Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Thực đơn dưỡng thận

Thực đơn dưỡng thận

Làm thế nào để người chưa suy thận có thể bảo vệ được quả thận của mình? Người suy thận nhẹ không tiến triển thành suy thận nặng? Người suy thận nặng không tiến triển sang giai đoạn cuối? Người đang lọc thận sống khoẻ với liệu pháp điều trị của mình?

Một thực đơn tốt cho thận phải bảo đảm không quá nhiều đạm và muối. Ảnh: Hồng Thái

Thận có ba chức năng chính: thải độc đặc biệt là urê; điều hoà huyết áp và tạo máu; tạo xương. Vì vậy khi suy thận sẽ có các biểu hiện liên quan đến ba chức năng này: ngộ độc urê, cao huyết áp, thiếu máu và loãng xương.

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống khoa học, sẽ góp phần phòng ngừa bệnh thận cũng như làm chậm tiến triển của bệnh.

Đối với quả thận mạnh lành

70% bệnh nhân suy thận là do bệnh cao huyết áp và tiểu đường, vì vậy cần tránh lối sống nguy cơ cao như hút thuốc , uống rượu, ít vận động, ăn mặn, ăn nhiều chất béo.

Nên có nếp sống điều độ, ăn 3 – 4 bữa mỗi ngày, không bao giờ để bị quá đói và không nên ăn quá no. Tăng vận động mỗi ngày bằng mọi hình thức khi có thể như đi bộ thay vì đi xe máy, leo cầu thang thay vì đi thang máy… hoặc có một hình thức vận động đều đặn mỗi ngày như đi bộ, tập dưỡng sinh, khiêu vũ… Nên kiểm tra sức khoẻ định kỳ để tầm soát căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, biểu hiện sớm của suy thận như microalbumin. Khi dùng thuốc nên xin ý kiến bác sĩ điều trị về ảnh hưởng của thuốc đối với thận, không nên tự ý dùng thuốc. Nếu đã mắc bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bạn cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng và điều trị một cách nghiêm ngặt.

Thông thường, một chế độ ăn không quá nhiều đạm (0,8 – 1g/kg/ngày), muối ở mức cho phép (3 – 5g muối/ngày) sẽ có lợi cho quả thận của bạn. Với thói quen ăn 3 – 4 lần/tuần các loại thực phẩm có độ đạm thấp như miến dong, bột báng, các sản phẩm từ bột năng như bánh canh, bánh bột lọc, súp măng cua… bạn đã giúp quả thận của mình được giảm tần suất làm việc độ 20 – 30%.

Không quên nhắc bác sĩ điều trị về lợi ích bảo vệ thận của thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế Angiotensin trong điều trị cao huyết áp, đặc biệt nếu bạn bị tiểu đường, cao huyết áp.

Bảo vệ quả thận đã thương tổn

Chán ăn là biểu hiện phổ biến ở bệnh nhân suy thận. Và đây là nguyên nhân chính làm bệnh nhân ăn không đủ năng lượng nhu cầu, buộc cơ thể phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ do thoái hoá đạm từ các khối cơ và hậu quả là tăng sản xuất urê, một độc tố cần được thải ra khỏi cơ thể qua thận. Do vậy, người suy thận phải tăng đậm độ năng lượng khẩu phần từ các nguồn béo tinh bột không chứa đạm; giảm lượng đạm từ ngũ cốc, tăng lượng thực phẩm chứa đạm có giá trị sinh học cao như trứng, sữa, thịt, cá, đậu hũ; thải bớt natri, kali, phốtpho trong thực phẩm khi chế biến; giảm muối.

Làm thế nào biết mình suy thận?

Ở giai đoạn rất sớm là tổn thương nhu mô thận, người suy thận không hề có triệu chứng gì trừ triệu chứng tiểu đạm vi thể (microalbumin). Khi chức năng thận còn dưới 10% thì mới có biểu hiện rõ ràng như tiểu nhiều, thiếu máu, phù, cao huyết áp, mau mệt, chán ăn. Giai đoạn cuối của suy thận, bệnh nhân tiểu ít hoặc không tiểu, lúc này người bệnh cần được cung cấp liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận để duy trì sự sống.

Để tăng đậm độ năng lượng khẩu phần và giảm lượng đạm từ ngũ cốc, người suy thận nên thay những món ăn luộc, kho bằng những món xào chiên hoặc tẩm bột chiên. Có một bữa ăn trong ngày sử dụng miến dong hoặc các sản phẩm từ bột lọc (như thay một tô phở gà bằng một tô miến gà). Hoặc vào các bữa ăn phụ nên chọn bánh bột lọc, súp măng cua, bột sắn dây pha đường. Nếu bạn chỉ quen ăn cơm thì có thể nấu cơm độn miến với công thức 200g gạo, 100g miến: miến ngâm nước cho mềm cắt thành sợi ngắn độ 0,5cm để ráo, khi cơm sôi đổ miến vào ghế đều. Với một chén cơm độn miến (có 4,1g đạm) thay cho chén cơm thường (có 5,9g đạm), bạn đã giảm được 1,8g đạm. Với lượng đạm giảm này, bạn có thể ăn thêm nửa hũ yaourt, một cái trứng cút là các thực phẩm có giá trị sinh học cao.

Để thải bớt kali, phốtpho, natri: các loại rau củ nên cắt nhỏ, ngâm nước, luộc với nhiều nước (gấp 5 – 10 lượng rau củ), đổ nước và chỉ ăn xác.

Để giảm muối: ngoài lượng muối tự nhiên trong thực phẩm (trung bình 2g/ngày), lượng muối có thể dùng để nêm và ăn thêm mỗi ngày 3g tức một muỗng gạt càphê muối, ba muỗng canh nước mắm (13ml) hoặc năm muỗng canh nước tương (20ml). Lượng nước uống bằng lượng nước tiểu trong ngày cộng 500ml.

Bệnh nhân có quả thận bị tổn thương nặng, cần sử dụng các liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận… cũng ăn uống như bệnh nhân có thương tổn thận nhưng cần nghiêm ngặt hơn vì nguy cơ thừa nước, muối, kali cao có thể dẫn đến tử vong. Tốt nhất, các trường hợp này cần được tư vấn trực tiếp của bác sĩ để xây dựng thực đơn cụ thể phù hợp với phương pháp điều trị.

TS.BS Tạ Thị Tuyết Mai – Trưởng khoa dinh dưỡng, bệnh viện nhân dân Gia Định, TPHCM

Theo Cẩm nang gia đình

Thuốc nào làm mệt thận?

Thuốc nào làm mệt thận?

Quá trình suy thận (thận mất khả năng lọc máu cho cơ thể) diễn ra một cách nhanh chóng (gọi là suy thận cấp) hoặc từ từ (suy thận mãn)

Ảnh: minh họa – Internet

Một số loại dược phẩm như thuốc kháng viêm không steroids (non-steroidal anti-inflammatory drugs – NSAIDs), thuốc trị cao huyết áp, một vài dạng thuốc kháng sinh, các phẩm màu dùng trong X – quang hay bức xạ có thể gây suy thận cấp.

Các thuốc NSAIDs can thiệp vào sự tổng hợp prostaglandin, vốn là một chất đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đủ lượng máu đi đến thận. Thiếu prostaglandin đồng nghĩa với việc giảm lưu lượng máu đến thận, làm cho thận hoạt động kém hiệu quả. Những bệnh nhân sử dụng NSAIDs liều cao, những bệnh nhân sẵn có các vấn đề về thận, bệnh nhân cao tuổi… rất dễ bị suy thận do NSAIDs gây ra. Bệnh nhân đang sử dụng thuốc lợi tiểu, nếu sử dụng thêm NSAIDs càng dễ bị suy thận. Vì vậy, những nhóm bệnh nhân này không nên tự ý mua thuốc NSAIDs để sử dụng mà cần phải có chỉ dẫn rõ ràng từ thầy thuốc .

Thuốc ức chế ACE và thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II là những nhóm thuốc dùng để trị bệnh cao huyết áp. Khi mới sử dụng những loại thuốc này, bệnh nhân nên khởi đầu ở liều thấp; sau đó, thường xuyên xét nghiệm máu để giám sát chức năng thận. Suy thận nhẹ thường xảy ra ở giai đoạn đầu sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu chức năng thận suy giảm quá 30% thì cần phải ngưng sử dụng thuốc ngay. Trong quá trình dùng, tuyệt đối không nên sử dụng kèm các thuốc NSAIDs.

Kháng sinh Aminoglycoside là những loại kháng sinh rất hữu dụng trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng 10% – 20% bệnh nhân bị suy thận khi sử dụng nhóm kháng sinh này, nhất là khi uống với liều cao hoặc dùng trong thời gian dài. Quá trình suy thận sẽ dễ thấy rõ chỉ sau một tuần sử dụng nhóm kháng sinh Aminoglycoside.

Những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường và bệnh thận càng dễ bị suy thận nếu được chụp X – quang có dùng màu phản quang. Khi lượng màu sử dụng nhiều, bệnh nhân bị mất nước thì càng dễ bị suy thận. Do vậy, bệnh nhân cần nạp vào cơ thể lượng nước thích hợp và dùng phẩm màu ít tác dụng phụ hơn.

Đối với những người dễ mắc bệnh thận, một vài loại dược phẩm như thuốc lợi tiểu sẽ làm cơ thể bị mất nước dẫn đến suy thận. Người bệnh cần lưu ý những loại thuốc kháng sinh, thuốc kháng nấm, thuốc kháng virus có thể gây suy thận. Trong trường hợp suy thận, bệnh nhân cần ngưng sử dụng các loại thuốc này; sau đó thông báo cho bác sĩ vì sử dụng chung nhiều loại dược phẩm cùng lúc thì đồng nghĩa với “bức tử” thận nhanh hơn.

Theo Người Lao Động

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận! Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Định nghĩa

Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Một bệnh thận đòi hỏi phải được chăm sóc y tế . Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận, lây lan đến máu và gây ra nhiễm trùng đe dọa tính mạng.

Nhiễm trùng thận điều trị thường bao gồm thuốc kháng sinh và thường đòi hỏi phải nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận có thể bao gồm:

Sốt.

Đau bên (sườn) hoặc háng.

Đau bụng.

Thường xuyên đi tiểu.

Mạnh mẽ, liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Cảm giác nóng hoặc đau khi đi tiểu.

Mủ hoặc máu trong (tiểu máu) nước tiểu.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Cũng làm cho một cuộc hẹn nếu đang điều trị cho một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng không được cải thiện.

Nhiễm trùng thận nặng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có triệu chứng nhiễm trùng thận điển hình kết hợp với nước tiểu có máu hay buồn nôn và ói mửa.

Nguyên nhân

Nhiễm trùng thận thường xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Vi khuẩn từ một bệnh nhiễm trùng ở nơi khác trong cơ thể cũng có thể lan truyền qua máu đến thận. Nhiễm trùng thận là bất thường thông qua tuyến đường này, nhưng nó có thể xảy ra trong một số trường hợp – ví dụ, khi một cơ quan ngoại lai, chẳng hạn như khớp nhân tạo, van tim bị nhiễm bệnh. Hiếm khi kết quả nhiễm trùng sau khi phẫu thuật thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thận bao gồm:

Nữ – giải phẫu. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thận hơn so với nam giới. Một người phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nhiều so một người đàn ông, do đó, vi khuẩn có ít khoảng cách để di chuyển từ bên ngoài cơ thể đến bàng quang. Những nơi gần niệu đạo vào âm đạo và hậu môn cũng tạo ra nhiều cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. Một khi một bệnh nhiễm trùng trong bàng quang có thể lây lan đến thận.

Tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Bất cứ điều gì cản trở dòng chảy của nước tiểu, làm giảm khả năng hoàn toàn trống rỗng bàng quang khi đi tiểu, chẳng hạn như sỏi thận, bất thường cấu trúc trong hệ thống tiết niệu, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận.

Làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều kiện y tế làm suy yếu hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như ung thư, tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch vi rút ở người (HIV), làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Một số thuốc như thuốc dùng để ngăn chặn từ chối của các cơ quan cấy ghép có tác dụng tương tự.

Thiệt hại cho dây thần kinh xung quanh bàng quang. Dây thần kinh hoặc tổn thương tủy sống có thể ngăn chặn các cảm giác của một nhiễm trùng bàng quang, để không biết khi nó tiến tới một bệnh nhiễm trùng thận.

Kéo dài việc sử dụng một ống thông tiểu. Ống thông tiểu là ống dùng để thoát nước tiểu từ bàng quang. Có thể có một ống thông được đặt trong bàng quang  trong và sau khi một số thủ tục phẫu thuật và xét nghiệm chẩn đoán. Một ống thông có thể được sử dụng liên tục.

Một điều kiện mà nguyên nhân nước tiểu chảy không đúng cách. Trong trào ngược bàng quang niệu quản (vesicoureteral), số nhỏ dòng nước tiểu từ bàng quang trở lại lên niệu quản và thận. Những người bị trào ngược vesicoureteral có thể bị nhiễm trùng thận thường xuyên trong thời thơ ấu và có nguy cơ cao mắc bệnh thận trong cả tuổi thơ và tuổi trưởng thành.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh nhiễm trùng thận có thể dẫn đến khả năng biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Suy thận. Một bệnh thận có thể dẫn đến tổn thương thận thường là nguyên nhân gây suy thận mãn tính.

Ngộ độc máu (nhiễm trùng huyết). Thận lọc chất thải khỏi máu và sau đó trở lại trong máu với phần còn lại của cơ thể. Nếu có một nhiễm trùng thận, vi khuẩn có thể lây lan.

Biến chứng mang thai. Phụ nữ phát triển một nhiễm trùng thận trong thai kỳ có thể có tăng nguy cơ mang thai em bé nhẹ cân.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể nghi ngờ có một nhiễm trùng thận dựa trên dấu hiệu và triệu chứng như sốt và đau lưng. Nếu bác sĩ nghi ngờ có mắc bệnh thận, người đó có thể sẽ yêu cầu một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Thuốc kháng sinh cho bệnh thận

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thận. Những loại thuốc sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe   và các vi khuẩn tìm thấy trong xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận bắt đầu rõ ràng thuyên giảm trong vòng một vài ngày điều trị. Nhưng có thể cần phải tiếp tục dùng kháng sinh cho một tuần hoặc lâu hơn. Dùng toàn bộ khóa điều trị của thuốc kháng sinh được đề nghị của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn loại bỏ.

Các bệnh nhiễm trùng thận nặng

Đối với một nhiễm trùng thận nặng, bác sĩ có thể thừa nhận đến bệnh viện . Điều trị ở bệnh viện có thể bao gồm thuốc kháng sinh nhận được thông qua một tĩnh mạch ở cánh tay (tĩnh mạch). Bao lâu sẽ ở lại trong bệnh viện phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng.

Điều trị các bệnh nhiễm trùng thận tái phát

Khi nhiễm trùng thận tái diễn thường xuyên hoặc nhiễm trùng sẽ trở thành mãn tính, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế của một chuyên gia có thể xác định nguyên nhân tiềm ẩn và có khả năng điều trị được.

Nhiễm trùng thận thường xuyên có thể là kết quả của một vấn đề y tế cơ bản, chẳng hạn như là một sự bất thường về cấu trúc. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia thận (nephrologist) hoặc bác sĩ phẫu thuật tiết niệu thẩm định để xác định xem bất thường tiết niệu có thể gây ra nhiễm trùng. Một bất thường cấu trúc có thể cần phải được phẫu thuật sửa chữa.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để giảm đau hoặc khó chịu khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng thận, cố gắng:

Áp dụng nhiệt. Đặt một miếng đệm nóng trên lưng, bụng hoặc phía bên để làm giảm cảm giác áp lực hoặc đau đớn.

Sử dụng thuốc giảm đau. Đối với sốt hoặc khó chịu, một thuốc giảm đau có chứa acetaminophen (Tylenol…) không aspirin theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc có một toa thuốc bác sĩ cung cấp.

Uống nước. Uống nhiều nước sẽ giúp đỡ để tuôn vi khuẩn ra từ đường tiết niệu. Tránh các loại nước ép cam quýt, cà phê, rượu và nước giải khát có caffein cho đến khi bệnh đã xóa. Những sản phẩm này có thể làm trầm trọng thêm nhu cầu thường xuyên cấp bách để đi tiểu

Phòng chống

Giảm nguy cơ mắc bệnh thận bằng cách thực hiện những bước để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ, đặc biệt có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu nếu họ:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng có thể giúp loại bỏ vi khuẩn ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Đi tiểu thường xuyên. Tránh giữ lại khi cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu.

Rỗng bàng quang sau khi giao hợp. Đi tiểu càng sớm càng tốt sau khi giao hợp sẽ giúp cho sạch vi khuẩn từ niệu đạo, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Lau sạch cẩn thận. Đối với phụ nữ, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu và sau khi đi tiêu giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong khu vực hậu môn lan sang niệu đạo.

Rửa nhẹ nhàng. Rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn một cách cẩn thận mỗi ngày. Nhưng không sử dụng xà phòng mạnh hoặc rửa mạnh mẽ. Làn da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Tránh sử dụng các sản phẩm phụ nữ ở vùng sinh dục . Sử dụng các sản phẩm nữ tính, chẳng hạn như thuốc xịt khử mùi hoặc douches, trong khu vực bộ phận sinh dục có thể kích thích niệu đạo.

Theo Dieutri.vn

Nang thận

Nang thận

Bệnh lý nang thận bao gồm 2 nhóm chính. Loại nang thận thường gặp nhất là “nang thận đơn giản” là loại không có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Loại nang thận còn lại được gọi là “nang thận phức tạp”. Thuật ngữ “nang thận phức tạp” dùng để chỉ một nhóm các loại nang có những đặc tính khác nhau khiến các bác sĩ nghi ngờ đến ung thư thận.

“Nang thận đơn giản” là một chẩn đoán có định nghĩa rất rõ ràng phụ thuộc vào phương tiện chẩn đoán hình ảnh nào phát hiện ra nó (siêu âm, CT scan v.v…).
 
Nang thận đơn giản là một khoang hình cầu nằm đâu đó trong thận bên trong chứa đầy dịch. Thành nang rất mỏng và không gồ ghề. Bên trong nang chỉ có dịch và khi được lấy ra thì ta sẽ thấy chất dịch này có màu vàng hoặc trong.
Nang thận đơn giản không có nguy cơ trở thành ung thư và do đó không cần phải lo lắng gì về nó cả.
Thật vậy, ở độ tuổi 50, bạn sẽ có khoảng 50% khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản. Khi tuổi ngày càng lớn hơn, khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản sẽ ngày càng cao hơn và kích thước của chúng cũng ngày càng lớn hơn. Nếu bạn trên 50 tuổi và không hề có 1 cái nang thận nào cả thì thật ra bạn đang nằm trong nhóm thiểu số.
Có một loại nang thận đơn giản khác được gọi là nang tăng đậm độ. Nang tăng đậm độ là một loại nang thận đơn giản có máu bên trong. Nang thận tăng đậm độ không phải là một dạng nghi ngờ ung thư thận và nó chỉ là một loại nang thận đơn giản mà thôi.
Phần lớn các nang thận đơn giản được xác định trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh được thực hiện vì một lý do khác. Các nang thận đơn giản không có các biểu hiện gợi ý trên lâm sàng. Thông thường các nang thận đơn giản không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và không gây tổn hại cho cơ thể.
Trong một số ít trường hợp, các nang thận có thể gây ra những triệu chứng như đau hông lưng, nhưng những trường hợp này rất hiếm. Nếu một nang thận được cho là có thể gây đau hoặc gây ra những triệu chứng khác, nó thường có thể được điều trị bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh bằng cách chọc hút và làm xơ hóa nang dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT. Thủ thuật chọc hút được định nghĩa là cách đâm kim xuyên qua da để hút dịch từ trong nang ra ngoài rồi sau đó thực hiện xơ hóa.
Thủ thuật xơ hóa là cách bác sĩ tiêm một chất hóa xơ vào bên trong nang. Thủ thuật chọc hút và xơ hóa các nang thận đơn giản có triệu chứng thường rất hiệu quả mặc dù trong một số trường hợp nang thận có thể xuất hiện trở lại. Ngoài cách theo dõi (nếu nang thận không gây khó chịu quá mức), thủ thuật chọc hút và xơ hóa là cách điều trị ít xâm lấn nhất đối với các nang thận đơn giản có gây triệu chứng.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, nang thận đơn giản có triệu chứng có thể cần phải phẫu thuật nội soi ổ bụng bóc vỏ nang. Khi thực hiện thủ thuật này, bác sĩ sẽ rạch một đường nhỏ ở thành bụng của bạn rồi nhẹ nhàng bơm hơi vào bụng. Nang thận sẽ được định vị và thành nang sẽ được bóc tách ra ngoài để tránh tình trạng nang tái lập trở lại. Thông thường, thủ thuật này được áp dụng để điều trị nang thận đơn giản trong trường hợp cách điều trị bằng chọc hút và xơ hóa thất bại. Thủ thuật này rất hiệu quả và bệnh nhân thường cần phải ở lại trong bệnh viên khoảng 1 đêm.
“Nang thận phức tạp” khác với nang thận đơn giản ở chỗ nang có thể có bờ gồ ghề. Để được xếp vào nhóm nang thận phức tạp, nang phải có một vài chỗ không đồng nhất bên trong. Các chỗ không đồng nhất này có thể xuất hiện ở nhiều biến thể khác nhau. Vách ngăn là các thành bên trong nang. Các vách ngăn này có thể rất mỏng và đều hoặc tương đối dày và thô. Càng có nhiều vách ngăn hoặc vách ngăn càng dày thì càng cho gợi ý nang này có liên quan đến ung thư thận.
Nang cũng có thể bị canxi hóa. Đây là hiện tượng canxi được nhìn thấy bên trong nang. Có thể có rất ít canxi hoặc vết canxi hóa tương đối dày.
Nang thận phức tạp còn có thể có nhu mô bên trong và được tăng tưới máu. Hiện tượng tăng tưới máu có nghĩa là nang thận được cung cấp thêm nhiều máu hơn, hiện tượng này có thể phát hiện ra bằng cách tiêm chất tương phản vào tĩnh mạch rồi sau đó quan sát bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. HIện tượng tăng tương phản bên trong các nang thận phức tạp gợi ý nhiều đến ung thư thận và đòi hỏi cần phải có sự can thiệp điều trị của các bác sĩ niệu khoa.
Nhiều nang thận phức tạp có thể chỉ có ít nguy cơ là hoặc trở thành ung thư thận.
Tuy nhiên, có một số nguy cơ khiến nang thận phức tạp có thể trở thành ung thư thận và do đó nó cần phải được đánh giá bởi một bác sĩ niệu khoa nhiều kinh nghiệm cùng với sự hội chẩn của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Thông thường, các nang thận phức tạp có thể được giải quyết bằng cách theo dõi chủ động để xem nó có thay đổi theo thời gian hay không.
Nguy cơ mà một nang thận phức tạp là, hoặc trở thành, ung thư tùy thuộc vào hình dạng của nó. Có một hệ thống phân độ nang thận dựa trên hình dạng của nó trên CT giúp các bác sĩ tiên đoán được khả năng các nang thận phức tạp trở thành ung thư. Hệ thông phân độ này được gọi là phân độ Bosniak. Phân độ Bosniak cung cấp những tiêu chuẩn để phân độ các nang dựa trên nguy cơ trở thành ung thư thận.

Phân độ Bosniak dành cho các nang thận phức tạp

 NhómI

Các nang thận đơn giản lành tính với thành mỏng như cọng tóc và không có các vách ngăn, không có các điểm canxi hóa, hoặc không có các thành phần đặc bên trong. Nó có đậm độ của nước và không tăng âm khi tiêm chất cản quang.

 NhómII

Nang thận lành tính có thể có một vài vách ngăn mỏng như cọng tóc bên trong. Có các vết canxi hóa đồng nhất ở thành nang hoặc ở các vách ngăn.

 NhómIIF

Các nang này có thể có nhiều vách ngăn mỏng. Có thể thấy những chỗ tăng quang nhỏ ở các vách ngăn hoặc thành nang và có thể có vài chỗ dày chút ít ở vách ngăn hoặc thành nang. Nang có thể có vài vết canxi hóa tạo thành nốt và dày nhưng không có tăng âm khi tiêm cản quang. Không có tăng quang ở thành phần mô mềm của nang.

 NhómIII

Là những tổn thương ở dạng trung gian giữa nang và khối đặc có thành dày không đều hoặc có vách ngăn có bắt thuốc cản quang.

 NhómIV

Những tổn thương này rất giống với các tổn thương nang và có chứa thành phần mô mềm có bắt thuốc cản quang.

Phân độ Bosniak được liệt kê phía trên được thiết lập để giúp bác sĩ tiên đoán được khả năng liên quan đến ung thư thận của các nang thận phức tạp. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm I có khả năng trở thành ung thư thấp hơn 2%. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm II và II có khả năng trở thành ung thư lần lượt từ 18%% và 33%. Phần lớn các nang thận thuộc Bosniak nhóm IV (khoảng 92%) có liên quan đến ung thư thận.

Bằng cách sử dụng hệ thống phân độ Bosniak, người bệnh có thể hợp tác với bác sĩ niệu khoa để thiết lập kế hoạch điều trị. Kế hoạch điều trị sẽ được kết hợp chặt chẽ tất cả các yếu tố bao gồm tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cũng như nguy cơ ung thư thận kèm theo. Kế hoạch điều trị có nhiều mức độ khác nhau, thay đổi từ thấp nhất là theo dõi tích cực cho đến cao nhất là cắt bỏ thận tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Theo Kidney Cancer Institute (Yhọc.net)

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Dấu hiệu nhận biết viêm cầu thận

Dấu hiệu nhận biết viêm cầu thận

Viêm cầu thận (VCT) là một bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm của các tiểu cầu thận và các mạch máu nhỏ trong thận. Bệnh có thể xuất hiện độc lập hoặc kết hợp với hội chứng thận hư. Bệnh được phân loại thành nhiều thể khác nhau, được chia thành các nhóm theo mức độ tiến triển.

Chẩn đoán thể bệnh VCT rất quan trọng vì kết quả và điều trị khác nhau trong các loại hình khác nhau. VCT tiên phát do tổn thương nội tại của thận, trong khi VCT thứ phát có liên quan đến một số bệnh nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây bệnh), thuốc , bệnh hệ thống (lupus ban đỏ, viêm mạch) hoặc bệnh tiểu đường.

Triệu chứng điển hình là gì? Triệu chứng VCT phụ thuộc vào từng thể bệnh và sự tiến triển cấp hay mạn tính. Các triệu chứng chung có thể bao gồm: nước tiểu sẫm màu, có bọt (do dư thừa protein); tăng huyết áp; phù; mệt mỏi, thiếu máu; đi tiểu ít hơn bình thường.

Phân loại thể bệnh: Có nhiều cách phân loại, nhưng phân loại theo cách tiến triển của bệnh là cách được sử dụng rộng rãi. Bao gồm:

Bệnh mỏng màng đáy cầu thận: Là bệnh di truyền gen trội với biểu hiện lâm sàng là tình trạng đái máu đại thể dai dẳng. Tổn thương được xác định bằng sinh thiết thận và soi trên kính hiển vi điện tử thấy màng đáy cầu thận mỏng hơn bình thường.

Bệnh cầu thận tiến triển chậm: Viêm cầu thận tổn thương tối thiểu: loại bệnh này chiếm tới 80% hội chứng thận hư ở trẻ em, nhưng lại chỉ chiếm 20% HCTH ở người lớn. Điều may mắn là thể bệnh này đáp ứng điều trị tương đối tốt. Hơn 90% trẻ em khỏi bệnh sau 3 tháng điều trị, tỉ lệ khỏi bệnh ở người lớn là 80%. Thuốc thường được dùng là corticoid. Thuốc giảm miễn dịch được chỉ định khi có hiện tượng kháng corticoid.

Xơ cứng cầu thận từng ổ, từng đoạn, còn gọi là viêm cầu thận ổ: có thể nguyên phát hay thứ phát trong các bệnh lý như viêm thận ngược dòng (do nhiễm khuẩn ở đường tiết niệu ), hội chứng Alport (viêm cầu thận, tổn thương thính giác, thị giác), lạm dụng heroin, HIV. Biểu hiện của bệnh như một hội chứng thận hư với suy thận ở nhiều mức độ, tình trạng xơ cứng chỉ xảy ra ở một số vị trí nhất định. Tổn thương tiến triển chậm dẫn đến suy thận và đáp ứng kém với điều trị corticoid.

Viêm cầu thận màng: Là thể bệnh hay gặp ở người lớn. Biểu hiện lâm sàng là sự kết hợp triệu chứng của cả viêm cầu thận và hội chứng thận hư. Thường vô căn nhưng cũng có thể kết hợp với một số bệnh như viêm gan, sốt rét, ung thư phổi và ruột, lupus ban đỏ. 1/3 số bệnh nhân tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Điều trị corticoid cũng được sử dụng như một nỗ lực để hạn chế sự tiến triển của bệnh.

Một số bệnh lý khác gây tổn thương thận: Tăng huyết áp, bệnh thận do tiểu đường. Biểu hiện sớm là microalbumin niệu. Vì vậy việc xét nghiệm nước tiểu để phát hiện bệnh sớm là rất quan trọng. Tiến triển thường chậm và phụ thuộc vào việc điều trị nguyên nhân gây bệnh.

Bệnh cầu thận tiến triển nhanh: Về mặt mô bệnh học, nhóm bệnh này được đặc trưng bởi sự gia tăng nhanh chóng về số lượng tế bào trong tiểu cầu thận. Quá trình suy thận dẫn đến giai đoạn cuối cũng diễn ra nhanh chóng trong thời gian từ vài tuần đến vài tháng tùy theo từng loại.

Bệnh thận IgA: Đây là nguyên nhân gây viêm cầu thận hàng đầu ở người lớn, nam mắc nhiều hơn nữ. Đặc thù của bệnh này là sự xuất hiện thường xuyên hồng cầu trong nước tiểu. Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 – 48 giờ sau một nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc tiêu hóa . Tổn thương trực tiếp cầu thận do sự lắng đọng IgA trên màng đáy. Tiên lượng bệnh rất khác nhau, khoảng 20% bệnh nhân sẽ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối.

Viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn: Có thể xảy ra với nhiều loại nhiễm khuẩn, nhưng nguyên nhân hay gặp nhất là sau nhiễm liên cầu nhóm D, đặc biệt là Streptoccocus pyogenes. Bệnh xuất hiện sau các nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn da khoảng 10 – 14 ngày. Chẩn đoán dựa vào việc khai thác tiền sử nhiễm liên cầu trước đó. Các test huyết thanh chẩn đoán liên cầu rất hữu ích để cung cấp thêm bằng chứng. Sinh thiết thận hiếm khi được đặt ra. Được điều trị đúng cách, bệnh thường tiến triển tốt và khỏi bệnh trong 2 – 4 tuần.

Viêm cầu thận tăng sinh màng/viêm cầu thận tăng sinh gian mạch: Bệnh có thể tiên phát hoặc thứ phát sau lupus ban đỏ, viêm gan virut. Người ta nhận thấy các tiểu cầu thận có hiện tượng tăng sinh tế bào bất thường cả ở màng đáy, mao mạch và khoảng gian mạch. Biểu hiện bằng tình trạng thận hư – viêm thận và tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối là điều không tránh khỏi.

Viêm cầu thận tiến triển nhanh: Thể bệnh này có tiên lượng xấu. Bệnh tiến triển nhanh chóng đến suy thận giai đoạn cuối trong vòng vài tuần. Corticoid có thể được sử dụng nhưng hiệu quả không thực sự rõ ràng. Bao gồm các nguyên nhân sau: Viêm cầu thận tế bào hình liềm (Tổn thương cầu thận kết hợp với viêm thận kẽ. Bệnh xuất hiện sau viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Chụp Immunofluorescen cho thấy hình ảnh những tế bào hình liềm xuất hiện cả ở tiểu cầu và khoảng gian mạch; Hội chứng goodpasture (là một loại bệnh tự miễn dịch. Người ta phát hiện kháng thể kháng màng đáy ở thận và phổi. Vì thế biểu hiện lâm sàng của bệnh ngoài triệu chứng của VCT còn có triệu chứng của tổn thương phổi như ho ra máu); Các bệnh lý tổn thương mạch máu (điển hình là viêm nhiều động mạch (polyartritis) và U hạt Wegener. Chẩn đoán dựa vào sự xuất hiện kháng thể kháng tế bào chất của bạch cầu trong máu).

Theo 24h.com

Dấu hiệu của bệnh thận

Dấu hiệu của bệnh thận

Thận là một trong những căn bệnh gây ra nhiều biến chứng phụ rất cao, do đó phải tìm ra dấu hiệu của bệnh càng sớm càng tốt trước khi quá muộn. Đau thận gây đau vùng hông, lưng, sát gần xương sườn, có thể gây sốt. Ngoài ra, sự thay đổi màu của nước tiểu cũng do bệnh tại thận.

Thận có chức năng lọc máu để thải chất độc tạo ra nước tiểu và tạo ra những nội tiết tố để điều hòa lượng nước tiểu và các ảnh hưởng đến huyết áp . Nước tiểu từ thận tạo ra rẽ theo hai ống dẫn là niệu quản, rồi chảy xuống bàng quang. Nước tiểu đọng lại đó vài tiếng đồng hồ rồi được đưa ra ngoài theo ống niệu đạo. Đối với nam giới, qua đường ống niệu đạo để ra ngoài còn có tinh dịch bao gồm tinh trùng do tinh hoàn sản xuất ra và các dịch của tuyến tiền liệt và túi tinh.

Các dấu hiệu của bệnh

Thông thường các bệnh nhân thường có dấu hiệu đau lưng liền kết luận bị sỏi thận. Tuy nhiên có 98% đau lưng không phải là do bệnh thận mà lại là do bệnh từ cột sống, lưng, thần kinh hoặc bệnh đau toàn thân. Các bệnh nhân bệnh cúm ngoài đau khắp mình thì vùng lưng đau dữ dội hơn. 2% đau lưng do bệnh thận thì chỉ có hơn 1% là do sỏi thận gây ra, còn lại là do viêm thận, bướu thận.

* Đau thận gây đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn có thể kèm theo sốt.

* Đau sỏi thận, sỏi niệu quản gây ra những cơn đau dữ dội, đau từ sau lưng chạy xuống bộ phận sinh dục.

Các triệu chứng của đau lưng:

* Khi bệnh nhân đau ê ẩm, đau xuống chân thì là do đau thần kinh tọa, đau cột sống.

* Đau lưng sát gần xương chậu, đau nhói khi đứng dậy hay khiêng vác đồ nặng, cơn đau có thể lan xuống mông hoặc chân bên, đó cũng là do đau thần kinh tọa.

* Đau lưng do rễ thần kinh cũng thường tăng lên sau khi đi xe đạp hoặc xe máy trên một đoạn đường dài và xóc.

* Đau lưng bình thường do mệt mỏi xuất hiện sau một ngày làm việc mệt nhọc, công việc ngồi một chỗ, ít hoạt động, cảm giác ê ẩm lưng và toàn thân. Để hiểu rõ nguyên nhân của đau lưng, bác sĩ sẽ có những kiểm tra, khám nghiệm thận và cột sống của bệnh nhân. Nếu cần thiết có thể sẽ tiến hành thêm các khám nghiệm khác như siêu âm, chụp X-Quang, thử nước tiểu…

Xem nước tiểu đoán bệnh

Sự thay đổi mầu sắc và độ trong của nước tiểu có thể do ăn uống hoặc do một loại thuốc nào đó gây màu nước tiểu bị thay đổi. Một nguyên nhân khác là do bệnh tại thận vì đây là nơi sản xuất ra nước tiểu, hoặc tại bàng quang – ở nơi chứa nước tiểu. Màu nước tiểu bình thường có màu vàng từ nhạt tới hơi sẫm. Độ vàng tuỳ thuộc vào nồng độ chất mochorome trong nước tiểu. Đây là một chất thoái hóa của hemoglobin. Nếu cơ thể có ít nước cung cấp vào hoặc lao động nhiều mà không uống đủ nước thì nước tiểu có màu vàng sẫm. Có khi màu nước tiểu lại chỉ hơi đục đục, nhất là khi đi tiểu vào buổi sáng. Các hiện tượng này chứng tỏ rằng nước tiểu bị kềm hóa nhẹ nên các tinh thể nhất phát dễ đọng lại. Uống nhiều nước hoặc uống bổ sung 2 viên Chdoramonic vào buổi tối để nước tiểu trong lại. Màu nước tiểu còn có thể bị vẩn đục do nước tiểu có máu. Tốt nhất nên đi khám bác sỹ chuyên khoa, xét nghiệm nước tiểu, cấy nước tiểu, cấy dịch niệu đạo tìm vi trùng, làm siêu âm, chụp Xquang… để tìm ra nguyên nhân gây nên các triệu chứng trên. Sau khi tìm ra các nguyên nhân để từ đó có cách điều trị khác nhau và hiệu quả. Nếu có triệu chứng tiểu buốt, tiểu lắt nhắt, tiểu són là những triệu chứng của bệnh tại bàng quang hay niệu đạo chứ không phải của bệnh do thận. Nguyên nhân thường gặp nhất là viêm bàng quang ở phụ nữ và trẻ em, còn đối với nam giới là viêm niệu đạo, bướu tuyến tiền liệt, nhất là đối với bệnh nhân trên 50 tuổi.

Ảnh hưởng đến sinh lý?

Đôi khi người ta lầm tưởng rằng yếu sinh lý hoặc có bất kỳ những trục trặc nào trong chuyện tình dục đều là do suy thận. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy mà là do mạch máu đến bộ phận sinh dục bị hẹp tắc do thần kinh điều khiển tại chỗ hoặc trên não bị trục trặc. Chính vì vậy mà chẩn đoán và điều trị yếu sinh lý là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Yếu sinh lý gồm các nhóm bệnh sau: rối loạn ham muốn (mất hoặc giảm ham muốn), rối loạn cương, rối loạn xuất tinh (có thể là xuất tinh sớm hoặc không xuất tinh), rối loạn cảm giác (không có khoái cảm hoặc bị đau khi lên đến đỉnh điểm), khả năng thụ thai thấp. Mỗi một nhóm bệnh lại được thành những nhóm nhỏ hơn, tương ứng với những bệnh khác nhau, mỗi bệnh có cách điều trị riêng. Các bệnh do suy thận cũng sẽ được chẩn đoán và điều trị theo kết quả của bác sĩ.

Như vậy, phù thận có thể do thận, bệnh thận cũng ít khi gây đau lưng, còn yếu sinh lý thì hoàn toàn không phải do thận yếu. Nếu không bị phù thì cách phòng bệnh thận tốt nhất hiện nay là uống nhiều nước, đặc biệt là khi làm việc ngoài nắng, trong môi trường nóng nực, tập thể thao, lao động nặng. Nếu trong sinh hoạt hàng ngày, cứ 6-7 tiếng mới thấy buồn đi tiểu và nước tiểu có mầu vàng sẫm thì chắc chắn cơ thể bạn chưa được cung cấp đủ nước. Vì vậy cần uống nhiều nước, ít nhất là 2 lít nước mỗi ngày.

Bùi Tiến Dũng
( Tư vấn tiêu dùng )

Theo_Thanh_Nien

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Các vấn đề ở thận chẳng chừa bất kỳ ai. Nguyên nhân có thể xuất phát từ 1 bệnh không liên quan hay do gen.

Nếu bạn trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi nào dưới đây, bạn có thể nằm trong nhóm nguy cơ mắc bệnh thận. Hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu được phát hiện sớm, các vấn đề ở thận sẽ không khó giải quyết.

1. Bạn có bị đái tháo đường không?

Khoảng 30-50% trường hợp suy thận là ở người bị bệnh đái tháo đường.

2. Bạn có bị huyết áp cao mà không thể kiểm soát không?

Khoảng 20-25% trường hợp suy thận là do việc kiểm soát huyết áp chưa tốt.

3. Bạn đã từng bị viêm 1 bên thận hơn 1 lần chưa?

Viêm cầu thận không được điều trị và kiểm soát triệt để có thể gây ra 20% trường hợp suy thận (đặc biệt hay gặp ở các nước đang phát triển).

4. Bạn có bệnh thận bẩm sinh như bệnh lý thận IgA, bệnh lý thận có vách hoặc ung thư thận?

Hãy chú ý hơn tới việc kiểm tra sức khỏe .

5. Bạn đã từng dùng ống thông tiểu?

Hãy cảnh giác với bệnh viêm thận và cần chắc chắn là phải điều trị nhanh và triệt để.

6. Bạn đã từng dùng thuốc kháng viêm cho tình trạng đau, viêm hay sốt mỗi ngày trong vài năm nào đó không?

7. Bạn có thừa cân hay bị huyết áp cao không?

8. Mức cholesterol trong máu có cao không?

9. Bạn có thường xuyên bị hít khói có chì hay thủy ngân không?

Translate from: http://www.health32.com/kidney-disease-are-you-at-risk/

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường (hay còn gọi là đái tháo đường) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn Insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của Insulin.

Đái tháo đường có thể là một bệnh, cũng có thể là một triệu chứng của bệnh nội tiết khác, trong trường hợp này khi chữa khỏi bệnh chính, đái tháo đường sẽ khỏi hẳn.

Bệnh đái tháo đường xảy ra là do rối loạn chuyển hoá chất đường trong cơ thể. Chuyển hoá đường cung cấp phần lớn năng lượng cho cơ thể hoạt động sống hàng ngày; ở tổ chức cơ, tổ chức thần kinh, não thì nguồn cung cấp năng lượng chính là Glucose. Trong cơ thể người, tuyến nội tiết đảm bảo chủ yếu cho chuyển hoá đường là tuyến tuỵ. Tuyến tuỵ vừa là tuyến nội tiết vừa là tuyến ngoại tiết, Tuỵ nội tiết tiết ra nhiều hóc môn trong đó có Insulin. Hóc môn này do các tế bào Bê ta của các đảo Langerhans tiết ra. Insulin là hóc môn tham gia vào quá trình chuyển hoá glucose, khi thiếu nó thí sinh ra bệnh đái tháo đường.

Các dạng tiểu đường

Tiểu đường týp 1 (trước kia thường được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở trẻ em) đặc trưng bởi thiếu sản sinh insulin. Nếu không cung cấp insulin hằng ngày, tiểu đường týp 1 rất dễ gây tử vong.

Các triệu chứng bao gồm đi tiểu nhiều, khát nước, luôn đói, giảm cân, thay đổi thị lực và mệt mỏi. Những triệu chứng này có thể xảy ra đột ngột.

Tiểu đường týp 2 (tên cũ là tiểu đường không phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở người lớn) là do cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin. Tiểu đường týp 2 chiếm khoảng 90% số trường hợp bị bệnh tiểu đường trên toàn thế giới, và phần lớn là do thừa cân và ít hoạt động thể chất.

Các triệu chứng có thể tương tự như triệu chứng của tiểu đường týp 1, nhưng thường ít rõ ràng hơn. Kết quả là, có thể vài năm sau khi khởi phát, bệnh mới được chẩn đoán, khi đó các biến chứng đã xảy ra.

Cho tới gần đây, thể bệnh tiểu đường này chỉ được thấy ở người lớn, nhưng giờ đây nó cũng xảy ra ở trẻ béo phì.

Tiểu đường thai nghén là tình trạng đường huyết cao được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.

Các triệu chứng của tiểu đường thai nghén tương tự như tiểu đường týp 2. Tiểu đường thai nghén thường được chẩn đoán qua khám sàng lọc trước khi sinh thay vì qua các triệu chứng được kể.

Giảm dung nạp glucose (IGT) và giảm đường huyết lúc đói (IFG) là những tình trạng trung gian chuyển tiếp giữa bình thường và tiểu đường. Người bị IGT hoặc IFG có nguy cơ cao tiến triển thành tiểu đường týp 2, mặc dù không nhất thiểt là sẽ như vậy.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường

Các biểu hiện thường gặp:

* Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
* Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
* Đái nhiều
* Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
* Mồm khô, da khô, mệt mỏi
* Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.

Có thể thấy một số biểu hiện khác như:

* Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
* Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
* Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
* Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
* Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
* Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
* Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.

2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):
Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.

3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):
Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.

4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.

5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy: Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.

Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.

6. Ðau chân (foot problems):
Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.

8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.

9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Tiến triển của bệnh

Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:

Biến chứng cấp tính:

Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

Biến chứng hạ đường huyết máu:

Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…

Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:

Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.

Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị , sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.

Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:

Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…

Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.

Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.

Biến chứng mạn tính

Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:

Bệnh lý mạch máu lớn:

Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.

Tổn thương mạch máu nhỏ:

Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.

Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển

Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác

Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Theo thạc sĩ – bác sĩ Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường type 2 có xu hướng gia tăng ở các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khác với người lớn, đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần dinh dưỡng để phát triển. Chưa kể đến sự “thiếu hiểu biết” của một bộ phận không nhỏ phụ huynh.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng trẻ mắc đái tháo đường type 2 ngày càng tăng là do thói quen ăn uống và lối sống thiếu lành mạnh. Thống kê ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỉ lệ trẻ đái tháo đường type 2/type 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 4/1. Còn ở nước ta, không ít lần báo giới đã lên tiếng về những trường hợp trẻ nhỏ (cấp tiểu học) mắc đái tháo đường type 2. Trường hợp nhỏ nhất là một bé 6 tuổi hiện đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết.

Nguyên nhân do lối sống

Đái tháo đường type 1 ở trẻ là bệnh có tính chất di truyền, do rối loạn tổng hợp insulin, rối loạn nơi sản xuất insulin, có tính chất bẩm sinh nhiều hơn, bắt buộc phải điều trị bằng insulin thay thế. Đái tháo đường type 2 vốn thường gặp ở người lớn do liên quan đến yếu tố ăn uống, béo phì, cao huyết áp, lười vận động không tiêu hao năng lượng…, phải điều trị bằng thuốc và kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân.

Vì vậy, theo bác sĩ Lê Thị Hải, đa phần trẻ mắc đái tháo đường type 2 ở nước ta thường gắn liền với chứng thừa cân, béo phì, do lối sống thiếu cân bằng và chứng ăn uống thiếu điều độ gây nên. Một phần nguyên nhân nữa là do nhận thức của những người làm ông bà, cha mẹ. Bác sĩ Hải cho biết, không ít trường hợp bệnh nhi đến khám ở tình trạng thừa cân, béo phì và có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cực cao. Nhưng khi bác sĩ tư vấn về chế độ ăn uống thì các bậc phụ huynh lại “giãy nảy” lên mà rằng con họ chỉ hơi mũm mĩm thôi và cháu lười ăn lắm (?!)…

Trong khi đó, việc điều trị bệnh cho trẻ đái tháo đường type 2 không hề đơn giản. Thông thường, người mắc đái tháo đường type 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

Bên cạnh đó, việc điều trị bệnh đái tháo đường không đúng sẽ gây ra những biến chứng nhất định, trong đó có hạ đường huyết. Do não trẻ em cần được cung cấp đường hằng định, nên khi hạ đường huyết sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến não, làm giảm sự phát triển của não. Kết quả giảm trí thông minh và giảm thị lực nếu tình trạng hạ đường huyết kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Theo bác sĩ Hải, cách hạn chế tốt nhất căn bệnh này là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Với trẻ bị đái tháo đường type 1, nhìn chung vẫn có chế độ ăn như bình thường, chỉ cần hạn chế (không phải là cấm tuyệt đối) cho trẻ ăn đồ ngọt, hạn chế tinh bột và hạn chế dùng mỡ động vật. Còn với trẻ bị đái tháo đường type 2 thì năng lượng, tinh bột trẻ ăn hàng ngày cần được tính toán chặt chẽ hơn. Bố mẹ nên cho trẻ bị đái tháo đường ăn thành nhiều bữa trong ngày vì ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

- Các thực phẩm không nên ăn: Đường ngọt, bánh kẹo, nước ngọt, kem, nước mía, các loại quả khô ướp đường như mứt, quả ngọt sấy khô như chuối, mít…

- Các thực phẩm nên hạn chế: Các quả chín quá ngọt như mít, na, chuối, nhãn, vải…; các đồ ăn chế biến sẵn như patê, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói…; các món ăn xào rán nhiều mỡ, bánh mỳ, mỳ tôm, cơm, các loại thịt nhiều mỡ, bơ, pho mát…

- Các thực phẩm nên ăn: Ngũ cốc nguyên hạt như ngô, khoai sọ…; các loại rau xanh như bắp cải, rau cần, rau bí, rau muống…; quả chín ít ngọt như dưa chuột, thanh long, bưởi, cam, táo ta, lê, mận…

Không cần kiêng đường

Tuy nhiên, trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Hiện nay, trên thị trường đã có những sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường. Đó là Isomalt với nguyên liệu được nhập khẩu từ Đức. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đây là chất ngọt tự nhiên và an toàn. Nó có chỉ số đường huyết thấp (GI=28) và sinh ít năng lượng (1g Isomalt cho 2Kcal). Loại đường này có thể dùng cho cả trẻ béo phì, phụ nữ mang thai. Ngoài ra, còn có một số loại đường ăn kiêng khác như: đường Acesulframe-K có các tên thương mại là Sunette, Sweet one, Sweet”n safe, đường Sucralose (tên thương mại là Splenda)… Các loại đường này ngoài việc sử dụng trực tiếp còn được các nhà sản xuất dùng để sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những người “hảo ngọt” nhưng phải kiêng đường (đường mía). Ví dụ các loại bánh, kẹo không đường của Bibica (sử dụng Isomalt).

Ngoài ra, do trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt nên trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng, với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì.

Theo 24h.com.vn