Hiển thị các bài đăng có nhãn đại tràng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đại tràng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra lây truyền rất nhanh. Thuỷ đậu có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.


1. Thủy đậu là gì? Nguyên nhân gây bệnh?

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra rất thường gặp ở trẻ em. Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster. Đa số trẻ em đều đã bị thuỷ đậu trước 15 tuổi, nhiều nhất từ 5 đến 9 tuổi, tuy nhiên bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thuỷ đậu thường nặng hơn khi xảy ra ở người lớn và ở trẻ còn nhỏ. Mùa đông xuân là thời gian các trường hợp thuỷ đậu xảy ra nhiều nhất.

2. Thủy đậu lây lan như thế nào?

Thuỷ đậu lây truyền rất nhanh. Nó rất dễ lây lan giữa các thành viên trong gia đình và giữa các học sinh cùng trường khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước và vết lở trên da người bệnh. Nó còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp. Bệnh nhân có thể truyền bịnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước khô vảy.

3. Triệu chứng và dấu hiệu của thủy đậu?

Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ 10 đến 21 ngày. Thuỷ đậu biểu hiện bằng sốt nhẹ từ một đến 2 ngày, cảm giác mệt mỏi toàn thân, và phát ban (thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh).

Một số rất ít trường hợp, bệnh nhân có thể bị bệnh mà không thấy phát ban. Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu, sau đó phát triển thành mụn nước, vỡ ra thành vết lở, rồi đóng vảy. Thường phát ban đầu tiên ở da đầu, xuống thân mình (nơi ban trổ nhiều nhất), sau cùng xuống đến tay chân. Những phần da nào sẵn bị kích ứng như hăm tã, eczema, cháy nắng v.v. thường bị ban thuỷ đậu tấn công nặng nhất. Ban thuỷ đậu thường rất ngứa.

4. Điều trị thủy đậu ra sao?

- Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn. Có thể dùng Acetaminophen (Tylenol) để giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

- Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.

- Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa. Hãy bàn luận với bác sĩ về các chọn lựa trong điều trị.

- Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.

Sau cùng, đối với một số trường hợp thuỷ đậu có thể dùng Acyclovir. Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh. Thuốc chỉ hiệu quả nếu được dùng sớm, trong thời gian từ 1 đến 2 ngày khi bắt đầu phát ban thuỷ đậu. Acyclovir thường được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh kèm theo nguy hiểm (ví dụ lupus, đái tháo đường, người cao tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch).

5. Các biến chứng có thể xảy ra?

- Thuỷ đậu có thể gây biến chứng. Khi các mụn nước vỡ ra và bị nhiễm trùng có thể gây sẹo xấu, đặc biệt khi bệnh nhân gãi nhiều ở vùng tổn thương.

- Nhiễm trùng da là biến chứng của thuỷ đậu thường gặp nhất ở trẻ em.

- Biến chứng khác thường gặp là tổn thương thần kinh trung ương bao gồm những rối loạn ở tiểu não (rối loạn thất điều tiểu não, chóng mặt, run, rối loạn ngôn ngữ), viêm não (nhức đầu, co giật, rối loạn ý thức), tổn thương thần kinh (liệt thần kinh) và hội chứng Reye (kết hợp tổn thương gan và não khả năng gây tử vong, có thể xảy ra do dùng aspirin ở trẻ em).

- Các biến chứng đặc biệt nặng có thể xảy ra trên bệnh nhân AIDS , lupus, bịnh bạch cầu, và ung thư. Biến chứng còn xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, như các corticoid. Trẻ sơ sinh có mẹ bị thuỷ đậu ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ chịu những nguy cơ cao của bệnh. Nếu mẹ phát bệnh thuỷ đậu 5 ngày trước hoặc 2 ngày sau khi sanh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh có thể lên đến 30%.

6. Thủy đậu có thể phòng ngừa bằng vaccin?

Người đã bị thuỷ đậu sẽ có miễn dịch suốt đời và không bao giờ bị lại. Nhưng nhiều khi về sau, virus có thể bộc phát lên bề mặt trở lại dưới dạng zona (giời leo). Mục tiêu hiện nay của nhiều nước trên thế giới là làm sao tiêm phòng thuỷ đậu cho hầu hết các trẻ em. Chỉ cần tiêm 2 mũi. Mũi đầu tiên tiêm lúc trẻ 1 tuổi và mũi thứ hai (tiêm nhắc lại) lúc 4 tuổi. Đối với người lớn chưa bị thuỷ đậu, có thể tiêm phòng vào bất cứ lúc nào. Phản ứng phụ khi tiêm phòng thuỷ đậu xảy ra không đáng kể. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch, đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH
Tham khảo: Medicine Net

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Thực tế, da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Vì vậy, da cũng là nơi chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài như: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… các yếu tố này kích thích cơ thể sản sinh ra các chất độc hại làm cho da bị sạm, khô, teo và dần xuất hiện các nếp nhăn và các đốm nâu đen.

Nguyên nhân và dấu hiệu lão hóa da

Kết quả từ nhiều cuộc nghiên cứu cho biết, có đến 90% nguyên nhân của lão hóa da là do ánh nắng mặt trời và chỉ có 10% là do di truyền. Về cơ bản, lão hóa da được hình thành từ 2 nhóm nguyên nhân sau:

Nhóm nguyên nhân nội sinh (lão hóa da nội sinh): là hiện tượng da già đi theo thời gian. Càng lớn tuổi các sợi collagen sẽ mất dần, các sợi đàn hồi (elastin) thượng bì bị teo mỏng đi, quá trình sản sinh tế bào bị giảm xuống. Da trở nên mỏng, mất tính đàn hồi, chùng nhão và nếp nhăn sâu xuất hiện.

Nhóm nguyên nhân ngoại sinh (lão hóa da ngoại sinh): do tác động của những yếu tố bên ngoài như: ánh nắng mặt trời, ô nhiễm môi trường, hóa chất, khói thuốc … Da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường và chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… Dưới những tác nhân này, các sợi collagen và elastin bị thoái hóa, bề dày của da thay đổi, tế bào hắc tố ở thượng bì giảm, xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ. Da có màu vàng sậm, nhiều nếp nhăn nhỏ, đồng thời những vùng da phơi bày ra ngoài ánh nắng như: mặt, vùng ngoài cánh tay, bàn tay sẽ có sự tăng giảm sắc tố. Đây là những dấu hiệu cho biết làn da đang “xuống cấp”. Sự xuống cấp này báo hiệu tình trạng lão hóa sắp sửa tấn công vào làn da. Tuy nhiên, những thay đổi trên da trong quá trình lão hóa rất đa dạng và ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những dấu hiệu lão hóa đặc trưng. Không chỉ là sự rối loạn sắc tố da điển hình như sự xuất hiện của những bướu lành trên da (nốt ruồi son, đồi mồi, những đốm nâu, đen hay xám, sần sùi, bong vảy…), mà còn là những biểu hiện rõ ràng, cụ thể ở từng độ tuổi.

Độ tuổi lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Giai đoạn và độ tuổi lão hóa thường không giống nhau với mỗi người. Làn da có thể có nguy cơ bị lão hóa bất cứ lúc nào nếu không được chăm sóc hợp lý. Ở một số người, đặc biệt, những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng và da không được bảo vệ, làn da có thể bắt đầu lão hóa ngay từ năm 20 tuổi trở đi, nhưng những dấu hiệu này chưa bộc lộ rõ rệt và thường khó nhận biết.

Tuy nhiên theo thống kê, hiện nay tình trạng lão hóa da thường xuất hiện nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 35. Nguyên nhân tình trạng lão hóa da ở phụ nữ lứa tuổi này là do sự mất cân bằng của một số hormone, khiến khả năng tự phục hồi của cơ thể bị suy yếu, lượng tế bào mỡ dưới da cũng như các sợi đàn hồi giảm đi làm làn da trở nên mỏng, khô, các cơ dần dần bị nhão, chảy xệ. Các tế bào da ở người trưởng thành ngày càng kém phân chia, nên da dễ bị khô, dễ bị bầm, tụ máu, các chức năng của da cũng giảm sút rõ rệt. Đây là thời điểm sức đề kháng của da bị giảm sút đáng kể nên dễ bị tác động từ những thay đổi bên trong cơ thể và những ảnh hưởng từ môi trường nhất.

Ở độ tuổi 30: da giảm độ căng mịn, lỗ chân lông to ra và thậm chí xuất hiện vài nếp nhăn.

Ở độ tuổi 40: những nếp nhăn đã hình thành từ tuổi 30 sẽ hằn sâu hơn, lộ rõ và nhiều nếp nhăn trên trán. Dấu “chân chim” nơi khóe mắt cũng bắt đầu xuất hiện, da xỉn, ít sức sống.

Ở độ tuổi 50, 60: nếp nhăn sẽ chằng chịt nhiều hơn, da khô và thô ráp hơn.

Để khắc phục và hạn chế tình trạng lão hóa da

Bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời: tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Sử dụng kem chống nắng có chỉ số chống nắng SPF từ 15 trở lên khi ra đường vào ban ngày, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang, găng tay…

Nuôi dưỡng da: thường xuyên dưỡng ẩm, bổ sung dưỡng chất cho da bằng các loại kem chống lão hóa vào ban đêm có thành phần chiết xuất từ trái cây, mía đường… Ngoài ra, có thể uống các loại thuốc như: vitamin A, E, C… để bổ sung chất và cải thiện làn da từ bên trong.

Tập thể dục thể thao, massage da mặt và cơ thể: giúp tinh thần thoải mái để có làn da hồng hào và săn chắc.

Cung cấp oxy nguyên chất cho da: cung cấp đủ lượng oxy nguyên chất và dinh dưỡng cho da sẽ tăng cường khả năng đề kháng của da, trước các tác động tiêu cực của môi trường và cả những thay đổi bất lợi về nội tiết bên trong cơ thể.

Ngoài ra, còn có một phương pháp can thiệp mang lại hiệu quả tức thời cho làn da như: căng da mặt, chích botox, đốt laser… Tuy nhiên, những phương pháp này khá tốn kém và dễ để lại những biến chứng như: sẹo, cơ mặt không biểu cảm, kích ứng da.

(Theo: suckhoedoisong.vn)

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Các vấn đề ở thận chẳng chừa bất kỳ ai. Nguyên nhân có thể xuất phát từ 1 bệnh không liên quan hay do gen.

Nếu bạn trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi nào dưới đây, bạn có thể nằm trong nhóm nguy cơ mắc bệnh thận. Hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu được phát hiện sớm, các vấn đề ở thận sẽ không khó giải quyết.

1. Bạn có bị đái tháo đường không?

Khoảng 30-50% trường hợp suy thận là ở người bị bệnh đái tháo đường.

2. Bạn có bị huyết áp cao mà không thể kiểm soát không?

Khoảng 20-25% trường hợp suy thận là do việc kiểm soát huyết áp chưa tốt.

3. Bạn đã từng bị viêm 1 bên thận hơn 1 lần chưa?

Viêm cầu thận không được điều trị và kiểm soát triệt để có thể gây ra 20% trường hợp suy thận (đặc biệt hay gặp ở các nước đang phát triển).

4. Bạn có bệnh thận bẩm sinh như bệnh lý thận IgA, bệnh lý thận có vách hoặc ung thư thận?

Hãy chú ý hơn tới việc kiểm tra sức khỏe .

5. Bạn đã từng dùng ống thông tiểu?

Hãy cảnh giác với bệnh viêm thận và cần chắc chắn là phải điều trị nhanh và triệt để.

6. Bạn đã từng dùng thuốc kháng viêm cho tình trạng đau, viêm hay sốt mỗi ngày trong vài năm nào đó không?

7. Bạn có thừa cân hay bị huyết áp cao không?

8. Mức cholesterol trong máu có cao không?

9. Bạn có thường xuyên bị hít khói có chì hay thủy ngân không?

Translate from: http://www.health32.com/kidney-disease-are-you-at-risk/

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường (hay còn gọi là đái tháo đường) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn Insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của Insulin.

Đái tháo đường có thể là một bệnh, cũng có thể là một triệu chứng của bệnh nội tiết khác, trong trường hợp này khi chữa khỏi bệnh chính, đái tháo đường sẽ khỏi hẳn.

Bệnh đái tháo đường xảy ra là do rối loạn chuyển hoá chất đường trong cơ thể. Chuyển hoá đường cung cấp phần lớn năng lượng cho cơ thể hoạt động sống hàng ngày; ở tổ chức cơ, tổ chức thần kinh, não thì nguồn cung cấp năng lượng chính là Glucose. Trong cơ thể người, tuyến nội tiết đảm bảo chủ yếu cho chuyển hoá đường là tuyến tuỵ. Tuyến tuỵ vừa là tuyến nội tiết vừa là tuyến ngoại tiết, Tuỵ nội tiết tiết ra nhiều hóc môn trong đó có Insulin. Hóc môn này do các tế bào Bê ta của các đảo Langerhans tiết ra. Insulin là hóc môn tham gia vào quá trình chuyển hoá glucose, khi thiếu nó thí sinh ra bệnh đái tháo đường.

Các dạng tiểu đường

Tiểu đường týp 1 (trước kia thường được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở trẻ em) đặc trưng bởi thiếu sản sinh insulin. Nếu không cung cấp insulin hằng ngày, tiểu đường týp 1 rất dễ gây tử vong.

Các triệu chứng bao gồm đi tiểu nhiều, khát nước, luôn đói, giảm cân, thay đổi thị lực và mệt mỏi. Những triệu chứng này có thể xảy ra đột ngột.

Tiểu đường týp 2 (tên cũ là tiểu đường không phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở người lớn) là do cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin. Tiểu đường týp 2 chiếm khoảng 90% số trường hợp bị bệnh tiểu đường trên toàn thế giới, và phần lớn là do thừa cân và ít hoạt động thể chất.

Các triệu chứng có thể tương tự như triệu chứng của tiểu đường týp 1, nhưng thường ít rõ ràng hơn. Kết quả là, có thể vài năm sau khi khởi phát, bệnh mới được chẩn đoán, khi đó các biến chứng đã xảy ra.

Cho tới gần đây, thể bệnh tiểu đường này chỉ được thấy ở người lớn, nhưng giờ đây nó cũng xảy ra ở trẻ béo phì.

Tiểu đường thai nghén là tình trạng đường huyết cao được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.

Các triệu chứng của tiểu đường thai nghén tương tự như tiểu đường týp 2. Tiểu đường thai nghén thường được chẩn đoán qua khám sàng lọc trước khi sinh thay vì qua các triệu chứng được kể.

Giảm dung nạp glucose (IGT) và giảm đường huyết lúc đói (IFG) là những tình trạng trung gian chuyển tiếp giữa bình thường và tiểu đường. Người bị IGT hoặc IFG có nguy cơ cao tiến triển thành tiểu đường týp 2, mặc dù không nhất thiểt là sẽ như vậy.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường

Các biểu hiện thường gặp:

* Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
* Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
* Đái nhiều
* Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
* Mồm khô, da khô, mệt mỏi
* Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.

Có thể thấy một số biểu hiện khác như:

* Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
* Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
* Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
* Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
* Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
* Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
* Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.

2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):
Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.

3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):
Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.

4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.

5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy: Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.

Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.

6. Ðau chân (foot problems):
Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.

8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.

9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Tiến triển của bệnh

Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:

Biến chứng cấp tính:

Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

Biến chứng hạ đường huyết máu:

Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…

Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:

Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.

Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị , sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.

Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:

Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…

Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.

Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.

Biến chứng mạn tính

Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:

Bệnh lý mạch máu lớn:

Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.

Tổn thương mạch máu nhỏ:

Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.

Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển

Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác

Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.

Bể thận viêm mạn

Bể thận viêm mạn

Bể thận viêm mạn là bệnh phổ biến nhất trong các loại bệnh Thận. Đây cũng là bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở mọi lứa tuổi sau khi bị viêm phổi.

Bể Thận – Thận viêm thường bị cả hai bên, ít khi bị một bên nhưng mức độ tổn thương ở hai bên khác nhau, có khi một bên thận bị xơ, teo, bên kia vẫn hoạt động bình thường. Là một quá trình viêm mạn thành từng ổ: bên cạnh ổ mới, có những ổ cũ bị xơ hóa xâm lấn vào tổ chức thận. Rõ nét nhất là sự xâm lấn vào tế bào, lympho bào và tổ chức kẽ của thận, gây xơ hóa tổ chức kẽ của thận và tổ chức xơ xâm lấn chèn ép làm đảo lộn cấu trúc thận.

Đông y xếp vào loại ‘Lao Lâm’, ‘Yêu Thống’, ‘Hư Tổn’.

Nguyên nhân

Theo Đông y, Thận và bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, nếu tạng bị hư tổn thì phủ cũng bị ảnh hưởng theo và ngược lại. Chứng nhiệt lâm (bể thận viêm cấp) điều trị lâu ngày không khỏi hoặc do cơ thể vốn bị suy nhược, thấp nhiệt và tà khí ở trong, ứ huyết tích tụ lại gây nên tiểu nhiều, tiểu gắt, tiểu buốt, lưng đau. Nếu thấp nhiệt nung nấu lâu ngày sẽ làm hao tổn tân dịch, làm tổn thương chính khí, trên lâm sàng sẽ xuất hiện dấu hiệu thận âm bất túc. Nếu Tỳ Thận đều hư sẽ gây nên chính khí suy, tà khí thịnh.

Triệu chứng:

+ Đa số tiến triển âm thầm, triệu chứng rất sơ sài khiến cho người bệnh dễ bỏ qua.

+ Thỉnh thoảng sốt nhẹ, ngang thắt lưng đau, người mỏi mệt.

+ Thỉnh thoảng tiểu buốt, tiểu gắt, có khi không điều trị cũng khỏi.

+ Khoảng 1/3 số trường hợp thường có kèm các đợt cấp tính, sốt cao, đau vùng Thận hai bên hoặc một bên, tiểu đục. Triệu chứng giống như trong trường hợp viêm cấp nhưng chỉ là một đợt cấp trên gốc bệnh viêm mạn.

+ Dấu hiệu tương đối rõ nhất là ba dấu hiệu chính khi xét nghiệm gồm:

. Nước tiểu có vi khuẩn.

. Tiểu ra bạch cầu, thường trên 4 triệu bạch cầu trên 24 giờ.

. Tiểu ra protein: thường chỉ từ 50-200mg% (0,5 đến 2g) / lít nước tiểu.

Tiến Triển

Tiến triển dai dẳng hàng chục năm, có khi 29-30 năm. Có khi gây nên:

. Huyết áp cao tiến triển theo bể thận – thận viêm, nặng dần dẫn đến suy thận.

. Thận bị xơ, teo, mất chức năng hoạt động, năng thì phải cắt bỏ bên teo.

. Thận suy từng đợt: nặng nhất là giảm khả năng cô đặc nước tiểu, tiến triển trong nhiều năm trước khi bị suy thận hoàn toàn.

Điều trị

Thường dùng phép công và bổ cùng lúc.

Bệnh mới phát, dùng phép Thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, hoạt huyết hóa ứ. Khi bệnh đã ổn định, dùng bổ Tỳ, ích Thận để tăng sức đề kháng đối với bệnh.

Có thể dùng một số bài thuốc sau:

Thanh Hóa Thang (Trung Quốc Hương Tài Y Sinh Tạp Chí 1993: 4, 39):

Xích thược

6

Xuyên khung

6

Ngưu tất

6

Qui vĩ

6

Xuyên sơn giáp

6

Sa tiền

9

Tây thảo

9

Mao căn

15

Đã trị 42 ca, toàn bộ đều là nữ giới. Tuổi từ 21-62. Bệnh từ 3-18 năm. Tất cả đã được Tây chẩn đoán là bể thận viêm mạn tính. Uống thuốc này 3-5 thang nhiều lắm cũng không quá 6 thang đều khỏi. Đạt tỉ lệ 96%.

Thanh Lâm Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1991: 3, 16):

Hoàng bá

30

Ngân hoa

60

Hoàng cầm

20

Ngưu tất

12

Ngứa ở vùng kín

Ngứa ở vùng kín

Bác sĩ ơi, em 22 tuổi, chưa lập gia đình, nhưng đã có một lần quan hệ tình dục. Thời gian gần đây, bộ phận âm đạo của em hay bị ngứa rất khó chịu, mỗi lần như vậy em thường rửa vệ sinh, nhưng vẫn bị ngứa bác sĩ ạ, em thấy có chất màu trăng trắng ra ở hai bên rãnh ở âm đạo. Em vừa đi học, vừa đi làm, nên cũng không có nhiều thời gian đến bệnh viện , bác sĩ tư vấn giúp em, có thể chỉ em thuốc uống? Em cám ơn nhiều!

- Trả lời: Theo như mô tả trong thư, có thể bạn đang bị viêm âm đạo, hoặc do nấm hay do tạp trùng. Chất trắng mà bạn mô tả đó là huyết trắng.

Thông thường, ở người không có quan hệ tình dục, viêm âm đạo do nấm hay do tạp trùng vẫn có thể xảy ra do tình trạng rối loạn các vi sinh vật thường trú ở âm đạo (có thể do uống kháng sinh lâu ngày, do rối loạn kinh nguyệt…), khi tình trạng rối loạn thuyên giảm, viêm âm đạo có thể tự khỏi.

Rất tiếc không thể cho thuốc từ xa, tốt nhất, bạn nên đi khám phụ khoa để bác sĩ khám cụ thể, cho thuốc dùng đúng với bệnh. Tạm thời, bạn cần giữ vệ sinh ở vùng kín bằng cách rửa nước sạch sau mỗi lần đi vệ sinh và lau khô sau đó, có thể dùng các loại nước rửa phụ khoa để rửa bên ngoài; nếu dùng giấy vệ sinh lau chùi nhớ lau theo hướng từ trước ra sau để không làm lây nhiễm vi trùng từ đường hậu môn; thay đồ lót 2-3 lần/ngày; giặt sạch và phơi khô đồ lót chỗ có nắng, có thể ủi đáy quần lót trước khi mặc…

Theo Thanh Niên

Hỏi về hiện tượng đi tiểu nhiều

Hỏi về hiện tượng đi tiểu nhiều

Em năm nay 22 tuổi, chưa có gia đình. Em mắc bệnh đi tiểu nhiều lần, số lượng nước tiếu nhiều, trong, không máu, không tiểu rắt, buốt. Mỗi lần đi tiểu xong em lại có cảm giác mót tiếu (cứ như là mắc tiểu mà chưa đi tiểu được), người em gầy do đi tiểu nhiều lần không ngủ được. Đi khám bệnh nhiều lần và điều trị thì không có kết quả gì, kết quả xét nghiệm bình thường. Xin Bác sĩ tư vấn và tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị. Chân thành cảm ơn (Trần Mai Anh)

Trả lời:

Khi chức năng của hai thận bình thường và cơ thể không có tình trạng thiếu nước, khoảng 15-30 phút sau khi uống nướcchúng ta sẽ đi tiểu để loại bỏ lượng nước dư thừa vừa uống. Trường hợp này nước tiểu thường trắng trong hay vàng lợt, tia nước tiểu mạnh, thông suốt, không phải rặn và không có các triệu chứng bất thường như gắt, buốt hay tiểu máu đi kèm.

Mặt khác, vì động tác đi tiểu chịu chi phối của cả hệ thần kinh tự chủ lẫn tự động nên những người có thần kinh dễ bị kích động, lo lắng thường có những phản xạ đi tiểu thường xuyên trước một vấn đề nào đó gây căng thẳng thần kinh, như trước khi vào phòng thi, mở đề thi, phỏng vấn khi xin việc…

Có trường hợp có thói quen ngay sau khi đi tiểu lại uống nước và như vậy sẽ đi tiểu lại trong thời gian ngắn sau đó mà hậu quả là tiểu rất nhiều lần cả ngày lẫn đêm (nếu vẫn có thói quen uống nước ngay sau đi tiểu). Tuy nhiên, những trường hợp này đều không có ý nghĩa bệnh lý nếu không có các bất thường kể trên đi kèm, hoặc số lần đi tiểu sẽ giảm khi giảm lượng nước uống.

Tiểu nhiều lần gọi là bệnh lý khi:

* Không uống nước vẫn phải đi tiểu, thường gặp trong các bệnh như: nhiễm trùng tiểu (thường có các rối loạn đi tiểu kèm theo: tiểu đau, buốt, nước tiểu đục, có máu…), hội chứng bàng quang kích thích, tiểu đường , u, bướu đường niệu, dị tật bẩm sinh hệ niệu, bệnh thần kinh bàng quang, suy thận mãn tính…

* Có các triệu chứng rối loạn đi tiểu kèm theo hay có kèm thay đổi màu sắc hoặc độ đục trong của nước tiểu.

* Không thể nhịn tiểu được dù đang làm việc hay hội họp.

* Tiểu nhiều lần cả ngày lẫn đêm mà không liên quan có uống nước hay không.

* Có các thay đổi thể trạng kèm theo: sụt cân, mệt mỏi…

Như vậy nguyên nhân của tiểu nhiều lần có bệnh lý rất phức tạp và đa dạng, đôi khi đòi hỏi những thăm dò chức năng chuyên sâu và phức tạp mới có thể chẩn đoán xác định. Bệnh nhân cần đến các bác sĩ hay bệnh viện chuyên khoa để biết nguyên nhân và có hướng xử lý thích hợp.

Bạn nên đến khám tại khoa niệu của các bệnh viện. Bác sĩ chuyên khoa tiết niệu sẽ phát hiện nguyên nhân tiểu nhiều lần để điều trị cho bạn.

Chúc bạn sức khỏe !

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

“Từ điển Y Dược trực tuyến”

7 bí quyết bảo vệ dạ dày

7 bí quyết bảo vệ dạ dày

Hậu quả của việc ăn uống không theo chuẩn mực sẽ khiến bạn mắc chứng khó tiêu. Nhưng tin tốt là bạn có thể thực hiện vài bước đơn giản dưới đây để tiêu hóa tốt hơn.

Không có gì đáng cười khi nói rằng cần cân nhắc trước khi thưởng thức một bữa ăn ngon, vì nếu không bạn sẽ hối tiếc sau đó. Hậu quả của việc ăn uống không theo chuẩn mực sẽ gây trở ngại cho dạ dày khiến dạ dày bị tổn thương, mắc chứng khó tiêu. Một số các triệu chứng của chứng khó tiêu bao gồm: đầy hơi, ợ hơi, trướng bụng, nóng hoặc đau trong dạ dày hoặc bụng, và thậm chí buồn nôn. Không có triệu chứng nào trong số này dễ chịu. Nhưng tin tốt là bạn có thể thực hiện vài bước đơn giản dưới đây để tiêu hóa tốt hơn.

Dưới đây là 7 điều bạn có thể làm:

1. Ăn những thức ăn có chứa men vi sinh: Men vi sinh có vi khuẩn tốt có thể có lợi cho đường tiêu hóa của bạn. Men vi sinh có nhiều trong sữa chua, sữa, và đồ uống probiotic… nước trái cây không sữa, đậu nành… và ăn chay probiotic.

2. Không nên nằm xuống ngay sau khi ăn:
Cơ thể chúng ta được thực hiện việc tiêu hóa thức ăn ở vị trí thẳng đứng. Nếu nằm xuống ngay sau khi ăn, cơ thể bạn cố gắng để tiêu hóa thức ăn có thể dẫn đến chứng khó tiêu. Chờ 2-3 giờ sau bữa ăn mới lên đi ngủ.

3. Ăn chậm: Khi bạn ăn quá nhanh, bạn sẽ nuốt khá nhiều không khí, có thể làm đảo lộn quá trình tiêu hóa.

4. Ăn nhiều chất xơ: Hãy chắc chắn rằng bạn bổ sung nhiều chất xơ trong chế độ ăn uống của bạn, vì nếu ăn ít chất xơ có thể dẫn đến các vấn đề tiêu hóa. Thêm nhiều chất xơ vào chế độ ăn uống của bạn từ từ và uống thật nhiều nước sau đó.

7 bí quyết bảo vệ dạ dày, Sức khỏe đời sống, benh da day, tieu hoc, thuc pham, loet da day, bao

Nhai kẹo cao su sẽ giúp kích thích sản xuất nước bọt, giúp trung hòa acid dạ dày và làm giảm khả năng gặp khó tiêu. (Ảnh minh họa).

5. Ghi nhật ký thực phẩm để xác định các loại thực phẩm gây ra chứng khó tiêu cho cá nhân bạn : Thông thường các loại thực phẩm hoặc đồ uống có nhiều chất axit là cà phê, rượu hoặc là gia vị các loại thực phẩm kích hoạt.

6. Không mặc quần áo bó sát hoặc thắt lưng chặt trong khi ăn: Điều này có thể nén dạ dày và nhiều khả năng làm tăng chứng ợ nóng.

7. Nhai kẹo cao su sau bữa ăn: Nhai kẹo cao su sẽ giúp kích thích sản xuất nước bọt, giúp trung hòa acid dạ dày và làm giảm khả năng gặp khó tiêu.

Nếu bạn thực hiện những thay đổi này, nhưng vẫn gặp phải những triệu chứng của chứng khó tiêu, hãy cân nhắc và đến gặp bác sĩ . Điều này có thể là một dấu hiệu cho thấy khó tiêu là một triệu chứng của một vấn đề khác, chẳng hạn như hội chứng ruột kích thích, loét dạ dày, hoặc bệnh túi mật.

TAGS: benh da day, tieu hoc, thuc pham, loet da day, bao
Theo Phương Thùy (Afamily)

U đại tràng

U đại tràng

U đại tràng! Chảy máu trực tràng, máu trong phân, táo bón hay tiêu chảy, đau hoặc tắc nghẽn…Đi khám nếu: Đau bụng, máu trong phân, một sữ thay đổi thói quen ruột kéo dài hơn 1 tuần…Nên kiểm tra sàng lọc u độ tuổi 50 hoặc lớn hơn…

Định nghĩa

Một polip đại tràng là một cụm nhỏ các tế bào hình thức trên lớp lót của ruột kết. Mặc dù hầu hết các khối u đại tràng là vô hại, một số trở thành ung thư theo thời gian.

Bất cứ ai cũng có thể phát triển khối u đại tràng. Nhưng đang có nguy cơ cao hơn nếu đang 50 tuổi trở lên, thừa cân hoặc người hút thuốc , chế độ ăn uống chất béo thấp sợi, hoặc có một lịch sử cá nhân hay gia đình của các khối u đại tràng hay ung thư ruột kết.

Thông thường, khối u đại tràng không gây ra triệu chứng . Đó là lý do tại sao các chuyên gia khuyên nên kiểm tra thường xuyên. Khối u đại tràng được tìm thấy trong giai đoạn đầu thường có thể được gỡ bỏ một cách an toàn và hoàn toàn. Chiếu giúp ngăn ngừa ung thư ruột kết, một căn bệnh phổ biến mà thường gây tử vong khi nó được tìm thấy trong các giai đoạn sau.

Các triệu chứng

Khối u khoảng từ nhỏ hơn một hạt đậu cho đến cỡ quả bóng golf. Khối u nhỏ không có khả năng gây ra vấn đề. Có thể không biết cho đến khi tìm thấy nó trong một cuộc kiểm tra ruột. Đôi khi, tuy nhiên, có thể có các dấu hiệu và triệu chứng như:

Chảy máu trực tràng. Có thể nhận thấy máu đỏ tươi trên giấy vệ sinh sau khi đi tiêu. Mặc dù điều này có thể là một dấu hiệu của khối u đại tràng hay ung thư ruột già, trực tràng chảy máu có thể chỉ ra các điều kiện khác, chẳng hạn như trĩ hay vết nứt của trẻ vị thành niên ở hậu môn. Nên thảo luận về bất cứ chảy máu trực tràng với bác sĩ.

Máu trong phân. Máu có thể hiển thị như là vệt đỏ trong phân hoặc đi tiêu đen xuất hiện. Tuy nhiên, một sự thay đổi về màu sắc không phải luôn luôn chỉ ra một vấn đề, bổ sung sắt và một số thuốc chống tiêu chảy có thể làm cho phân có màu đen, trong khi củ cải đỏ và cam thảo có thể biến phân có màu đỏ.

Táo bón, tiêu chảy, thu hẹp phân. Mặc dù sự thay đổi trong thói quen ruột kéo dài lâu hơn một tuần có thể chỉ ra sự hiện diện của một polip đại tràng lớn, nó cũng có thể do một số điều kiện khác.

Đau hoặc tắc nghẽn. Đôi khi một polip đại tràng lớn có thể cản trở một phần ruột, dẫn đến đau bụng, buồn nôn, nôn và táo bón nặng.

Đi khám bác sĩ nếu nhận thấy các triệu chứng sau đây

Đau bụng.

Máu trong phân.

Một sự thay đổi trong thói quen ruột  kéo dài lâu hơn một tuần.

Nên được kiểm tra thường xuyên cho khối u nếu

Đang độ tuổi 50 hoặc lớn hơn.

Có yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư ruột kết, trong một số trường hợp, cá nhân có nguy cơ cao nên bắt đầu kiểm tra thường xuyên sớm hơn nhiều so với tuổi 50.

Nguyên nhân

Đường tiêu hóa trải dài từ miệng đến hậu môn. Khi thực phẩm đi dọc theo hành lang 9 mét, chất dinh dưỡng được chia thành một hình thức có thể được hấp thụ bởi cơ thể và được sử dụng để xây dựng các tế bào và sản xuất năng lượng.

Phần cuối cùng của đường tiêu hóa là một ống dài được gọi là ruột già. Đại tràng là trên 1 – 2 mét của ruột già, trực tràng chiếm thấp hơn 20 – 25 cm. Chức năng chính của ruột kết là hấp thụ nước, muối và các khoáng chất khác từ đại tràng. Chất thải tới cửa trực tràng cho đến khi nó loại bỏ khỏi cơ thể.

Tại sao hình thành khối u

Đa số các khối u không phải là ung thư (ác tính). Tuy nhiên, giống như hầu hết ung thư, khối u là kết quả của sự tăng trưởng tế bào bất thường. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và phân chia một cách có trật tự, một quá trình kiểm soát bởi hai nhóm lớn các gien. Đột biến trong bất kỳ của những gen này có thể gây ra các tế bào tiếp tục phân chia tế bào mới ngay cả khi không cần thiết. Trong ruột già và trực tràng, điều này không được kiểm soát tăng trưởng có thể gây ra khối u hình thành. Sau một thời gian dài, một số trong những khối u có thể trở thành ác tính.

Bướu thịt có thể phát triển bất cứ nơi nào trong ruột già. Chúng có thể nhỏ hoặc lớn và bằng phẳng (không cuống) hoặc hình nấm và được gắn vào một thân. Khối u nhỏ và hình nấm ít có khả năng trở thành ác tính hơn những khối lớn. Nhìn chung, các polip lớn hơn là khả năng lớn hơn của bệnh ung thư.

Có ba loại chính của khối u đại tràng

Adenomatous. Khoảng hai phần ba của tất cả các khối u thuộc thể loại này. Mặc dù chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ của những khối u thực sự trở thành ung thư, khối u ác tính gần như tất cả adenomatous.

Hyperplastic. Hầu hết các khối u còn lại là hyperplastic. Các khối u thường xảy ra nhất trong đại tràng và trực tràng. Thông thường ít hơn 5 mm kích thước, rất hiếm khi ác tính.

Viêm. Những bướu thịt có thể theo một dạng của viêm loét đại tràng hay bệnh Crohn của ruột kết. Mặc dù chính nó là khối u không phải là một mối đe dọa lớn, có viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn của ruột kết tổng thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết.

Yếu tố nguy cơ

Một số yếu tố có thể góp phần vào sự hình thành của khối u ruột kết và ung thư ruột kết. Chúng bao gồm:

Tuổi. Phần lớn những người bị ung thư ruột kết là 50 tuổi trở lên. Nguy cơ ngày càng tăng thường bắt đầu ở tuổi 40.

Viêm đường ruột. Lâu dài bệnh viêm ruột kết, chẳng hạn như viêm loét đại tràng và bệnh Crohn, có thể làm tăng nguy cơ.

Lịch sử gia đình. Có nhiều khả năng phát triển khối u đại tràng hay ung thư nếu có cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con. Nếu nhiều thành viên gia đình có, nguy cơ còn lớn.

Trong một số trường hợp kết nối này không phải là cha truyền con nối hoặc di truyền. Ví dụ, bệnh ung thư trong cùng một gia đình có thể chia sẻ kết quả từ tiếp xúc với một chất gây ung thư (carcinogen) trong môi trường hoặc từ chế độ ăn tương tự hoặc các yếu tố lối sống.

Hút thuốc lá và rượu. Hút thuốc làm tăng nguy cơ đáng kể của khối u ruột kết và ung thư ruột kết. Người hút thuốc, 20 phần trăm nhiều khả năng phát triển ung thư ruột kết hơn là người không hút thuốc. Uống rượu, đặc biệt là bia vượt quá cũng làm cho nó nhiều khả năng sẽ phát triển các khối u đại tràng. Nếu hút thuốc và uống rượu, nguy cơ tăng nhiều hơn.

Một lối sống ít vận động. Nếu không hoạt động, đang có nhiều khả năng phát triển ung thư ruột kết. Điều này có thể bởi vì khi không hoạt động, thời gian chất thải ở lại trong ruột già dài hơn.

Trọng lượng. Thừa cân hoặc béo phì có liên quan đến tăng nguy cơ một số loại ung thư, bao gồm cả ung thư ruột kết.

Chủng tộc. Nếu là màu đen hoặc một người Do Thái, có nguy cơ cao phát triển ung thư ruột kết.

Thừa kế gene đột biến. Một yếu tố nguy cơ khối u đại tràng là đột biến di truyền. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh ung thư ruột kết là kết quả của đột biến gen. Một số các bệnh ung thư được NST thường chi phối, có nghĩa là cần phải kế thừa chỉ có một gene khiếm khuyết từ hoặc một trong cha mẹ . Nếu bố hoặc mẹ có gen đột biến, có cơ hội 50 phần trăm của kế thừa đột biến. Mặc dù kế thừa một gen khiếm khuyết làm tăng nguy cơ rất nhiều, không phải tất cả mọi người với gen đột biến phát triển bệnh ung thư.

Gia đình adenomatous polyposis (FAP). Đây là một rối loạn di truyền hiếm gặp gây ra phát triển hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các khối u trong màng của ruột già trong những năm đầu tuổi thiếu niên. Nếu không được điều trị, nguy cơ phát triển ung thư ruột già gần như 100 phần trăm, thường là trước tuổi 40. Các tin tức đáng khích lệ về FAP là trong một số trường hợp, thử nghiệm di truyền có thể giúp xác định xem đang có nguy cơ của bệnh. Những người có FAP cũng có nguy cơ bị ung thư ruột non, đặc biệt là ở tá tràng.

Hội chứng Gardner. Hội chứng này ít gặp hơn là một biến thể của FAP. Tình trạng này gây ra khối u phát triển trong suốt ruột già và ruột non. Cũng có thể phát triển các khối u noncancerous ở các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm cả da  (u nang bã nhờn và lipomas), xương và bụng.

MYH – liên polyposis (MAP). Điều này được thừa hưởng tình trạng cũng tương tự như FAP. Những người có khối u thường phát triển MAP nhiều adenomatous và ung thư ruột già ở độ tuổi trẻ, chẳng hạn như ở độ tuổi 20. Đây là một căn bệnh mới được phát hiện. Thử nghiệm di truyền có thể giúp xác định xem đang có nguy cơ bị MAP, bị gây ra bởi đột biến ở gen MYH.

Hội chứng Lynch. Điều kiện này, còn gọi là ung thư đại trực tràng di truyền nonpolyposis (HNPCC) là hình thức phổ biến nhất của ung thư đại tràng di truyền. Những người có hội chứng Lynch có xu hướng phát triển các khối u đại tràng tương đối ít, nhưng những khối u có thể nhanh chóng trở thành ác tính. Hoặc, những người có hội chứng Lynch có thể có khối u ở các cơ quan khác, bao gồm vú, dạ dày, ruột, đường tiết niệu và buồng trứng cũng như trong ruột kết.

Hội chứng Peutz – Jeghers (PJS). Tình trạng di truyền này thường bắt đầu với tàn nhang phát triển trên khắp cơ thể, bao gồm cả môi, nướu răng và bàn chân. Sau đó, khối u lành tính phát triển trong ruột. Những khối u có thể trở thành ác tính, vì vậy những người có điều kiện này có làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết.

Các biến chứng

Một số khối u có thể trở thành ung thư (ác tính), có nghĩa là có thể phát triển ung thư ruột kết. Các khối u trước đó được loại bỏ, nó ít có khả năng sẽ trở thành ác tính.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Gần như tất cả bệnh ung thư ruột kết phát triển từ khối u, nhưng các khối u phát triển chậm, thường là trong khoảng thời gian của năm. Xét nghiệm sàng lọc đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện khối u trước khi chúng trở thành ung thư. Các xét nghiệm này cũng có thể giúp tìm ung thư đại trực tràng ở giai đoạn đầu, khi có một cơ hội tốt của phục hồi. Khi giai đoạn đầu bệnh ung thư được tìm thấy và gỡ bỏ trong quá trình kiểm tra thường xuyên, tỷ lệ sống sót năm năm có thể cao tới 90 phần trăm.

Một số phương pháp sàng lọc tồn tại, mỗi với lợi ích và rủi ro riêng của nó. Hãy chắc chắn để thảo luận về những việc này với bác sĩ:

Tìm máu trong phân. Thử nghiệm này không xâm lấn tìm máu trong một mẫu phân. Nó có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ. Điều quan trọng là làm theo hướng dẫn cẩn thận, bởi vì chế độ ăn uống và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến kết quả. Trả lại kit thử nghiệm cho một phòng thí nghiệm, văn phòng của bác sĩ để được kiểm tra.

Rủi ro và lợi ích. Mặc dù thử nghiệm này là tương đối dễ dàng, nó được thiết kế để tầm soát ung thư, không phải cho bướu thịt. Một vấn đề là hầu hết khối u không chảy máu, cũng không loại trừ tất cả các bệnh ung thư. Điều này có thể dẫn đến một kết quả xét nghiệm âm tính, ngay cả khi có thể có một polip hoặc ung thư. Mặt khác, nếu máu xuất hiện trong phân, nó có thể là kết quả của tình trạng trĩ hoặc một đường ruột khác hơn là ung thư. Đối với những lý do này, nhiều bác sĩ khuyên nên kiểm tra các phương pháp khác thay vì các xét nghiệm tìm máu trong phân. Ngoài ra, ngay cả khi xét nghiệm là âm tính, nếu đã thấy máu trong nhà vệ sinh, giấy vệ sinh hoặc phân, sẽ cần phải đi thử nghiệm thêm nữa.

Soi đại trang sigmoid (Sigmoidoscopy). Trong thử nghiệm này, bác sĩ  sử dụng một mảnh dẻ, ánh sáng ống để kiểm tra trực tràng và sigmoid – khoảng 61 cm của ruột già. Gần một nửa của tất cả các bệnh ung thư ruột kết được tìm thấy trong khu vực này.

Rủi ro và lợi ích. Sigmoidoscopy chỉ nhìn vào cuối cùng của ruột già, và kiểm tra này không phát hiện khối u ở nơi khác trong ruột già. Nó thường kết hợp với một thuốc xổ bari tốt hình dung toàn bộ đại tràng, hoặc bác sĩ có thể khuyên nên thực hiện một nội soi thay thế. Sigmoidoscopy có thể có một chút khó chịu. Ngoài ra, có một rủi ro nhẹ của thủng ruột kết, nhưng những rủi ro ít hơn là nội soi.

Thuốc xổ bari

Thử nghiệm này cho phép chẩn đoán của bác sĩ để đánh giá toàn bộ ruột với X- quang. Bari, một chất nhuộm màu tương phản, được đưa vào ruột  dưới dạng thuốc xổ. Các điểm vào và áo lót của ruột, tạo ra một hình bóng rõ ràng của trực tràng, ruột già và đôi khi một phần nhỏ của ruột non. Khí cũng có thể được thêm vào để cung cấp độ tương phản tốt hơn trên X- quang.

Rủi ro và lợi ích. Bởi vì bari thuốc xổ có một tỷ lệ cao hơn bỏ lỡ cho khối u đại tràng, nó gần như không đáng tin cậy như một số xét nghiệm khác. Nó cũng không cho phép bác sĩ để có một sinh thiết trong suốt quá trình để xác định xem polip được ung thư. Thử nghiệm này có thể hơi khó chịu vì barium và không khí trướng ruột lên. Còn có một rủi ro nhẹ là thủng thành ruột kết.

Soi ruột già

Soi ruột già là tương tự như sigmoidoscopy. Tuy nhiên, các dụng cụ được sử dụng là một ống mảnh dẻ dài gắn với một máy quay video và màn hình, cho phép bác sĩ xem toàn bộ đại tràng và trực tràng.

Rủi ro và lợi ích. Thủ tục này là thử nghiệm nhạy cảm nhất đối với khối u trực tràng và ung thư trực tràng. Phát hiện khối u tốt hơn là một thuốc xổ bari X – quang. Nếu bất kỳ khối u được tìm thấy trong kiểm tra, bác sĩ có thể loại bỏ chúng ngay lập tức hoặc lấy mẫu mô (sinh thiết) để phân tích. Để chuẩn bị cho kiểm tra, làm theo hướng dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống và dùng thuốc nhuận tràng để làm sạch đường ruột. Có khả năng nhận được một thuốc an thần nhẹ để làm cho thoải mái hơn. Những rủi ro của nội soi chẩn đoán bao gồm xuất huyết và thủng thành đại tràng. Các biến chứng có nhiều khả năng xảy ra khi khối u được loại bỏ.

Máy vi tính tomographic colonography (CTC)

Cũng được gọi là nội soi, thử nghiệm này bao gồm một máy vi tính chụp cắt lớp quét, một X – quang có độ nhạy cao của ruột già. Sử dụng hình ảnh máy tính, bác sĩ xem mỗi một phần của ruột già và trực tràng mà không thật sự diễn ra bên trong cơ thể. Trước khi quét, làm sạch phân, nhưng các nhà nghiên cứu đang xem xét liệu quét có thể được thực hiện thành công mà không có sự chuẩn bị làm sạch ruột.

Rủi ro và lợi ích. Công nghệ này mới có thể làm cho đại tràng kiểm tra an toàn hơn, thoải mái hơn và ít xâm lấn. Nó có thể được thực hiện nhanh hơn và không cần giảm đau. Tuy nhiên, nó có thể không chính xác như nội soi thông thường. Một số nghiên cứu đã cho thấy nó có hiệu quả, nhưng không có đủ dữ liệu để làm một so sánh tốt giữa CTC và nội soi. Ngoài ra, phương pháp này không cho phép bác sĩ để loại bỏ khối u hoặc lấy mẫu mô. Nếu bác sĩ thấy khối u hay muốn mô mẫu, sẽ cần một nội soi.

Xét nghiệm DNA trong phân

Phương pháp tiếp cận mới này có thể phát hiện tế bào ung thư đã đổ ra trong phân. Các tế bào ác tính đã thay đổi DNA và kiểm tra này có thể phát hiện những đột biến DNA (đánh dấu) cho một số loại khối u ung thư và khối u tiền ung thư. Nghiên cứu đang được tiến hành để tăng tính chính xác và xác định mức độ thường xuyên cần được thực hiện.

Rủi ro và lợi ích. Thử nghiệm này được thiết kế chủ yếu để phát hiện ung thư ruột kết. Nó có sẵn nhưng đã không được xác nhận.

Thử nghiệm di truyền

Nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng, có thể là một ứng cử viên để thử nghiệm di truyền. Xét nghiệm máu này có thể giúp xác định xem đang ở tăng nguy cơ ung thư đại tràng hoặc trực tràng.

Rủi ro và lợi ích. thử nghiệm di truyền không phải không có nhược điểm. Các kết quả có thể mơ hồ, và sự hiện diện của một gen khiếm khuyết không có nghĩa là sẽ phát triển ung thư. Biết có một khuynh hướng di truyền có thể cảnh báo về sự cần thiết phải kiểm tra thường xuyên.

Phương pháp điều trị và thuốc

Mặc dù một số loại khối u đại tràng đến nay nhiều khả năng trở thành ác tính hơn những loại khác, một nghiên cứu bệnh học thường phải xem xét mô polip dưới kính hiển vi để xác định xem nó có khả năng ung thư. Vì lý do đó, bác sĩ có thể loại bỏ tất cả các khối u phát hiện trong một cuộc kiểm tra ruột.

Phần lớn của khối u có thể được loại bỏ trong quá trình nội soi hoặc sigmoidoscopy bởi snaring chúng với một vòng dây điện, đồng thời cắt thân cây của các polip và đốt để ngăn ngừa chảy máu. Một số khối u nhỏ có thể được đốt cháy với một dòng điện. Các rủi ro của loại bỏ polip (polypectomy) bao gồm chảy máu và thủng của ruột kết.

Khối u quá lớn không thể đạt được một cách an toàn thường được phẫu thuật cắt bỏ, thường là bằng cách sử dụng kỹ thuật nội soi. Điều này có nghĩa bác sĩ phẫu thuật thực hiện các hoạt động thông qua một vài vết mổ nhỏ ở thành bụng, bằng cách sử dụng dụng cụ với máy ảnh mà hiển thị ruột già trên một màn hình video. Phẫu thuật nội soi có thể nhanh hơn và ít đau hơn thực hiện phẫu thuật truyền thống bằng cách sử dụng duy nhất một vết mổ lớn. Một khi các phần ruột già chứa các polip được lấy ra, các polip không thể tái diễn, nhưng có cơ hội phát triển của khối u mới trong các khu vực khác của ruột già trong tương lai. Vì lý do đó, theo dõi chăm sóc là vô cùng quan trọng.

Một số trung tâm y tế chuyên ngành thực hiện sự giải phẩu màng nhầy nội soi (EMR) để loại bỏ khối u lớn hơn với colonoscope. Đối với kỹ thuật này một chất lỏng, như nước muối được tiêm dưới polip để nâng cao và cô lập các polip từ mô xung quanh. Điều này làm cho nó dễ dàng hơn để loại bỏ một polip lớn. Với thủ thuật này có thể tránh được phẫu thuật, nhưng tỷ lệ biến chứng có thể cao hơn.

Trong trường hợp hiếm gặp, hội chứng di truyền, ví dụ như gia đình adenomatous polyposis (FAP), bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện một hoạt động để loại bỏ toàn bộ đại tràng và trực tràng. Sau đó, trong một thủ tục được gọi là hai mạch tiếp hợp với nhau thành túi hậu môn, một túi được xây dựng từ cuối ruột non gắn trực tiếp vào hậu môn. Điều này cho phép trục xuất chất thải thông thường, mặc dù có thể có một số đi tiêu chảy.

Phòng chống

Rất có thể làm giảm nguy cơ bị khối u ruột kết và ung thư trực tràng bằng cách kiểm tra thường xuyên và bằng cách làm thay đổi nhất định trong chế độ ăn uống và lối sống. Những gợi ý sau đây có thể giúp giảm nguy cơ khối u ruột kết và ung thư trực tràng:

Chú ý đến canxi. Canxi đáng kể có thể bảo vệ chống lại các khối u ruột kết và ung thư, ngay cả khi đã có họ trước đây. Nguồn thức ăn tốt của canxi bao gồm thức ăn loại chất béo hoặc sữa ít chất béo và các sản phẩm sữa khác, bông cải xanh, cải xoăn và đóng hộp cá hồi với xương. Vitamin D, trong đó trợ giúp sự hấp thu canxi cũng xuất hiện để giúp giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nhận được vitamin D từ thực phẩm như các sản phẩm sữa vitamin D tăng cường chất, gan, lòng đỏ trứng và cá. Ánh sáng mặt trời cũng chuyển đổi một hóa chất trong da thành một hình thức sử dụng của vitamin này. Nếu không uống sữa hoặc tránh ánh nắng mặt trời, có thể xem xét việc cả vitamin D và bổ sung một lượng canxi.

Bao gồm nhiều trái cây, rau và ngũ cốc trong chế độ ăn uống. Những loại thực phẩm có nhiều chất xơ có thể cắt giảm nguy cơ phát triển khối u đại tràng. Trái cây và rau quả cũng chứa chất chống oxy hóa có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Hội Ung Thư Mỹ khuyến nghị nên ăn ít nhất là năm phần trái cây và rau mỗi ngày. Hãy tìm trái cây và rau quả màu vàng và màu xanh lá hoặc màu cam đậm như chard, bok choy, rau bina, dưa đỏ, xoài, bí butternut acorn và khoai lang cũng như các loại rau cải bắp, bao gồm bông cải xanh, Brussels sprouts và súp lơ. Lycopene, một chất dinh dưỡng được tìm thấy trong cà chua và hoa quả và rau màu đỏ khác, chẳng hạn như dâu tây và ớt chuông đỏ có thể là chống ung thư.

Theo dõi lượng chất béo. Một số loại chất béo có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết, nhưng các loại khác được bảo vệ. Điều quan trọng để hạn chế chất béo bão hòa từ thịt đỏ cũng như chế biến thịt như hotdogs, xúc xích. Các loại thực phẩm có chứa chất béo bão hòa bao gồm toàn sữa, phô mai, kem, dừa và dầu cọ. Giới hạn tổng lượng chất béo  đến ít hơn 35 phần trăm calo hàng ngày, không nhiều hơn 10 phần trăm đến từ chất béo bão hòa. Chất béo lành mạnh như omega – 3 fatty acids trong c , quả óc chó và dầu ôliu có thể bảo vệ khỏi ung thư. Hãy thử để có được phần lớn lượng chất béo  từ các loại thực phẩm.

Hạn chế uống rượu. Tiêu thụ trung bình đến nặng lượng rượu, nhiều hơn một ly một ngày cho phụ nữ và hai dành cho nam giới có thể làm tăng nguy cơ bị khối u ruột kết và ung thư. Uống được coi là chấp nhận 12 – 15 centiliters rượu vang, 35 centiliters của bia hay 1,5 4,5 centiliters rượu 80. Hạn chế rượu tiêu thụ có thể làm giảm nguy cơ , ngay cả khi ung thư ruột kết trong lịc sử gia đình.

Ngưng hút thuốc lá. Hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết và một loạt các bệnh khác. Nói chuyện với bác sĩ về cách để bỏ thuốc lá có thể.

Vận động cơ thể và duy trì một trọng lượng cơ thể khỏe mạnh. Kiểm soát trọng lượng có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Và hoạt động thể chất có thể cắt giảm đáng kể nguy cơ ung thư ruột già. Hội Ung Thư Mỹ khuyến cáo ít nhất 30 phút hoạt động thể chất năm ngày hoặc nhiều hơn một tuần. Bốn mươi lăm phút hoặc nhiều hơn thậm chí còn tốt hơn. Nếu đang thừa cân, mất trọng lượng cho đến khi ở một mức độ lành mạnh và duy trì nó.

Nói chuyện với bác sĩ về aspirin. Các nghiên cứu về vai trò của aspirin trong polip và phòng chống ung thư được trộn lẫn. Một số nghiên cứu cho thấy sử dụng aspirin thường xuyên có thể giảm rủi ro, nhưng những người khác cho thấy không có lợi ích. Aspirin sử dụng có thể làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa. Vì vậy, kiểm tra với bác sĩ trước khi bắt đầu bất kỳ chế độ aspirin.

Nói chuyện với bác sĩ về liệu pháp hormone (HT). Nếu là một người phụ nữ qua tuổi mãn kinh, liệu pháp hormone có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nhưng không phải tất cả các ảnh hưởng của HT là tích cực. HT như là một liệu pháp kết hợp estrogen cộng với progestin, có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, chứng mất trí, bệnh tim, đột quỵ và các cục máu đông, do đó nó không thường được sử dụng để ngăn ngừa khối u đại tràng. Thảo luận về các tùy chọn với bác sĩ. Cùng có thể quyết định những gì tốt nhất.

Nếu đang có nguy cơ cao, hãy xem xét các tùy chọn. Nếu đang có nguy cơ bị gia đình adenomatous polyposis (FA ) vì một lịch sử gia đình của bệnh, xem xét việc có tư vấn di truyền. Và nếu đã được chẩn đoán FAP, bắt đầu có các bài kiểm tra thường xuyên nội soi ở lứa tuổi thiếu niên và thảo luận về các tùy chọn với bác sĩ. Bác sĩ có thể khuyên nên có phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ đại tràng khi đang ở độ tuổi 20. Các bác sĩ khuyên những người có nguy cơ bị hội chứng Lynch bắt đầu có colonoscopies thường xuyên ở tuổi 20.

Theo Dieutri.vn

Tiêu chảy do kháng sinh

Tiêu chảy do kháng sinh

Tiêu chảy do kháng sinh! Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy có thể sẽ bắt đầu khoảng năm đến 10 ngày sau khi bắt đầu điều trị bằng kháng sinh. Đôi khi, tuy nhiên, tiêu chảy và các triệu chứng khác có thể không xuất hiện trong những ngày điều trị hoặc thậm chí cả tuần sau khi đã hoàn tất điều trị kháng sinh.

Định nghĩa

Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy được mô tả là tiêu chảy thường xuyên, đi tiêu lỏng xảy ra trong các phản ứng với thuốc điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn.

Thông thường, kháng sinh liên quan đến tiêu chảy là nhẹ và hết ngay sau khi ngừng thuốc kháng sinh. Nhưng trong một số trường hợp, kháng sinh liên quan đến tiêu chảy dẫn đến viêm đại tràng, viêm ruột già hoặc tạo thành nghiêm trọng hơn với bệnh viêm ruột kết được gọi là viêm đại tràng giả. Cả hai có thể gây ra đau bụng, sốt và tiêu chảy ra máu.

Kháng sinh liên quan tiêu chảy nhẹ có thể không cần điều trị. Nghiêm trọng hơn liên quan đến kháng sinh gây tiêu chảy có thể yêu cầu dừng, chuyển đổi thuốc kháng sinh.

Các triệu chứng

Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng từ nhẹ đến nặng.

Đối với hầu hết mọi người, kháng sinh liên quan đến tiêu chảy gây ra dấu hiệu và triệu chứng nhẹ, chẳng hạn như:

Phân sống.

Đi ngoài thường xuyên.

Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy có thể sẽ bắt đầu khoảng năm đến 10 ngày sau khi bắt đầu điều trị bằng kháng sinh. Đôi khi, tuy nhiên, tiêu chảy và các triệu chứng khác có thể không xuất hiện trong những ngày điều trị hoặc thậm chí cả tuần sau khi đã hoàn tất điều trị kháng sinh.

Một số người gặp phải hình thức tiêu chảy nghiêm trọng hơn liên quan đến kháng sinh. Phát triển quá mức của vi khuẩn có hại là nghiêm trọng, có thể có các dấu hiệu và triệu chứng của viêm đại tràng hoặc viêm đại tràng giả, chẳng hạn như:

Thường xuyên tiêu chảy.

Đau bụng và chuột rút.

Sốt.

Mủ trong phân.

Phân có máu.

Buồn nôn.

Gặp bác sĩ ngay nếu gặp các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tiêu chảy nghiêm trọng liên quan đến kháng sinh. Những dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho một số nguyên nhân, do đó bác sĩ có thể khuyên nên xét nghiệm để xác định nguyên nhân.

Nguyên nhân

Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy xảy ra khi thuốc kháng khuẩn (kháng sinh) phá vỡ sự cân bằng của các vi khuẩn tốt và xấu trong đường tiêu hóa.
Gần như tất cả kháng sinh có thể gây ra tiêu chảy liên quan đến kháng sinh, viêm đại tràng hoặc viêm đại tràng giả.

Các kháng sinh phổ biến nhất liên quan đến tiêu chảy bao gồm:

Cephalosporin, như cefixime và Cefpodoxime.

Clindamycin.

Erythromycin.

Penicillin,  amoxicillin và ampicillin.

Quinolones, chẳng hạn như ciprofloxacin, và levofloxacin.

Tetracycline, doxycycline và minocycline.
Đường tiêu hóa là một hệ sinh thái phức tạp với hàng triệu vi sinh vật, bao gồm hàng trăm loài vi khuẩn. Nhiều trong số đó là các vi khuẩn có lợi, thực hiện chức năng thiết yếu. Nhưng một số các vi khuẩn đường ruột sinh sống bình thường là có tiềm năng nguy hiểm. Các vi khuẩn xấu thường được kìm hãm bởi các vi khuẩn có lợi, khi sự cân bằng tinh tế giữa hai loại bị đảo lộn sẽ gây băn khoăn của bệnh tật, thuốc men hoặc các yếu tố khác.

Kháng sinh có thể gây hại, đặc biệt là phá hoại đến hệ sinh vật đường ruột vì chúng tiêu diệt vi khuẩn hữu ích cùng với những cái có hại. Nếu không có đủ vi sinh vật “tốt”, vi khuẩn “xấu”  kháng với các kháng sinh sử dụng, việc sản xuất độc tố có thể làm hư niêm mạc ruột và viêm ruột gây ra.

Clostridium difficile gây tiêu chảy nghiêm trọng nhất liên quan đến kháng sinh.
Các vi khuẩn là nguyên nhân gây nên hầu hết các trường hợp viêm đại tràng giả và nhiều trường hợp tiêu chảy nghiêm trọng liên quan đến kháng sinh là C. difficile. Hầu hết mọi người nhiễm C. difficile trong thời gian lưu trú tại một bệnh viện hoặc điều dưỡng tại nhà sau khi đã dùng thuốc kháng sinh.

Yếu tố nguy cơ

Kháng sinh liên quan đến tiêu chảy có thể xảy ra ở bất cứ ai trải qua điều trị bằng kháng sinh. Nhưng sẽ dễ bị tiêu chảy liên quan đến kháng sinh nếu:

Trước đây có tiền sử tiêu chảy liên quan đến khi dùng một thuốc kháng sinh.

Tuổi 65 trở lên.

Đã có phẫu thuật trên đường ruột.

Gần đây đã nằm điều trị tại bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão.

Có một căn bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn ảnh hưởng đến đường ruột, chẳng hạn như ung thư ruột già hoặc bệnh viêm ruột.

Các biến chứng

Hình thức nghiêm trọng nhất liên quan đến kháng sinh gây tiêu chảy, viêm đại tràng giả, có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng, bao gồm:

Mất nước. Tiêu chảy nặng có thể dẫn đến mất quá nhiều nước và chất điện giải, chủ yếu các chất như natri và kali. Mất nước quá nhiều có thể gây biến chứng nghiêm trọng. Các dấu hiệu và triệu chứng của mất nước bao gồm rất khô miệng, khát nước dữ dội, đi tiểu ít hoặc không có và suy nhược cùng cực.

Thủng ruột. Tổn thương niêm mạc của ruột già có thể dẫn đến một lỗ thủng trên thành đường ruột.

To đại tràng (megacolon). Trong điều kiện này, đại tràng trở nên không thể trục xuất khí và phân, trở thành ngày càng to. Các dấu hiệu và triệu chứng của megacolon độc hại bao gồm đau bụng và sưng tấy, sốt và suy nhược. Megacolon độc hại là một biến chứng nghiêm trọng có thể dẫn đến nhiễm trùng hoặc vỡ. Megacolon độc hại cần phải điều trị tích cực  thường là với thuốc.

Những chuẩn bị cho việc khám bệnh

Nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh tiêu chảy liên quan đến kháng sinh. Bác sĩ sẽ điều tra nguyên nhân tiềm năng của các dấu hiệu và triệu chứng.

Bởi vì các cuộc hẹn có thể được tóm tắt, và bởi vì thường có rất nhiều đề để quan tâm. Dưới đây là một số thông tin để giúp sẵn sàng, và những gì mong đợi từ bác sĩ.

Những gì có thể làm

Hãy nhận biết của bất kỳ hạn chế trước khi khám. Đồng thời thực hiện việc khám, hãy chắc chắn để hỏi nếu có bất cứ điều gì cần làm trước, chẳng hạn như hạn chế chế độ ăn uống.

Viết ra bất kỳ triệu chứng đã gặp, bao gồm bất kỳ mà có vẻ không liên quan đến lý do đến khám.

Ghi thông tin cá nhân chính, bao gồm bất kỳ điểm chính hoặc thay đổi cuộc sống gần đây. Nếu gần đây đã điều trị trong bệnh viện hoặc ở nhà dưỡng lão.

Tạo một danh sách tất cả thuốc men, cũng như bất kỳ loại vitamin bổ sung đang dùng. Nếu vừa mới dùng thuốc kháng sinh, ghi các thông tin trong danh sách thuốc.

Hãy đi cùng thành viên gia đình. Đôi khi có thể khó hấp thụ tất cả các thông tin cung cấp trong thời gian khám. Một người nào đó đi cùng có thể nhớ một cái gì đó mà bị mất hoặc quên.

Thời gian với bác sĩ là có hạn, nên chuẩn bị một danh sách câu hỏi có thể giúp tận dụng tối đa thời gian này. Danh sách các câu hỏi từ quan trọng nhất đến ít quan trọng trong trường hợp thời gian hạn chế.

Đối với kháng sinh liên quan tiêu chảy, một số câu hỏi cơ bản để yêu cầu bác sĩ bao gồm:

Những gì có thể gây ra triệu chứng hoặc tình trạng này?

Các nguyên nhân khác có thể có các triệu chứng hoặc tình trạng này?

Những loại xét nghiệm cần làm?

Có triệu chứng có thể tạm thời hoặc mãn tính ?

Các lựa chọn thay thế cho phương pháp tiếp cận chính đang đề xuất là gì?

Tôi có điều kiện y tế khác. Làm thế nào có thể quản lý chúng tốt nhất với nhau?

Có bất kỳ hạn chế mà cần phải làm theo?

Có thể thay thế thuốc đang quy định?

Có bất kỳ tài liệu quảng cáo hay tài liệu in khác có thể mang về nhà?

Điều gì sẽ xác định kế hoạch cho một buổi khám kế tiếp?

Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn sàng để yêu cầu bác sĩ, đừng ngần ngại đặt câu hỏi tại bất kỳ thời gian nào khi không hiểu điều gì đó.

Những gì mong đợi từ bác sĩ

Bác sĩ có thể sẽ hỏi một số câu hỏi. Sẵn sàng để trả lời họ và có thể cho phép thêm thời gian sau đó để trình bầy các điểm khác.

Bác sĩ có thể yêu cầu

Khi nào bắt đầu trải qua những triệu chứng đầu tiên?

Có các triệu chứng liên tục hoặc thỉnh thoảng?

Đang dùng thuốc kháng sinh?

Đã điều trị trong một bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão gần đây?

Những gì có thể làm trong khi chờ đợi

Tiếp tục uống thuốc kháng sinh theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Uống nhiều nước và các chất lỏng khác để thay thế chất dịch bị mất do tiêu chảy.

Ăn mềm, nhạt và tránh các loại thực phẩm nhiều gia vị hay thức ăn có dầu mỡ có thể làm nặng thêm tiêu chảy.

Ăn nhiều bữa ăn nhỏ thay vì một vài bữa ăn lớn hơn.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để chẩn đoán tiêu chảy liên quan đến kháng sinh, bác sĩ có thể:

Phân tích một mẫu phân. Nếu các triệu chứng là nghiêm trọng, có thể yêu cầu cung cấp các mẫu phân. Phân mẫu có thể được kiểm tra trong phòng thí nghiệm để xác định vi khuẩn gây tiêu chảy liên quan đến kháng sinh. Điều này giúp bác sĩ lựa chọn điều trị thích hợp.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị tiêu chảy liên quan đến kháng sinh phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng.

Phương pháp điều trị để đối phó với kháng sinh liên quan đến tiêu chảy nhẹ:

Nếu bị tiêu chảy nhẹ, triệu chứng có thể rõ ràng trong vòng một vài ngày sau khi điều trị kháng sinh kết thúc. Trong một số trường hợp bác sĩ có thể khuyên nên ngừng điều trị kháng sinh cho đến khi tiêu chảy giảm. Trong khi đó, bác sĩ có thể khuyên các kỹ thuật nên chăm sóc tại nhà để giúp đối phó với bệnh tiêu chảy cho đến khi nó được giải quyết.

Điều trị để chống lại vi khuẩn xấu trong tiêu chảy nghiêm trọng liên quan đến kháng sinh:

Nếu gặp viêm đại tràng hoặc viêm đại tràng giả, bác sĩ có thể khuyên nên dùng kháng sinh để diệt các vi khuẩn gây tiêu chảy xấu liên quan đến kháng sinh. Đối với nhiều người, kháng sinh này nhắm mục tiêu vào các vi khuẩn xấu gây ra dấu hiệu và triệu chứng. Đối với những người có viêm đại tràng giả, các triệu chứng tiêu chảy có thể trở lại và yêu cầu lặp đi lặp lại điều trị.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để đối phó với bệnh tiêu chảy, cố gắng:

Uống nhiều chất lỏng. Nước là tốt nhất, nhưng chất lỏng với natri và kali tăng có thể có ích. Tránh các đồ uống có nhiều chất đường hoặc chứa cồn hoặc caffeine, chẳng hạn như cà phê, trà và cola, có thể làm nặng thêm các triệu chứng.

Chọn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. Chúng bao gồm táo, chuối và gạo. Tránh các loại thực phẩm nhiều chất xơ như đậu, quả hạch và rau quả. Nếu cảm thấy triệu chứng được cải thiện, từ từ thêm chất xơ thực phẩm trở lại chế độ ăn uống.

Hãy thử ăn nhiều bữa ăn nhỏ thay vì một bữa ăn lớn. Khoảng cách các bữa ăn ngắn trong suốt cả ngày thay vì ăn hai hoặc ba bữa.

Tránh các loại thực phẩm kích thích. Những thức ăn cay, béo hoặc các loại thực phẩm chiên và bất kỳ loại thực phẩm khác mà làm cho các triệu chứng nặng hơn.

Thuốc chống tiêu chảy. Trong một số trường hợp tiêu chảy liên quan đến kháng sinh nhẹ, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc chống tiêu chảy, như loperamide. Nhưng bác sĩ kiểm tra trước khi dùng thuốc chống tiêu chảy vì chúng có thể cản trở khả năng của cơ thể để loại bỏ độc tố và dẫn đến biến chứng nghiêm trọng.

Thuốc thay thế

Nếu đang quan tâm đến việc cố gắng trị liệu bổ sung và thay thế cho tiêu chảy liên quan đến kháng sinh, thảo luận về các tùy chọn với bác sĩ. Một lựa chọn có thể bổ sung tập trung của các vi khuẩn có lợi. Chế phẩm sinh học có sẵn ở dạng viên nang hoặc chất lỏng và cũng thêm vào một số loại thực phẩm, chẳng hạn như một số thương hiệu sữa chua.

Về lý thuyết, bổ xung một sản phẩm sinh học vào đường ruột để giúp tăng cường mức độ vi khuẩn tốt trong đường tiêu hóa và giúp đánh bại vi khuẩn xấu. Nhưng có giới hạn bằng chứng để hỗ trợ việc sử dụng các chế phẩm sinh học như là một điều trị kháng sinh liên quan đến tiêu chảy. Các sản phẩm sinh học chứa các chủng vi khuẩn khác nhau ở liều khác nhau. Nó không đòi hỏi phải rõ ràng nhất về vi khuẩn hữu ích hoặc liều dùng bao nhiêu là cần thiết.

Phòng chống

Để giúp ngăn ngừa bệnh tiêu chảy liên quan đến kháng sinh, cố gắng:

Dùng thuốc kháng sinh chỉ khi cần thiết. Hạn chế sử dụng kháng sinh và không sử dụng thuốc kháng sinh, trừ khi bác sĩ cảm thấy thực sự cần thiết. Ví dụ, thuốc kháng sinh có thể điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn, nhưng nó sẽ không giúp nhiễm virus, chẳng hạn như cảm lạnh và cúm.

Nếu đang nằm viện, hãy yêu cầu người sẽ tiếp xúc phải rửa tay của mình trước khi chạm vào. Điều này có thể giảm nguy tiếp xúc với C. difficile, vi khuẩn có thể gây tiêu chảy nghiêm trọng liên quan đến kháng sinh.

Báo cho bác sĩ nếu đã có tiền sử tiêu chảy liên quan đến kháng sinh trong quá khứ. Có tiền sử tiêu chảy liên quan đến kháng sinh sẽ làm tăng cơ hội mà kháng sinh có thể gây phản ứng một lần nữa. Bác sĩ có thể chọn một thuốc kháng sinh ít có khả năng gây ra tiêu chảy nhất.

Hãy xem xét sản phẩm sinh học nếu đã có tiêu chảy liên quan kháng sinh trong quá khứ. Chế phẩm sinh học đều tập trung bổ sung vi khuẩn hữu ích có ở dạng viên hay lỏng. Một số sữa chua và các thực phẩm khác cũng chứa chế phẩm sinh học. Một số bằng chứng cho thấy chế phẩm sinh học dùng trong quá trình điều trị kháng sinh có thể làm giảm nguy cơ tiêu chảy ở những người đã có kháng sinh liên quan đến tiêu chảy do C. difficile trong quá khứ. Một số nghiên cứu đã không tìm thấy chế phẩm sinh học là hữu ích. Hãy hỏi bác sĩ về việc liệu chế phẩm sinh học có thể giúp ích gì.

Theo Dieutri.vn