thời tiết nên có thể tự điều trị tại nhà.

Ngứa khắp người, gãi xước da

”Mỗi lần tắm xong, mặc quần áo vào, nhất là đồ len dạ, cảm giác người nóng ran và ngứa khắp người, những lúc đó chỉ còn cách dùng kem dưỡng ẩm bôi lên mới hy vọng dứt cơn ngứa…”, chị Mai Dung, ở Hoàng Mai, Hà Nội đang ”say sưa” kể về nỗi khổ của mình với đồng nghiệp.

Hoá ra nỗi khổ đó không chỉ riêng của chị Dung mà nhiều người cũng bị trong những ngày qua. Người thì ngứa ở lưng, ở tay, ở chân… thậm chí cả mông.

Còn bàn tay của chị Hương, chủ cửa hàng làm đầu Thu Hương trên phố Cầu Giấy, Hà Nội mấy hôm nay đỏ tấy, khô ráp và ngứa. Công việc hàng ngày đòi hỏi chị phải tiếp xúc nhiều với hoá chất như dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc, hấp tóc… khiến đôi bàn tay bị ”xâm hại”. ”Sử dụng găng tay thì không thật và làm rất chậm nhưng bỏ ra thì bàn tay nứt nẻ hết. Ban ngày động nước nhiều còn đỡ nhưng tối đến nó khô hết lại cảm giác rát bỏng và ngứa hành hạ rất khó chịu. Kem dưỡng ẩm bôi không đỡ vì thời tiết này khô hanh quá lại tiếp xúc với hoá chất quá nhiều”, chị Hương nói.

Tất cả đều có chung biểu hiện lúc đầu là khô da rồi dần dần căng ra gây ngứa. Nếu cố chịu đựng không gãi, sử dụng kem dưỡng ẩm sẽ đỡ. Nhưng khi đã gãi thì vết mẩn đỏ càng lan và gây khó chịu. Tuy nhiên, khi thời tiết ấm, đỡ hanh khô thì tình trạng trên sẽ tự hết.

BS. Nguyễn Thành cho hay, đây là bệnh rất nhiều người mắc phải vào mùa đông, nhất là thời điểm hanh khô. Những bệnh nhân có cơ địa da khô càng dễ phát. Phản ứng của người bệnh khi bị khô da là ngứa, gãi gây xước da.

Cách chữa đơn giản và hiệu quả nhất mà mọi người thường áp dụng là hạn chế sử dụng nước quá nóng, tiếp xúc với hoá chất, đặc biệt nên sử dụng kem dưỡng ẩm.

Khô ráp da còn do bệnh mày đay

Theo BS. Nguyễn Thành, một trong những nguyên nhân bệnh mày đay gia tăng những ngày qua do biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn.

Người bệnh thường có biểu hiện da đỏ, xuất hiện phù nề nhanh nhưng cũng mất nhanh phụ thuộc vào khả năng điều trị.

Bệnh mày đay có 2 thể: cấp tính và mạn tính.

Mày đay cấp tính xảy ra đột ngột và xuất hiện ở bất kỳ vùng da, niêm mạc nào trên cơ thể, biểu hiện các nốt sẩn, phù nề màu hồng hoặc đỏ. Ngứa là triệu chứng điển hình nhất của mày đay. Ngứa rất dữ dội, càng gãi càng ngứa. Có khi gãi chảy máu vẫn không đỡ ngứa. Nốt sẩn ngứa kéo dài vài ba phút đến vài ba giờ rồi lặn. Bệnh có thể biểu hiện ở đường tiêu hóa gây đau quặn bụng, nôn, tiêu chảy, thậm chí xảy ra ở tổ chức não gây phù nề rất nguy hiểm.

Mày đay mạn tính xảy ra khi bệnh xuất hiện kế tiếp nhau nhiều lần hoặc cách quãng, không kể số lượng nốt sẩn nhiều hay ít. Mày đay mạn tính gặp ở nhiều dạng khác nhau như: mày đay thành vòng, thành vạch, mày đay xuất huyết, mày đay mụn nước.

Trong tuần này, khoa khám bệnh đã điều trị cho một bệnh nhân N.T.P. 35 tuổi, ở Hà Nội mắc mày đay mạn tính. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau bụng, nôn. Các cơn đau không liên tục mà theo từng đợt. Sau khi khám và cho thuốc uống thể trạng bệnh nhân đã khá hơn và được xuất viện ngay trong ngày.

BS. Nguyễn Thành cho hay, trường hợp như bệnh nhân này không phải ai cũng gặp. Tuy nhiên, khi bị bệnh mày đay, nên đến khám bác sĩ để được xác định nguyên nhân và có chỉ định thích hợp cho từng loại mày đay.

Những ngày này, khi độ ẩm xuống thấp, thời tiết hanh khô gây khó chịu cho làn da.

BS. Nguyễn Thành có lời khuyên với mọi người, nếu phải ra đường nên dùng khẩu trang, mũ và sử dụng kem dưỡng da trước khi ra đường 1 tiếng đồng hồ. Khi thấy da khô vùng nào có thể dùng kem bôi lên chỗ đó. Nếu người nào có da nhạy cảm không nên tiếp xúc nhiều với hoá chất, nếu buộc phải dùng nên đi găng tay. Với những trường hợp nặng, nên đến khám bác sĩ khi có biểu hiện ngứa.

Theo vietnamnet.vn

Ngứa da trong mùa lạnh

Ngứa da trong mùa lạnh

Càng gãi càng ngứa. Gãi tới sần sùi, gãi rách da, chảy máu, ít ngày sau đóng vẩy hay làm mủ và lây sang chỗ da lành chung quanh. Mất ngủ vì gãi ngứa ban đêm. Sáng dậy mệt mỏi; tới sở làm ngủ gục; gây tai nạn trên đường. Da dẻ đang mịn màng hóa mốc meo, khô sượng; mắc cở bị bắt gặp “gẩy đờn” ngay tại đám đông… Trên đây là một vài trong những khó chịu do Chứng Ngứa Ngoài Da gây ra.

Nếu da ngứa bắt đầu từ “mùa lạnh”, thì 90% hy vọng có thể dập tắt với những cách chữa trị đơn giản, ít tốn tiền.

Chức năng sinh học của da

Da giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng:

· Da che chở chống xâm nhập của vi-sinh-vật gây bịnh, nhờ cấu trúc và các chất acid hữu cơ do da tiết ra.

· Da bài tiết mồ hôi, thải các chất biến dưỡng dư thừa, tương tự như sự bài tiết nước tiểu tiến hành trong thận.

· Da “thở” giúp mất bớt nước. Da điều chỉnh thân nhiệt qua hệ thống các mạch máu và thần kinh ở da.

· Da làm dịu những bực tức, buồn phiền trong cuộc sống xã hội.

· Da góp phần biểu lộ niềm vui, tiếp nhận dẫn truyền cảm giác săn sóc, vuốt ve, đem cảm quan hạnh phúc cho con người trong đời sống.

· Da báo cho óc biết nguy cơ đe dọa hóa học (acid, chua, mặn) hay vật-lý (phỏng lửa, gai nhọn, mồi thuốc lá đang cháy, dẫn lối trong đêm tránh vấp té) tàn phá sự vẹn toàn của cơ thể.

Ngoài những hữu dụng kể trên, da còn nhiều chức năng khác nữa.

Khi da dở chứng

Da tiết ra những chất acid hữu cơ (organic acids, trong đó có oleanic acid, một acid hữu cơ quan trọng) lẫn trong mồ hôi. Những acid hữu cơ này giữ cho da nhờn, giúp da mềm, bền bỉ, chống sự xâm nhập của vi-sinh-vật như vi-khuẩn, nấm, ký-sinh-trùng, bụi bậm chứa độc tố, v.v… không chui nổi qua da mà vô người chúng ta.

Mùa lạnh vì không khí khô, nhà đốt máy sưởi, đôi khi có thêm một vài bịnh khác nữa (chẳng hạn dị ứng, suy-giáp-trạng-tuyến)…, nên làm da bốc hơi mau và khô. Bao lâu các chất acid hữu cơ do da tiết ra vẫn còn đủ để giữ cho da trơn, mềm, nhờn và toàn vẹn thì chúng ta còn ăn ngon ngủ yên. Song tới một mức độ lạnh và khô nào đó, nhất là những người mới tới chưa quen chịu lạnh, lại hốt hoảng, mất bình tĩnh, tự tay “bẻ gẫy” cơ-năng bảo vệ an toàn của da, sẽ mở màn cho da ngứa.

Khi cơ năng điều chỉnh chạm giới hạn an toàn của cơ-thể, da không căng dãn thêm, không tiết thêm được mồ hôi thì cơ-thể bắt đầu đầu hàng “kẻ thù”. Lớp da ngoài cùng (biểu bì, epiderm) ngày càng mỏng, mất đàn hồi và nứt nẻ. Sự rạn nứt ở da được báo về hệ-thần-kinh. Trung-tâm thần-kinh bèn đối phó điều chỉnh lại bằng một “huấn lệnh” gãi để giải tỏa nạn ngứa. Gãi cho đã ngứa, nhưng gãi làm da rách thêm. Da rách thêm, tín hiệu báo về não bộ là “ngứa thêm”. Cứ thế mà gãi, càng gãi lại càng ngứa. Gãi lên gãi xuống, nên dân gian mới đặt tên tật hay gãi là “gẩy đờn”. Đờn gẩy rách da, mở cửa cho vi-sinh-vật xâm nhập. Da mưng mủ, có khi nóng sốt, tính tình bẳn gắt, quơ quào tìm thuốc chữa. Càng uống thuốc ngứa mua ngoài tiệm càng làm da khô, ngứa càng hung, gãi càng mạnh.

Vòng lẩn quẩn tái diễn tồi tệ. Rồi chứng ngứa da có thể đưa dẫn tới bịnh khác ngoài da.

Chữa và tránh chứng ngứa da trong mùa lạnh

1. Giữ cho da nhờn, bằng cách mặc ấm, giữ hơi nước da “thở” ra ở lại dưới áo, giúp da ẩm và mềm.

2. Tránh nước nóng vào mùa lạnh: trước khi tắm, lấy tay thử nước, đủ ấm là được. Đừng xài nước nóng quá trong mùa lạnh. Mùa hè, muốn nóng bao nhiêu xài mặc sức.

3. Chỉ xát xà-bông vô những nơi thật cần xà-bông, chỗ phải có xà-bông mới sạch và hết mùi hôi. Ngoài ra, tránh xà-bông trên mặt ngoài như vai, đùi, bụng, lưng, tay chân, v.v…

4. Lựa loại xà-bông mềm và yếu. Tránh các hiệu xà-bông cứng và mạnh cho mùa lạnh. Mùa hè, xà-bông khô, mạnh; nước nóng bao nhiêu tùy thích.

5. Từ phòng tắm bước ra chớ vội lau khô. Mua sẵn dầu paraffin (vaseline bất cứ hiệu gì) đổ vô lòng bàn tay, thoa đều thật nhiều khắp người. Mặc áo lại cho ấm và kín.

6. Trong ngày, hạn chế tối thiểu số lần rửa tay chân bằng nước nóng và xà-bông. Cực chẳng đã hãy xài nước nóng và xà-bông. Rửa xong, tay còn ướt nước, thoa một lớp mỏng emolient lotion hay cream (bất cứ hiệu nào loại nào dễ mua). Xong, giữ da ấm và kín, tránh khô.

7. Ngủ cho đủ giờ. Ăn cho đủ no và ngon, thoải mái với các đồ ăn thịt, cá, mè, đậu phọng tùy sở thích và nhu-cầu. Cần đưa cả nhà thoát ra khỏi lối suy nghĩ sai lầm gán tội “phong hay nhiệt” cho đồ biển tôm, cá, bò, gà. Lối suy nghĩ nhảm nhí đó làm cho dân tộc ta không ngẩng mặt nổi với đời mấy ngàn năm qua.

8. Tránh các thứ thuốc ngứa xưa nay người xứ nóng thường xài theo thói quen. Các loại thuốc chống ngứa, chống dị ứng (anti-allergics, anti-histaminics) như phenergan, benadryl làm cho da đã khô càng thêm khô, dễ nứt ra, và ngứa hơn nữa.

9. Cực chẳng đã ban đêm ngứa quá, thì xài tạm những thuốc chống ngứa sẵn có ở nhà, trong lúc chờ điều chỉnh, sửa chữa những cố tật gây khô, nứt da khiến da ngứa mùa lạnh.

Chín bước trên đây giúp chữa và tránh ngứa da trong mùa lạnh. Ít khi ta cần đi khám bác sĩ.

Bạn thực hành ngay ngày hôm nay đi. Hiệu quả sẽ chứng nghiệm trong vòng vài ba ngày tới.

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Rất nhiều thuốc (như chống đông máu, ức chế u, trị Parkinson, chống động kinh…) có thể gây rụng tóc. Vì vậy, để chẩn đoán nguyên nhân, bác sĩ thường tìm hiểu xem trước đó bệnh nhân có uống thuốc gì không .

Bệnh rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Nó có thể xuất hiện sau khi bị ốm nặng (sốt rét, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết…), sau sẩy thai, sinh đẻ, sau chấn thương lớn, mất máu. Thường tóc thưa đều, hơi khô, xơ xác, khi cơ thể hồi phục nó sẽ mọc lại.

Các yếu tố cơ lý hóa (uốn tóc bằng lược, sức nóng, nhuộm, uốn tóc bằng hóa chất, chải tóc quá nhiều bằng lược cứng, căng kéo xoắn bện quá chặt…) cũng làm sợi tóc bị biến dạng, gãy rụng.

Trong rụng tóc pelade, vùng da đầu có một hay nhiều đám rụng tóc hình tròn, đường kính vài cm, da nhẵn trắng trông giống như sẹo, có khi các đám liên kết thành dải, vằn vèo “thể rắn bò”, một số trường hợp có thể rụng nhẵn toàn bộ da đầu, thậm chí rụng cả lông mày, lông nách, lông mi. Loại này thường liên quan yếu tố căng thẳng thần kinh.

Rụng tóc do nấm (chủng microsporum, trichophyton) khá phổ biến, thường gặp ở trẻ em lứa tuổi học đường, lây từ người sang người do dùng chung lược, mũ hoặc lây từ súc vật (chó, mèo) sang người do ôm, bế. Biểu hiện là da đầu có đám mảng viêm đỏ, có vảy trắng, tóc bị phạt gãy, chân tóc còn lại cách da đầu từ vài mm đến 1-2 cm hoặc chỉ còn chấm đen, có khi chân tóc được bao bởi lớp vảy trắng như bị “nhúng trong bột”. Có thể xác định bằng soi nấm, cấy nấm, điều trị bằng bôi kem nizoral, uống ketoconazol.

Bệnh rụng tóc da dầu (còn gọi rụng tóc liên quan androgen hay chứng hói tiến triển) thường do di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu, làm nang tóc giảm kích thước, dần dần teo và rụng. Loại này gặp ở nam nhiều hơn nữ, nam 30-40 tuổi trở lên, nữ xuất hiện muộn hơn (40% bị ở tuổi 60-70). Đầu tiên, tóc rụng thưa dần ở phía trước trán, tạo thành hình lượn sóng chữ M, sau rụng đến vùng giữa đỉnh đầu và dần dần hói hoàn toàn phía trên (trán và đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương hai bên và gáy vẫn còn tóc. Điều trị bằng xịt dung dịch minoxidil và tốt nhất là cấy tóc (hair transplantation). Lấy từng khóm tóc nhỏ vùng thái dương, gáy chẩm của người đó cấy lên vùng rụng tóc.

Rụng tóc do tật nhổ tóc hay gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam. Họ thường nhổ tóc vùng trán phía trước và hai bên thái dương làm tóc nham nhở không đều, chỗ mọc tốt xen kẽ chỗ thưa. Có khi bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, có cảm giác thúc giục không thể cưỡng lại và chỉ nhẹ nhõm sau khi nhổ tóc.

Người bị giang mai giai đoạn 2 (3 tháng sau khi nhiễm bệnh trở đi) cũng bị rụng tóc kiểu “rừng thưa”, tóc rụng nham nhở không đều hai bên thái dương như gián nhấm. Điều trị khỏi bệnh giang mai, tóc sẽ mọc lại.

Bệnh rụng tóc chuỗi hạt (monilethrix) liên quan đến yếu tố di truyền, gặp cả ở nam và nữ, thường xuất hiện từ nhỏ hoặc tuổi thiếu niên. Thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày phình to ra một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc, tóc bị gãy đứt đoạn. Da dầu, tóc thưa bị gãy, rụng trông như hói, da đầu phủ đầy tóc ngắn, dày sừng nang lông nên trông xù xì, thô ráp.

Rụng tóc còn là hậu quả của các bệnh da khác có đám tổn thương ở đầu. Các tổn thương này có quá trình viêm, tạo mủ, tạo sẹo, teo da… gây nên rụng tóc vùng đó, như lupút đỏ mạn dạng đĩa, viêm nang lông trụi tóc, nấm tóc loại kerion, xơ cứng bì khu trú, bệnh muxin nang lông, ung thư tế bào đáy…

Rụng tóc do nhiều nguyên nhân gây nên. Do đó, khi bị rụng tóc, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để xác định thể bệnh và có cách điều trị đúng đắn nhất.

BS Bùi Khánh Duy, Sức Khỏe & Đời Sống

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Tóc đen có nguy cơ ung thư da cao

Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa tìm thấy loại gien làm tăng nguy cơ ung thư da ở những người có màu tóc đen lên gấp đôi trong khi những người tóc vàng hay đỏ không hề bị ảnh hưởng.

Trưởng nhóm nghiên cứu, TS Peter Kanetsky, ĐH Pennsylvania, cho biết: “Theo truyền thống, làn da của những người có màu tóc đen không dễ bị cháy nắng và vì thế họ được phân vào nhóm ít có nguy cơ ung thư da. Nhưng nghiên cứu sâu cho thấy điều này không đúng”.

Nhóm nghiên cứu của TS Kanetsky đã so sánh AND của 779 bệnh nhân ung thư da với 325 người khỏe mạnh. Kết quả là những người mang gien MC1R sẽ có nguy cơ ung thư da sắc tố cao gấp đôi. Nhưng nguy cơ sẽ lớn hơn nữa đối với những bệnh nhân mà làn da không dễ bị tổn thương bởi ánh nắng mặt trời.

Và những người thích tắm nắng mang gien này sẽ có màu da rám nắng ngay lập tức mà không hề bị cháy nắng sẽ có nguy cơ ung thư da cao gấp 10 lần, các nhà khoa học cảnh báo.

Sự biến đổi của gen MC1R cũng cao gấp 3 ở người có màu mắt đen và gấp 8 ở những người không có tàn nhang.

Phát hiện được công bố tại Hội thảo thường niên của Hiệp hội Nghiên cứu ung bướu Hoa Kỳ (tổ chức tại Denver, bang Colorado).

Theo Thu Uyên
Dân trí

Mối quan hệ giữa kẽm và bệnh lý tiền liệt tuyến

Mối quan hệ giữa kẽm và bệnh lý tiền liệt tuyến

Theo y học hiện đại, nguyên nhân gây phì đại tuyến tiền liệt có thể do lão hóa, viêm tuyến tiền liệt không được điều trị, đặc biệt là do thiếu kẽm.

Theo y học hiện đại, nguyên nhân gây phì đại tuyến tiền liệt có thể do lão hóa, viêm tuyến tiền liệt không được điều trị, đặc biệt là do thiếu kẽm (Zn) trong khẩu phần ăn hằng ngày.
Kẽm là một nguyên tố vi lượng và cũng là chất khoáng. Một người ăn thức ăn thiếu kẽm trong thời gian dài thì sẽ sinh bệnh. Quan hệ giữa kẽm và tuyến tiền liệt là cực kỳ mật thiết.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì trong tuyến tiền liệt mạnh khoẻ và trong dịch của tuyến tiền liệt tiết ra đều chứa rất nhiều kẽm. Hàm lượng kẽm ở tuyến tiền liệt là nhiều nhất so với các tuyến khác.

  Chất kẽm có nhiều trong thịt động vật.

Hàm lượng nguyên tố kẽm có thể ảnh hưởng tới sự phát dục của khí quan (bộ phận) sinh thực, khả năng tình dục và chi phối trạng thái hoạt động của tuyến tiền liệt.
Kẽm có liên hệ tương đối với khả năng tình dục, giới tính của con người, thiếu kẽm sẽ dẫn tới chức năng về giới tính thất thường, số lượng tinh trùng sẽ giảm; Hàm lượng kẽm của tuyến tiền liệt nếu giảm 35% so với hàm lượng bình thường sẽ bị phì đại nhẹ tuyến tiền liệt, nếu giảm 38% sẽ dẫn tới viêm tuyến tiền liệt mạn tính, giảm 66% sẽ phát triển thành ung thư .

Cũng như vậy, kẽm tham gia vào hoạt động của men, thiếu kẽm có thể ảnh hưởng tới chức năng giới tính, dẫn tới tính dục giảm, ảnh hưởng đến đời sống tình dục của vợ chồng.

Muốn đảm bảo cho cơ thể có đủ kẽm, nên điều chỉnh việc ăn uống, sinh hoạt điều độ. Kẽm có nhiều trong các loại thịt động vật, trứng, trai, sò, lạc, đào, cà rốt, tiểu mạch, bánh mì bột thô, khoai tây…

Theo ThS.BS Đoàn Minh Thụy – Khoa học & Đời sống

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Đối với người mắc bệnh thận – tiết niệu mạn tính thì nỗi lo lớn nhất là dẫn đến suy thận mạn tính. Khi đã bị suy thận, người bệnh không chỉ phải đối mặt với nỗi ám ảnh mỗi lần lọc máu mà hy vọng cuối cùng là được ghép thận cũng gặp nhiều khó khăn do kinh tế eo hẹp và khan hiếm nguồn hiến tặng.

Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh thận mạn tính?

Bệnh thận mạn tính liên quan nhiều đến tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch , gút, đái tháo đường và các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ, suy thận mạn tính được xác định khi có sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận trên 3 tháng, cụ thể có protein trong nước tiểu, tăng creatinin máu, mức lọc cầu thận giảm, mô học thận thay đổi. Trong cơ thể người, tạng thận có vai trò quan trọng như điều chỉnh nội môi, bài tiết chất cặn bã sinh ra trong quá trình chuyển hóa, điều chỉnh kiềm toan và điều hòa điện giải, tham gia tạo máu, điều hòa chuyển hóa canxi, điều hòa huyết áp…

Khi thận bị suy, các chức năng hoạt động giảm, dần dần dẫn đến mất chức năng khiến bệnh nhân tử vong do nhiễm toan, tăng kali máu, suy tim, phù phổi, tai biến mạch máu não. Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 12 triệu người tử vong vì biến chứng tim mạch liên quan đến suy thận mạn tính. Các biện pháp điều trị suy thận phổ biến và hiệu quả hiện nay đang được thực hiện là lọc máu chu kỳ và ghép thận. Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng.

Lọc máu chu kỳ – Nỗi ám ảnh của người bệnh

T heo Hội Thận học Thế giới, hiện nay có trên 500 triệu người (chiếm 10%) người trưởng thành trên thế giới bị bệnh thận mạn tính ở các mức độ khác nhau. Trong đó trên 4,5 triệu người được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú, ghép thận. Ước tính con số này sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới. Ở Việt Nam, theo điều tra năm 1990, tỷ lệ suy thận mạn dao động khoảng từ 0,6% đến 0,81% tùy từng vùng. Nhu cầu ghép thận khoảng 5,5/100.000 người. Hiện nay có khoảng hơn 5.500 bệnh nhân được lọc máu chu kỳ, hơn 1.100 người được lọc màng bụng liên tục ngoại trú và hơn 300 người được ghép thận.

Hiện nay số bệnh nhân suy thận mạn tính ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng tăng, do đó số lượng bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải được điều trị lọc máu (chạy thận nhân tạo) cũng tăng theo. Nhiều trung tâm thận nhân tạo ra đời cùng với kỹ thuật lọc máu không ngừng được hoàn thiện, đã làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu chu kỳ cải thiện đáng kể. Đại đa số bệnh nhân phát hiện suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải lọc máu chu kỳ do tình cờ đi khám và xét nghiệm máu thấy: u rê máu, creatinin máu tăng cao, thiếu máu.

Nhiều bệnh nhân suy sụp về tinh thần khi được bác sĩ cho biết kết quả chẩn đoán suy thận độ III – độ IV phải lọc máu (chạy thận nhân tạo chu kỳ). Có những bệnh nhân quá sợ hãi đã bỏ về, rồi sau đó bệnh diễn biến nặng mới quay trở lại để lọc máu nên chức năng thận càng suy giảm. Đa số bệnh nhân lần đầu tiên lọc máu đều rất lo âu, vì cuộc sống sẽ gắn liền với máy thận nhân tạo. Nói đúng hơn, bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cũng có thể sống kéo dài trong nhiều năm và hoàn toàn phụ thuộc vào chạy thận nhân tạo, nhưng bệnh nhân sống trong trạng thái ốm yếu, bất lực, nỗi bất hạnh luôn ám ảnh họ với hàng loạt bệnh lý nội khoa khó lường như: suy tim, tai biến mạch máu não, viêm gan, phù phổi cấp, xuất huyết tiêu hóa…
 Thận bình thường (trái)                      và suy thận (phải)

Ghép thận – giải pháp tối ưu

Sự thành công của ghép thận đã mở ra viễn cảnh mới cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối; Ghép thận đã trả lại cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cuộc sống tốt đẹp cả về thể lực lẫn trí tuệ, có cuộc sống như người bình thường, lấy vợ, lấy chồng và sinh con cái. Tuy nhiên, ở Việt Nam khi số bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối được ghép thận quá ít vì: người cho thận chủ yếu là người trong gia đình. Mặc dù Luật hiến tạng đã ra đời, nhưng người tình nguyện cho tạng từ người mất não, hoặc tử vong do tai nạn giao thông mới đếm trên đầu ngón tay. Thiết nghĩ, nếu những người rủi ro chết do tai nạn giao thông mà hiến thận thì cứu được bao nhiêu người đang mong được ghép thận. Hy vọng trong tương lai, việc hiến mô, tạng sẽ đi vào lòng người Việt Nam như đạo Phật đã dạy “Cứu một người phúc đẳng hà sa”. Khi người mất đi mà hiến tạng cho người khác thì người thân vẫn thấy và cảm nhận một phần cơ thể của người mất đang tồn tại “cuộc sống trở lại sau cái chết”. Để làm được điều đó, ngoài những nỗ lực lớn lao của các thầy thuốc , giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng sẽ không thể thiếu được những nghĩa cử cao đẹp và sự thấu hiểu của cộng đồng.

Tóm lại, bệnh thận mạn tính có thể phòng ngừa được bằng cách điều trị triệt để khi bị viêm cầu thận, sỏi đường tiết niệu, tránh béo phì, thừa cân; kiểm soát tốt tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, chế độ ăn ít muối, không lạm dụng bia rượu, không hút thuốc lá.

BS.CKII.  Phạm Quốc Cường – Theo suckhoedoisong

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Mất nước

Mất nước

Mất nước! Khô miệng, buồn ngủ và mệt mỏi, khát nước, giảm lượng nước tiểu, khóc không nước mắt hoặc rất ít, cơ yếu, nhức đầu, chóng mặt, nhầm lẫn…Nếu nghiêm trọng: Khô da – miệng, thiếu mồ hôi, khát tột cùng, mắt trũng, nhịp tim nhanh, sốt, mê sảng hoặc bất tỉnh…

Định nghĩa

Mất nước xảy ra khi bị mất nhiều chất lỏng hơn đi vào, và cơ thể không có đủ nước và các chất lỏng khác để thực hiện chức năng bình thường của nó. Nếu không bổ sung chất lỏng bị mất, có thể phải chịu hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân thường gặp của mất nước bao gồm tiêu chảy dữ dội, nôn mửa, sốt hoặc đổ mồ hôi quá nhiều. Không đủ lượng nước trong thời tiết nóng hoặc tập thể dục cũng có thể gây mất nước. Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước, nhưng trẻ nhỏ, người cao niên và những người có bệnh mãn tính có nguy cơ cao nhất.

Thường có thể đảo ngược nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách tăng lượng chất lỏng, nhưng mất nước nặng cần điều trị y tế ngay lập tức. Phương pháp an toàn nhất là phòng ngừa mất nước. Trong thời tiết nóng, bệnh tật hoặc tập thể dục và uống chất lỏng đủ để thay thế những gì mất.

Các triệu chứng

Mất nước nhẹ đến vừa phải có thể gây ra:

- Khô, dính miệng.

- Buồn ngủ hoặc mệt mỏi – trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

- Khát.

- Giảm lượng nước tiểu – ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

- Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

- Cơ yếu.

- Nhức đầu.

- Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

- Khát tột cùng.

- Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

- Rất khô miệng, da và màng nhầy.

- Thiếu ra mồ hôi.

- Đi tiểu ít hoặc không có – bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

- Mắt trũng.

- Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

- Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng – sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

- Huyết áp thấp.

- Nhịp tim nhanh.

- Sốt.

- Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Thật không may, khát không phải là luôn luôn là một thước đo đáng tin cậy cần thiết của cơ thể đối với nước, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi. Một thước đo tốt hơn là màu của nước tiểu: Trong hoặc màu nước tiểu ánh sáng có nghĩa là cũng đang ngậm nước, trong khi một màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách thường là tín hiệu mất nước.

Nếu là một người lớn khỏe mạnh,  thường có thể xử lý nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách uống chất lỏng nhiều hơn nữa. Nhận chăm sóc y tế ngay nếu phát triển các dấu hiệu nặng và các triệu chứng như khát cùng cực, không đi tiểu được tám giờ, héo da, chóng mặt và nhầm lẫn.

Hãy đối xử với trẻ em và người lớn tuổi thận trọng hơn. Gọi cho bác sĩ gia đình ngay nếu trẻ:

- Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

- Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

- Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

- Không thể uống chất lỏng.

- Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

- Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Tới phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc gọi số khẩn cấp y tế nếu  nghĩ rằng một đứa trẻ hoặc người lớn tuổi mất nước nặng. Có thể giúp ngăn ngừa mất nước trở nên trầm trọng bằng cách cẩn thận theo dõi một người mắc bệnh và dùng dịch khi dấu hiệu đầu tiên của bệnh tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt và bằng cách khuyến khích trẻ em uống thật nhiều nước trước, trong và sau khi tập thể dục.

Nguyên nhân

Nước là thiết yếu cho đời sống con người: Nó tạo cơ sở cho tất cả các dịch cơ thể, bao gồm cả máu và nước tiêu hóa, nó viện trợ trong việc vận chuyển và hấp thụ các chất dinh dưỡng và nó giúp loại bỏ chất thải.

Nếu là một người lớn trung bình, mỗi ngày bị mất nhiều hơn gần 2,5 lít nước, đơn giản bằng cách ra mồ hôi, hơi thở và loại bỏ chất thải. Cũng bị mất điện giải – khoáng chất như natri, kali và canxi mà duy trì sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể. Thông thường,  có thể bổ sung những gì đã mất đi thông qua các loại thực phẩm và chất lỏng tiêu thụ, thậm chí khi đang hoạt động.

Nhưng khi loại bỏ nhiều nước hơn và các muối hơn thay thế, kết quả mất nước. Đôi khi xảy ra mất nước vì lý do đơn giản:  Không uống đủ bởi vì đang bị bệnh hoặc bận rộn, hay vì thiếu tiếp cận với nước uống khi đang đi du lịch, leo núi hoặc cắm trại.

Nguyên nhân mất nước khác bao gồm:

Tiêu chảy, ói mửa. Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Sốt. Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi.   Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Tăng đi tiểu. Điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể  sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường , đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Bỏng. Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước nếu sự mất mát chất lỏng vượt quá lượng nước nhận. Nhưng một số người có nguy cơ lớn hơn, bao gồm:

Trẻ sơ sinh và trẻ em. Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Người lớn tuổi. Lớn tuổi, trở nên dễ bị mất nước vì nhiều lý do: Cơ thể giảm khả năng để bảo tồn nước, cảm giác khát trở nên ít cấp tính và ít có khả năng đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ. Hơn nữa, người lớn tuổi, đặc biệt là những người trong nhà điều dưỡng hoặc sống một mình có xu hướng ăn ít hơn người trẻ tuổi và đôi khi có thể quên ăn hoặc uống hoàn toàn. Những vấn đề phức tạp bởi bệnh mãn tính như tiểu đường, thay đổi hoóc môn liên quan đến thời kỳ mãn kinh và do việc sử dụng các loại thuốc nhất định.

Những người có bệnh mãn tính. Có bệnh tiểu đường không kiểm soát được hoặc không được điều trị có nguy cơ cao mất nước. Nhưng căn bệnh mãn tính khác cũng làm cho nhiều khả năng trở thành mất nước. Chúng bao gồm bệnh thận, xơ nang, nghiện rượu và các rối loạn tuyến thượng thận. Thậm chí cảm lạnh hoặc đau cổ họng làm cho dễ bị mất nước vì ít ăn hoặc uống khi đang bị bệnh. Sốt làm tăng mất nước nhiều hơn.

Số lượng vận động. Bất cứ ai có thể trở thành mất nước, nhất là trong nóng, điều kiện ẩm ướt hoặc ở độ cao. Nhưng vận động viên đào tạo cho và tham gia ultramarathons, triathlons, leo núi thám hiểm và các giải đấu đi xe đạp có nguy cơ đặc biệt cao. Trong thời gian tập thể dục, cơ thể có thể hấp thụ khoảng 24 – 32 ounces nước một giờ, nhưng có thể mất hai lần đó trong thời tiết nóng. Mất nước cũng tích lũy trong một khoảng thời gian, có nghĩa là có thể trở nên mất nước với ngay cả tập thể dục vừa phải thường xuyên nếu không uống đủ để thay thế những gì bị mất trên một cơ sở hàng ngày.

Những người sống ở độ cao cao. Sống, làm việc và thực hiện ở độ cao cao (khoảng 2.400 đến 3.600 mét) hoặc độ cao rất lớn (khoảng 3.600 đến 5.400 mét) có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe . Một là mất nước, mà thường xảy ra khi cơ thể cố gắng để thích nghi với cao độ thông qua việc đi tiểu nhiều hơn và thở nhanh – để duy trì nồng độ oxy trong máu đầy đủ.

Các biến chứng

Mất nước có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng .

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ thường có thể chẩn đoán mất nước trên cơ sở các dấu hiệu và triệu chứng thể chất như đi tiểu ít hoặc không có, mắt trũng và làn da thiếu độ đàn hồi bình thường của nó và khả năng phục hồi khi bị chèn ép. Nếu đang mất nước, cũng có thể có huyết áp thấp, đặc biệt là khi di chuyển từ một vị trí nằm và đứng, nhịp tim nhanh hơn bình thường và lưu lượng máu giảm xuống.

Để giúp xác định chẩn đoán và xác định mức độ mất nước, có thể có các xét nghiệm khác, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Đây có thể được sử dụng để kiểm tra chất điện giải, đặc biệt là natri và kali, để tìm những dấu hiệu cô đặc máu và để đánh giá thận đang làm việc như thế nào.

Phân tích nước tiểu. Các màu sắc và độ trong của nước tiểu, sự hiện diện của các hợp chất carbon (xeton) và trọng lượng riêng nước tiểu, khối lượng của nước tiểu so với khối lượng của nước cất – tất cả chỉ giúp phân độ. Một tỷ trọng cao, chỉ ra mất nước đáng kể.

Nếu nó không rõ ràng lý do tại sao đang mất nước, bác sĩ có thể tự thêm các xét nghiệm để kiểm tra bệnh tiểu đường và cho gan hoặc vấn đề về thận.

Phương pháp điều trị và thuốc

Các chỉ dẫn hiệu quả điều trị mất nước là để thay thế chất dịch bị mất và điện giải bị mất. Cách tiếp cận tốt nhất để điều trị mất nước phụ thuộc vào tuổi, mức độ mất nước  và nguyên nhân của nó.

Điều trị mất nước ở trẻ em bị bệnh

Bác sĩ có thể cung cấp các đề xuất cụ thể để điều trị mất nước ở trẻ em, nhưng một số hướng dẫn chung bao gồm:

Sử dụng một giải pháp bù nước đường uống. Trừ khi bác sĩ khuyên nếu không hãy sử dụng một giải pháp bù nước đường uống như Pedialyte cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Những giải pháp này có chứa nước và muối theo tỷ lệ cụ thể để bổ sung cả chất lỏng và chất điện giải. Nó cũng có chứa glucose hay carbohydrate khác như gạo bột để tăng cường sự hấp thụ trong đường ruột. Các sản phẩm uống bù nước đang có sẵn trong hầu hết các nhà thuốc và nhiều thuốc mang thương hiệu riêng. Bắt đầu bù dịch khi khởi đầu quá trình bệnh tật thay vì chờ cho đến khi tình hình trở nên cấp bách.

Trong hầu hết các nước đang phát triển, có thể mua các gói bột uống của một giải pháp bù nước, WHO – ORS, ban đầu được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới để điều trị tiêu chảy và mất nước ở trẻ sơ sinh với bệnh tả. Bột trong nước theo các chỉ dẫn trên bao bì. Luôn làm sạch nước bằng cách đun sôi, lọc hoặc các phương pháp đã được chứng minh khác. Đo lượng nước, sau đó thêm các vật liệu dạng bột uống bù nước.

Trong một tình huống khẩn cấp một giải pháp xây dựng không có sẵn, có thể tạo riêng giải pháp bù nước qua miệng bằng cách trộn 1 / 2 muỗng cà phê muối, 1 / 2 muỗng cà phê baking soda, 3 muỗng canh đường và 1 lít nước. Hãy chắc chắn để đo lường một cách chính xác bởi vì không chính xác có thể làm cho giải pháp kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại. Nếu có thể, có một người nào khác kiểm tra các phép đo cho chính xác.

Bất cứ điều gì khác đã chọn, hãy chắc chắn để cung cấp cho giải pháp đủ. Bác sĩ có thể đề nghị cụ thể, tùy thuộc vào tuổi của trẻ và mức độ mất nước, nhưng một quy luật chung để giữ cho các chất lỏng từ từ cho đến khi nước tiểu của con trở nên rõ ràng trong màu sắc. Khi trẻ nôn mửa, hãy thử cho một lượng nhỏ dung dịch trong khoảng thời gian thường xuyên – 1 muỗng cà phê mỗi phút. Nếu trẻ không thể uống, chờ đợi 30 – 60 phút và thử lại. Nhiệt độ dịch giữ sao cho được tốt nhất.

Tiếp tục để nuôi con bằng sữa mẹ. Không ngừng cho con bú khi bé bị ốm, nhưng thêm một giải pháp bù nước đường uống là tốt. Nếu quý vị cho sữa bột trẻ em, hãy thử chuyển sang một trong đó là lactose, cho đến khi tiêu chảy cải thiện, lactose có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Không bao giờ công thức pha loãng hơn hướng dẫn tư vấn. Bác sĩ cũng có thể đề xuất thay thế một giải pháp bù nước uống cho các công thức cho 12 – 24 giờ.

Tránh một số loại thực phẩm và thức uống. Các chất lỏng tốt nhất cho một đứa trẻ bị bệnh là một giải pháp bù nước đường uống, nước tinh khiết không cung cấp điện giải cần thiết, và mặc dù thức uống thể thao bổ sung chất điện giải thay thế những người bị mất qua mồ hôi, không phải thông qua tiêu chảy hoặc nôn mửa. Tránh cho trẻ em  đồ mặn, sữa đặc biệt là đun sôi sữa – nước ngọt, nước trái cây hoặc keo động vật, không làm giảm mất nước và có thể làm triệu chứng nặng hơn.

Điều trị mất nước ở người lớn bị bệnh

Hầu hết người lớn bị mất nước nhẹ đến trung bình từ tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Có thể cải thiện tình trạng của họ bằng cách uống nhiều nước hơn. Nước là tốt nhất bởi vì các chất lỏng khác, chẳng hạn như nước quả, đồ uống có ga hay cà phê có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn.

Điều trị mất nước ở các vận động viên thuộc mọi lứa tuổi

Đối với tập thể dục liên quan đến mất nước. Thức uống thể thao có chứa điện giải và một giải pháp carbohydrate cũng có thể hữu ích. Không cần cho thuốc viên muối – quá nhiều muối có thể dẫn đến mất nước tăng natri huyết, một tình trạng mà cơ thể không chỉ là thiếu nước mà còn quá nhiều natri.

Điều trị mất nước trầm trọng

Trẻ em và người lớn, những người mất nước nặng cần được điều trị bởi nhân viên cấp cứu đến trong xe cứu thương hoặc trong một phòng cấp cứu bệnh viện, nơi họ có thể nhận được muối và các chất lỏng thông qua một tĩnh mạch hơn là bằng miệng. Tĩnh mạch hydrat hóa cung cấp cho cơ thể nước và chất dinh dưỡng cần thiết nhanh hơn nhiều so với các giải pháp uống – cái gì đó là cần thiết trong các tình huống đe dọa tính mạng.

Phòng chống

Để ngăn ngừa mất nước, tiêu thụ nhiều chất lỏng và các thực phẩm giàu nước như trái cây và rau quả. Chất lỏng có thể thu được không chỉ từ nước mà còn từ đồ uống và thực phẩm khác. Nhưng, nếu đang tập thể dục, không chờ đợi cho khát để theo kịp với chất dịch mất.

Một số trường hợp, có thể cần phải thực hiện trong chất lỏng nhiều hơn bình thường:

Bệnh tật. Bắt đầu cho thêm nước hoặc bù nước qua một giải pháp tại các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tật, không chờ đợi cho đến khi mất nước xảy ra. Và mặc dù có vẻ hấp dẫn, chất lỏng truyền thống như rượu bia gừng hoặc nước ngọt khác lại chứa quá nhiều đường và natri quá ít để bổ sung chất điện giải bị mất.

Tập thể dục. Nói chung, tốt nhất bắt đầu uống nước ngay trước khi tập thể dục vất vả. Sản xuất nhiều và pha loãng nước tiểu là một dấu hiệu tốt. Hai giờ trước khi một sự chịu đựng như một marathon, uống 2 ly nước. Một đến 2 ly nước đầy đủ thường trước khi tập thể dục ngắn hơn. Trong thời gian hoạt động, bổ sung chất lỏng ở các khoảng thời gian và tiếp tục uống nước hoặc chất dịch khác sau khi hoàn tất.

Hãy ghi nhớ rằng uống quá nhiều không chỉ có thể gây đầy hơi và khó chịu, mà có thể dẫn đến một tình trạng thể gây tử vong, trong đó natri máu  trở nên quá thấp. Điều này xảy ra khi uống nước nhiều hơn bị mất qua mồ hôi.

Môi trường. Cần uống nước bổ sung trong thời tiết nóng hoặc ẩm để giúp giảm nhiệt độ cơ thể và để thay thế những gì bị mất qua mồ hôi. Cũng có thể cần thêm nước trong thời tiết lạnh, nếu  đổ mồ hôi trong khi mặc quần áo cách nhiệt. Nước nóng, không khí trong nhà có thể gây ra làn da bị mất độ ẩm, tăng yêu cầu hàng ngày của chất dịch. Và độ cao lớn hơn 2.500 mét cũng có thể ảnh hưởng đến bao nhiêu nước cơ thể cần. Nếu mất nước xảy ra khi đang tập thể dục trong thời tiết nóng, vào một khu vực râm và bắt đầu bù nước.

Theo Dieutri.vn

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn