Hiển thị các bài đăng có nhãn món ăn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn món ăn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Tây y với bệnh Zona

Tây y với bệnh Zona

Zona là một bệnh ngoài da thường gặp. Nếu tính thời gian trong suốt cuộc đời thì tỷ lệ người mắc bệnh có thể lên tới 20% dân số. Bệnh có thể phát ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng tăng.
Đa số bệnh nhân zona có tiền sử mắc bệnh thủy đậu từ bé. Virut gây bệnh zona cùng loài với virut gây bệnh thủy đậu có tên là virut varicella. Bệnh thủy đậu gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Sau khi bệnh thủy đậu đã khỏi thì một số virut varicella vẫn còn tồn tại ở trạng thái tiềm tàng, không gây bệnh, cư trú ở hạch thần kinh. Khi gặp điều kiện thuận lợi như: suy giảm miễn dịch, suy nhược cơ thể, các sang chấn tinh thần… các virut này trở lại trạng thái hoạt động, nhân lên, phát triển ra các đầu dây thần kinh cảm giác và gây bệnh.


Lúc đầu bệnh nhân thường bị đau rát hoặc cả đau và rát ở một vùng da và tổ chức dưới da ở một bên thân thể. Nhiều bệnh nhân còn bị giật nhoi nhói từng cơn ở các vùng da này. Cảm giác đau rát tồn tại khoảng 1-3 ngày thì tại vùng da này sẽ nổi lên các mụn nước, tập trung thành từng chùm, nếu không điều trị kịp thời thì sẽ phát triển thành các bọng nước. Lúc đầu tổn thương chỉ có các đám nhỏ phân bố rải rác thành một dải, nếu không điều trị thì các mảng nhỏ này lan rộng ra và liên kết với nhau thành một mảng tổn thương lớn khu trú ở toàn bộ một vạt da ở một bên thân thể: cả một vùng ngực hoặc cả một vùng mạng sườn… Khi chưa có tổn thương da thì việc chẩn đoán bệnh thường gặp nhiều khó khăn. Khi bệnh nhân chỉ có đau ở vùng liên sườn bên trái thì rất dễ chẩn đoán nhầm với cơn đau thắt ngực. Đau ở vùng hố chậu phải có thể chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Đau ở vùng mạng sườn hay bị nhầm với bệnh lý của gan, dạ dày , ruột, thận… Đau ở vùng mắt hay nhầm với bệnh lý về mắt. Có những bệnh nhân bị đau đầu dữ dội một bên trước khi phát tổn thương da của zona thần kinh sọ não thì bệnh nhân rất lo lắng và đôi khi đã phải chụp CT sọ não để loại trừ các bệnh khác.

Về chăm sóc da tại chỗ: Tuyệt đối không gãi, cạo, xát chanh, xát muối, đắp đỗ xanh, gạo nếp. Nếu làm như trên sẽ làm cho tổn thương trở nên sâu hơn, lan rộng hơn và đặc biệt gây nhiễm trùng, loét. Bệnh nhân vẫn có thể tắm được hằng ngày nhưng không được xát xà phòng trực tiếp lên vùng da bị bệnh. Không cần kiêng ăn uống.

Thuốc điều trị

Nếu điều trị muộn hoặc điều trị sớm mà không đủ liều thì sẽ để lại nhiều biến chứng. Thời gian để trị liệu cho kết quả tốt nhất là 48 giờ sau khi có tổn thương da. Trong vòng một tuần thì kết quả chậm hơn nhưng vẫn tốt. Nếu để muộn quá thì kết quả điều trị kém và có thể để lại các di chứng như: đau kéo dài nhiều tháng, nhiều năm thậm chí có những người đau kéo dài đến hết cuộc đời, đặc biệt ở những người cao tuổi. Nếu zona gây tổn thương nhánh mắt dây thần kinh số V (được chẩn đoán là zona mắt) thì có thể gây giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Nếu zona gây tổn thương dây thần kinh số VII (Hội chứng Ramsay Hunt) có thể gây liệt mặt, méo mồm. Các biến chứng khác có thể gặp như: loét, sẹo lồi…

Tại chỗ : khi tổn thương còn mụn nước, tiết dịch nhiều thì không nên bôi các loại thuốc mỡ vì sẽ làm tăng phù nề tại tổn thương. Nên bôi các loại dung dịch như jarish, dalibour, dung dịch kháng sinh, xanh methylen, castelani…, sau 5-7 ngày tổn thương da khô hơn thì có thể bôi kem acyclovir ngày 3-5 lần.

Toàn thân : bệnh nhân bắt buộc phải uống đủ liều kháng sinh diệt virut dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Kháng sinh là acyclovir uống 1 lần 800mg x 5 lần trong 1 ngày, cách 3 giờ uống 1 lần. Thời gian uống thuốc là 7 – 8 ngày liên tục. Thuốc có tác dụng phụ là nôn hoặc tiêu chảy ở 3 – 5% các trường hợp. Khi có tác dụng phụ bệnh nhân phải đến khám lại ngay. Thuốc acyclovir không dùng cho bệnh nhân suy thận, trong trường hợp này có thể sử dụng điện châm cũng đạt được kết quả rất tốt ở nhiều bệnh nhân. Nếu đau quá có thể dùng thuốc giảm đau. Nếu có điều kiện thì có thể chiếu tia laser Helinion tại chỗ để tổn thương da chóng lành và góp phần hồi phục tổn thương dây thần kinh. Trong giai đoạn bệnh đang tiến triển có thể tiêm gama globulin 16% để tăng cường miễn dịch. Những bệnh nhân đau rát nhiều và mức độ đau giảm ít sau điều trị acyclovir thì có thể uống thêm các thuốc giảm đau thần kinh như lyrica, gabapentine, carbamazepine, amitriptyline nhưng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Zona thường không tái phát, không gây tổn thương các phủ tạng và não.

Vấn đề lây nhiễm zona

Virus Varicella Zoster có thể truyền qua rau thai. Trên thực tế chúng tôi thấy một số trường hợp bị zona sau khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu hoặc bệnh nhân zona. Ngược lại cũng có trường hợp con của một số bệnh nhân zona mắc thủy đậu sau vài tuần.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Ngứa da trong mùa lạnh

Ngứa da trong mùa lạnh

Càng gãi càng ngứa. Gãi tới sần sùi, gãi rách da, chảy máu, ít ngày sau đóng vẩy hay làm mủ và lây sang chỗ da lành chung quanh. Mất ngủ vì gãi ngứa ban đêm. Sáng dậy mệt mỏi; tới sở làm ngủ gục; gây tai nạn trên đường. Da dẻ đang mịn màng hóa mốc meo, khô sượng; mắc cở bị bắt gặp “gẩy đờn” ngay tại đám đông… Trên đây là một vài trong những khó chịu do Chứng Ngứa Ngoài Da gây ra.

Nếu da ngứa bắt đầu từ “mùa lạnh”, thì 90% hy vọng có thể dập tắt với những cách chữa trị đơn giản, ít tốn tiền.

Chức năng sinh học của da

Da giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng:

· Da che chở chống xâm nhập của vi-sinh-vật gây bịnh, nhờ cấu trúc và các chất acid hữu cơ do da tiết ra.

· Da bài tiết mồ hôi, thải các chất biến dưỡng dư thừa, tương tự như sự bài tiết nước tiểu tiến hành trong thận.

· Da “thở” giúp mất bớt nước. Da điều chỉnh thân nhiệt qua hệ thống các mạch máu và thần kinh ở da.

· Da làm dịu những bực tức, buồn phiền trong cuộc sống xã hội.

· Da góp phần biểu lộ niềm vui, tiếp nhận dẫn truyền cảm giác săn sóc, vuốt ve, đem cảm quan hạnh phúc cho con người trong đời sống.

· Da báo cho óc biết nguy cơ đe dọa hóa học (acid, chua, mặn) hay vật-lý (phỏng lửa, gai nhọn, mồi thuốc lá đang cháy, dẫn lối trong đêm tránh vấp té) tàn phá sự vẹn toàn của cơ thể.

Ngoài những hữu dụng kể trên, da còn nhiều chức năng khác nữa.

Khi da dở chứng

Da tiết ra những chất acid hữu cơ (organic acids, trong đó có oleanic acid, một acid hữu cơ quan trọng) lẫn trong mồ hôi. Những acid hữu cơ này giữ cho da nhờn, giúp da mềm, bền bỉ, chống sự xâm nhập của vi-sinh-vật như vi-khuẩn, nấm, ký-sinh-trùng, bụi bậm chứa độc tố, v.v… không chui nổi qua da mà vô người chúng ta.

Mùa lạnh vì không khí khô, nhà đốt máy sưởi, đôi khi có thêm một vài bịnh khác nữa (chẳng hạn dị ứng, suy-giáp-trạng-tuyến)…, nên làm da bốc hơi mau và khô. Bao lâu các chất acid hữu cơ do da tiết ra vẫn còn đủ để giữ cho da trơn, mềm, nhờn và toàn vẹn thì chúng ta còn ăn ngon ngủ yên. Song tới một mức độ lạnh và khô nào đó, nhất là những người mới tới chưa quen chịu lạnh, lại hốt hoảng, mất bình tĩnh, tự tay “bẻ gẫy” cơ-năng bảo vệ an toàn của da, sẽ mở màn cho da ngứa.

Khi cơ năng điều chỉnh chạm giới hạn an toàn của cơ-thể, da không căng dãn thêm, không tiết thêm được mồ hôi thì cơ-thể bắt đầu đầu hàng “kẻ thù”. Lớp da ngoài cùng (biểu bì, epiderm) ngày càng mỏng, mất đàn hồi và nứt nẻ. Sự rạn nứt ở da được báo về hệ-thần-kinh. Trung-tâm thần-kinh bèn đối phó điều chỉnh lại bằng một “huấn lệnh” gãi để giải tỏa nạn ngứa. Gãi cho đã ngứa, nhưng gãi làm da rách thêm. Da rách thêm, tín hiệu báo về não bộ là “ngứa thêm”. Cứ thế mà gãi, càng gãi lại càng ngứa. Gãi lên gãi xuống, nên dân gian mới đặt tên tật hay gãi là “gẩy đờn”. Đờn gẩy rách da, mở cửa cho vi-sinh-vật xâm nhập. Da mưng mủ, có khi nóng sốt, tính tình bẳn gắt, quơ quào tìm thuốc chữa. Càng uống thuốc ngứa mua ngoài tiệm càng làm da khô, ngứa càng hung, gãi càng mạnh.

Vòng lẩn quẩn tái diễn tồi tệ. Rồi chứng ngứa da có thể đưa dẫn tới bịnh khác ngoài da.

Chữa và tránh chứng ngứa da trong mùa lạnh

1. Giữ cho da nhờn, bằng cách mặc ấm, giữ hơi nước da “thở” ra ở lại dưới áo, giúp da ẩm và mềm.

2. Tránh nước nóng vào mùa lạnh: trước khi tắm, lấy tay thử nước, đủ ấm là được. Đừng xài nước nóng quá trong mùa lạnh. Mùa hè, muốn nóng bao nhiêu xài mặc sức.

3. Chỉ xát xà-bông vô những nơi thật cần xà-bông, chỗ phải có xà-bông mới sạch và hết mùi hôi. Ngoài ra, tránh xà-bông trên mặt ngoài như vai, đùi, bụng, lưng, tay chân, v.v…

4. Lựa loại xà-bông mềm và yếu. Tránh các hiệu xà-bông cứng và mạnh cho mùa lạnh. Mùa hè, xà-bông khô, mạnh; nước nóng bao nhiêu tùy thích.

5. Từ phòng tắm bước ra chớ vội lau khô. Mua sẵn dầu paraffin (vaseline bất cứ hiệu gì) đổ vô lòng bàn tay, thoa đều thật nhiều khắp người. Mặc áo lại cho ấm và kín.

6. Trong ngày, hạn chế tối thiểu số lần rửa tay chân bằng nước nóng và xà-bông. Cực chẳng đã hãy xài nước nóng và xà-bông. Rửa xong, tay còn ướt nước, thoa một lớp mỏng emolient lotion hay cream (bất cứ hiệu nào loại nào dễ mua). Xong, giữ da ấm và kín, tránh khô.

7. Ngủ cho đủ giờ. Ăn cho đủ no và ngon, thoải mái với các đồ ăn thịt, cá, mè, đậu phọng tùy sở thích và nhu-cầu. Cần đưa cả nhà thoát ra khỏi lối suy nghĩ sai lầm gán tội “phong hay nhiệt” cho đồ biển tôm, cá, bò, gà. Lối suy nghĩ nhảm nhí đó làm cho dân tộc ta không ngẩng mặt nổi với đời mấy ngàn năm qua.

8. Tránh các thứ thuốc ngứa xưa nay người xứ nóng thường xài theo thói quen. Các loại thuốc chống ngứa, chống dị ứng (anti-allergics, anti-histaminics) như phenergan, benadryl làm cho da đã khô càng thêm khô, dễ nứt ra, và ngứa hơn nữa.

9. Cực chẳng đã ban đêm ngứa quá, thì xài tạm những thuốc chống ngứa sẵn có ở nhà, trong lúc chờ điều chỉnh, sửa chữa những cố tật gây khô, nứt da khiến da ngứa mùa lạnh.

Chín bước trên đây giúp chữa và tránh ngứa da trong mùa lạnh. Ít khi ta cần đi khám bác sĩ.

Bạn thực hành ngay ngày hôm nay đi. Hiệu quả sẽ chứng nghiệm trong vòng vài ba ngày tới.

Mề đay

Mề đay

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. Mề đay có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. Mề đay có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

Vị trí thường nổi Mề đay là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là Mề đay nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại Mề đay này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.

Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Rất nhiều thuốc (như chống đông máu, ức chế u, trị Parkinson, chống động kinh…) có thể gây rụng tóc. Vì vậy, để chẩn đoán nguyên nhân, bác sĩ thường tìm hiểu xem trước đó bệnh nhân có uống thuốc gì không .

Bệnh rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Nó có thể xuất hiện sau khi bị ốm nặng (sốt rét, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết…), sau sẩy thai, sinh đẻ, sau chấn thương lớn, mất máu. Thường tóc thưa đều, hơi khô, xơ xác, khi cơ thể hồi phục nó sẽ mọc lại.

Các yếu tố cơ lý hóa (uốn tóc bằng lược, sức nóng, nhuộm, uốn tóc bằng hóa chất, chải tóc quá nhiều bằng lược cứng, căng kéo xoắn bện quá chặt…) cũng làm sợi tóc bị biến dạng, gãy rụng.

Trong rụng tóc pelade, vùng da đầu có một hay nhiều đám rụng tóc hình tròn, đường kính vài cm, da nhẵn trắng trông giống như sẹo, có khi các đám liên kết thành dải, vằn vèo “thể rắn bò”, một số trường hợp có thể rụng nhẵn toàn bộ da đầu, thậm chí rụng cả lông mày, lông nách, lông mi. Loại này thường liên quan yếu tố căng thẳng thần kinh.

Rụng tóc do nấm (chủng microsporum, trichophyton) khá phổ biến, thường gặp ở trẻ em lứa tuổi học đường, lây từ người sang người do dùng chung lược, mũ hoặc lây từ súc vật (chó, mèo) sang người do ôm, bế. Biểu hiện là da đầu có đám mảng viêm đỏ, có vảy trắng, tóc bị phạt gãy, chân tóc còn lại cách da đầu từ vài mm đến 1-2 cm hoặc chỉ còn chấm đen, có khi chân tóc được bao bởi lớp vảy trắng như bị “nhúng trong bột”. Có thể xác định bằng soi nấm, cấy nấm, điều trị bằng bôi kem nizoral, uống ketoconazol.

Bệnh rụng tóc da dầu (còn gọi rụng tóc liên quan androgen hay chứng hói tiến triển) thường do di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu, làm nang tóc giảm kích thước, dần dần teo và rụng. Loại này gặp ở nam nhiều hơn nữ, nam 30-40 tuổi trở lên, nữ xuất hiện muộn hơn (40% bị ở tuổi 60-70). Đầu tiên, tóc rụng thưa dần ở phía trước trán, tạo thành hình lượn sóng chữ M, sau rụng đến vùng giữa đỉnh đầu và dần dần hói hoàn toàn phía trên (trán và đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương hai bên và gáy vẫn còn tóc. Điều trị bằng xịt dung dịch minoxidil và tốt nhất là cấy tóc (hair transplantation). Lấy từng khóm tóc nhỏ vùng thái dương, gáy chẩm của người đó cấy lên vùng rụng tóc.

Rụng tóc do tật nhổ tóc hay gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam. Họ thường nhổ tóc vùng trán phía trước và hai bên thái dương làm tóc nham nhở không đều, chỗ mọc tốt xen kẽ chỗ thưa. Có khi bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, có cảm giác thúc giục không thể cưỡng lại và chỉ nhẹ nhõm sau khi nhổ tóc.

Người bị giang mai giai đoạn 2 (3 tháng sau khi nhiễm bệnh trở đi) cũng bị rụng tóc kiểu “rừng thưa”, tóc rụng nham nhở không đều hai bên thái dương như gián nhấm. Điều trị khỏi bệnh giang mai, tóc sẽ mọc lại.

Bệnh rụng tóc chuỗi hạt (monilethrix) liên quan đến yếu tố di truyền, gặp cả ở nam và nữ, thường xuất hiện từ nhỏ hoặc tuổi thiếu niên. Thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày phình to ra một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc, tóc bị gãy đứt đoạn. Da dầu, tóc thưa bị gãy, rụng trông như hói, da đầu phủ đầy tóc ngắn, dày sừng nang lông nên trông xù xì, thô ráp.

Rụng tóc còn là hậu quả của các bệnh da khác có đám tổn thương ở đầu. Các tổn thương này có quá trình viêm, tạo mủ, tạo sẹo, teo da… gây nên rụng tóc vùng đó, như lupút đỏ mạn dạng đĩa, viêm nang lông trụi tóc, nấm tóc loại kerion, xơ cứng bì khu trú, bệnh muxin nang lông, ung thư tế bào đáy…

Rụng tóc do nhiều nguyên nhân gây nên. Do đó, khi bị rụng tóc, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để xác định thể bệnh và có cách điều trị đúng đắn nhất.

BS Bùi Khánh Duy, Sức Khỏe & Đời Sống

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona, theo từ chuyên môn là Herpes zoster, là mẫn đỏ da gây ra do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu. Vi-rút gây bệnh này có tên là Varicella zoster. Sau khi bị bệnh thuỷ đậu, vi-rút sống trong dây thần kinh, nguyên nhân tại sao vẫn chưa có lời giải đáp.

Trong một số hoàn cảnh nào đó như xúc động, stress, suy giảm miễn dịch ( AIDS , hoá trị liệu ) hay ung thư, vi rút sẽ hoạt động trở lại gây bệnh zona. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, nguyên nhân hoạt động trở lại của virút vẫn chưa có căn cứ. Vi rút này gây ra bệnh thuỷ đậu và bệnh zona, không giống với virút gây mụn nước ở cơ quan sinh dục và ở miệng.

Bệnh zona khởi phát và tiến triển như thế nào?

Trước khi thấy được những mẫn đỏ, bệnh nhân có thể có cảm giác đau rát và nhạy cảm vùng da trước đó vài ngày đến 1 tuần. Bệnh zona khởi đầu là những mụn rộp (mụn nước) trên nền da màu đỏ, những mụn nước mới tiếp tục hình thành từ 3-5 ngày. Mụn nước này thường đi theo đường dây thần kinh của tuỷ sống.

Toàn bộ dây thần kinh liên quan có thể bị, hay những vùng khác không có liên quan đến phân bố dây thần kinh cũng có thể bị. Thường thì bệnh zona chỉ ăn theo một dây thần kinh, hiếm khi bị nhiều hơn một dây thần kinh.

Cuối cùng thì các mụn nước này vỡ ra và bắt đầu chảy nước, bề mặt bên trên khô đi và hoá sẹo. Quá trình này có thể kéo dài 3-4 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh đến khi khỏi. Thỉnh thoảng, đau vẫn còn mặc dù không bao giờ nhìn thấy mụn nước, làm dễ lầm lẫn với nguyên nhân đau tại chỗ.

Bệnh zona có lây không ?

Vâng. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác.

Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa.

Điều trị zona như thế nào ? Tôi sẽ chăm sóc sức khoẻ của mình như thế nào ?

Có một số cách điều trị zona. Thuốc kháng vi-rút như acyclovir (Zovirax) hay famciclovir (Famvir) có thể làm rút ngắn thời gian bị mẫn đỏ da, nếu bắt đầu dùng sớm trong vòng 48 giờ khi xuất hiện mẫn đỏ. Phối hợp thêm thuốc nhóm steroid cũng có thể hạn chế và rút ngắn thời gian bị đau do zona. Tuy nhiên, lợi ích của 2 loại thuốc này vẫn còn hạn chế.

Ngoài thuốc kháng vi-rút, thuốc giảm đau cũng cần thiết để kiểm soát triệu chứng . Vùng da bị bệnh cần phải được giữ sạch sẽ và khô ráo. Người bệnh vẫn có thể được tắm rữa, kỳ cọ bằng xà phòng và nước nơi bị zona mà không bị cấm. Dung dịch aluminum acetate (Burows hay Domeboro”s, có bán ở nhà thuốc) có thể được sử dụng giúp làm khô bề mặt da bị zona và nơi rĩ dịch.

Biến chứng của bệnh zona là gì?

Thường thì bệnh zona được chữa khỏi, và bệnh zona cũng có một số vấn đề. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau.

Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này.

Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế.

Đau dây thần kinh sau bệnh zona là gì ? Và cần phải làm gì khi bị như vậy?

Đau dây thần kinh sau zona là đau khu trú ở vùng có liên quan đến bệnh zona, cơn đau này có thể kéo dài cả tháng.

Biến chứng thường gặp nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau bệnh zona Đau dây thần kinh sau zona thường kéo dài cả tháng, thậm chí ngay sau khi bệnh zona đã khỏi mà đau thì vẫn còn. Ở những người trên 50 tuổi, bị zona lần đầu, thường bệnh zona gây đau nhiều hơn, người bệnh dễ bị suy sụp hơn. Rõ ràng là điều trị zona bằng steroid và thuốc kháng vi-rút có thể rút ngắn thời gian và tai biến đau dây thần kinh sau zona. Tuy nhiên, chỉ giảm đi đôi chút.

Đau dây thần kinh sau zona có thể được điều trị bằng nhiều loại thuốc như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng amitriptyline (Elavil), và các thuốc khác như thuốc chống động kinh gabapentin (Neurontin), carbamazipine (Tegretol), được dùng để giảm đau dây thần kinh do zona.

Cuối cùng, kem capsaicin (Zostrix), là một chất được chiết xuất từ trái ớt, có thể được dùng để thoa lên vùng da bị zona để làm giảm đau, sau khi các mụn nước đã khô. Châm cứu và kích thích điện thần kinh vùng da bị bệnh cũng giúp ích được cho vài bệnh nhân. Lidocain dạng dán da cũng có thể giúp giảm đau dây thần kinh do zona.

Việc chọn lựa thuốc nào là tốt nhất cho bạn, cần phải thảo luận với thầy thuốc của bạn.

Tóm lược bệnh zona

Bệnh zona do vi-rút cùng loại với virút gây bệnh thuỷ đậu, bệnh lây sang người mà người đó trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh zona còn được gọi là Herpes zoster, bệnh này không liên quan gì đến bệnh nhiễm herpes sinh dục.

Bệnh zona có thể gây đau kéo dài, ngay cả sau khi hết mẫn đỏ da.

Steroids và thuốc kháng virút có thể giúp ngăn ngừa đau lâu dài sau nhiễm zona, nếu bắt đầu điều trị trong vòng 2 ngày đầu sau khi xuất hiện mẫn đỏ da.

Tiền liệt tuyến và 7 nỗi sợ

Tiền liệt tuyến và 7 nỗi sợ

Một điều tra mới nhất của Anh Quốc cho thấy chỉ có 1/3 nam giới hiểu về chức năng của tiền liệt tuyến, đồng thời cũng không biết cách phòng các bệnh ở tuyến tiền liệt như thế nào. Thực tế, tiền liệt tuyến có 7 nỗi sợ sau:
Sợ áp lực

Khi nam giới ngồi, đa phần trọng lượng cơ thể đều “áp” vào trên tiền liệt tuyến, tình trạng xung huyết làm cho sự tuần hoàn trở nên khó khă.

Đặc biệt, khi ngồi lâu trên ghế mềm hoặc sofa sẽ gây ra chướng ngại cho tuần hoàn máu của hệ thống tiết niệu, gây ra viêm tiền liệt tuyến dạng vô khuẩn hoặc làm nặng thêm viêm tiền liệt tuyến dạng vi khuẩn.

Sợ lạnh

Tinh hoàn của nam giới sợ nóng nhưng tiền liệt tuyến thì ngược lại, rất sợ lạnh. Khi tiết trời trở lạnh, sự hưng phấn của thần kinh giao cảm tăng lên, làm cho tuyến thể tiền liệt tuyến thu co, các mạch máu nở rộng, gây ra xung huyết mãn tính , làm nặng thêm và ngưng đọng dịch tiền luyệt tuyến.

Sợ nhịn

Trong trường hợp bình thường, đoạn dưới đường niệu đạo của nam giới có ký sinh vi khuẩn. Khi đi tiểu, những vi khuẩn này sẽ bị đẩy trôi ra ngoài cũng nước tiểu nhưng nếu thường xuyên nhịn tiểu lại làm cho vi khuẩn bơi ngược lại tới đường niệu đạo, gây ra viêm tiền liệt tuyến.

Sợ say

Do sự kích thích của cồn, mao mạch ở tiền liệt tuyến sẽ giãn nở gây xung huyết. Lúc này, tiền liệt tuyến ở trong trạng thái phù thũng sẽ chèn ép đường niệu đạo, các dây thần kinh.

Tiền liệt tuyến sau khi bị “say rượu” cần 3-5 ngày mới hồi phục lại được.

Sợ thuốc

Điều tra thể hiện, người hút thuốc có tỉ lệ mắc các bệnh ở tuyến tiền liệt cao hơn người không hút thuốc 1-2 lần. Điều này là do, trong thuốc lá hàm chứa hơn 1.200 loại hợp chất hóa học, trong đó đa phần là chất có hại cho cơ thể như nicotin, Cyanide và carbon monoxide vv. Hút thuốc càng nhiều gây nguy hại cho tiền liệt tuyến càng lớn.

Sợ cay

Đối với người mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, ăn quá cay sẽ kích thích tiền liệt tuyến và niệu đạo, có thể gây ra viêm tiền liệt tuyến cấp tính hoặc làm nặng thêm bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính.

“Yêu” quá nhiều hay quá ít

“Yêu” nhiều là “kẻ thù” của tiền liệt tuyến. “Yêu” quá thường xuyên sẽ làm cho tiền liệt tuyến xung huyết quá độ, gây ra viêm tiền liệt tuyến. Nhưng nếu “nhịn” yêu lại làm cho đại lượng dịch tiền liệt tuyến tích tụ, gây ra chứng viêm.

Ngoài ra, trước khi xuất binh đột ngột chấm dứt giao hợp, xuất binh ra ngoài hoặc tự sướng quá độ đều làm cho tiền liệt tuyến xung huyết, phù thũng, gây ra chứng viêm.

Giải pháp

Uống nước: Mùa đông vẫn cần uống nhiều nước, tiểu tiện nhiều, mỗi ngày uống trên 2 lít nước ấm, thông qua dịch tiểu để rửa sạch đường niệu đạo, có lợi cho tiền liệt tuyến bài tiết chất cặn bã. Tuy nhiên để tránh cho bàng quang chất chứa quá nhiều nước, ban đêm phải dậy giữa chừng thì nên hạn chế uống nước vào buổi tối.

Bài tập thể dục bảo vệ tiền liệt tuyến: Xoa nhẹ bụng dưới theo chiều kim đồng hồ 30 lần, sau đó ấn ép bụng dưới 30 lần.

Dùng khăn ướt thấm nước ấm, nhẹ nhàng lau rửa và xoa bộ phận xung quanh chú nhỏ, sau khi xoa 3 vòng dừng lại ở phía trên một lúc, khoảng 2 phút là được.

Dùng hai bàn tay mát xa khu vực thận ở lưng sau, cho đến khi cảm thấy nóng là được.

Mát-xa gót chân sau và chỗ lõm vào của bàn chân cho đến khi cảm thấy nóng là được.

Dương Hằng

Theo health.sohu

Thực đơn dưỡng thận

Thực đơn dưỡng thận

Làm thế nào để người chưa suy thận có thể bảo vệ được quả thận của mình? Người suy thận nhẹ không tiến triển thành suy thận nặng? Người suy thận nặng không tiến triển sang giai đoạn cuối? Người đang lọc thận sống khoẻ với liệu pháp điều trị của mình?

Một thực đơn tốt cho thận phải bảo đảm không quá nhiều đạm và muối. Ảnh: Hồng Thái

Thận có ba chức năng chính: thải độc đặc biệt là urê; điều hoà huyết áp và tạo máu; tạo xương. Vì vậy khi suy thận sẽ có các biểu hiện liên quan đến ba chức năng này: ngộ độc urê, cao huyết áp, thiếu máu và loãng xương.

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống khoa học, sẽ góp phần phòng ngừa bệnh thận cũng như làm chậm tiến triển của bệnh.

Đối với quả thận mạnh lành

70% bệnh nhân suy thận là do bệnh cao huyết áp và tiểu đường, vì vậy cần tránh lối sống nguy cơ cao như hút thuốc , uống rượu, ít vận động, ăn mặn, ăn nhiều chất béo.

Nên có nếp sống điều độ, ăn 3 – 4 bữa mỗi ngày, không bao giờ để bị quá đói và không nên ăn quá no. Tăng vận động mỗi ngày bằng mọi hình thức khi có thể như đi bộ thay vì đi xe máy, leo cầu thang thay vì đi thang máy… hoặc có một hình thức vận động đều đặn mỗi ngày như đi bộ, tập dưỡng sinh, khiêu vũ… Nên kiểm tra sức khoẻ định kỳ để tầm soát căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, biểu hiện sớm của suy thận như microalbumin. Khi dùng thuốc nên xin ý kiến bác sĩ điều trị về ảnh hưởng của thuốc đối với thận, không nên tự ý dùng thuốc. Nếu đã mắc bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bạn cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng và điều trị một cách nghiêm ngặt.

Thông thường, một chế độ ăn không quá nhiều đạm (0,8 – 1g/kg/ngày), muối ở mức cho phép (3 – 5g muối/ngày) sẽ có lợi cho quả thận của bạn. Với thói quen ăn 3 – 4 lần/tuần các loại thực phẩm có độ đạm thấp như miến dong, bột báng, các sản phẩm từ bột năng như bánh canh, bánh bột lọc, súp măng cua… bạn đã giúp quả thận của mình được giảm tần suất làm việc độ 20 – 30%.

Không quên nhắc bác sĩ điều trị về lợi ích bảo vệ thận của thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế Angiotensin trong điều trị cao huyết áp, đặc biệt nếu bạn bị tiểu đường, cao huyết áp.

Bảo vệ quả thận đã thương tổn

Chán ăn là biểu hiện phổ biến ở bệnh nhân suy thận. Và đây là nguyên nhân chính làm bệnh nhân ăn không đủ năng lượng nhu cầu, buộc cơ thể phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ do thoái hoá đạm từ các khối cơ và hậu quả là tăng sản xuất urê, một độc tố cần được thải ra khỏi cơ thể qua thận. Do vậy, người suy thận phải tăng đậm độ năng lượng khẩu phần từ các nguồn béo tinh bột không chứa đạm; giảm lượng đạm từ ngũ cốc, tăng lượng thực phẩm chứa đạm có giá trị sinh học cao như trứng, sữa, thịt, cá, đậu hũ; thải bớt natri, kali, phốtpho trong thực phẩm khi chế biến; giảm muối.

Làm thế nào biết mình suy thận?

Ở giai đoạn rất sớm là tổn thương nhu mô thận, người suy thận không hề có triệu chứng gì trừ triệu chứng tiểu đạm vi thể (microalbumin). Khi chức năng thận còn dưới 10% thì mới có biểu hiện rõ ràng như tiểu nhiều, thiếu máu, phù, cao huyết áp, mau mệt, chán ăn. Giai đoạn cuối của suy thận, bệnh nhân tiểu ít hoặc không tiểu, lúc này người bệnh cần được cung cấp liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận để duy trì sự sống.

Để tăng đậm độ năng lượng khẩu phần và giảm lượng đạm từ ngũ cốc, người suy thận nên thay những món ăn luộc, kho bằng những món xào chiên hoặc tẩm bột chiên. Có một bữa ăn trong ngày sử dụng miến dong hoặc các sản phẩm từ bột lọc (như thay một tô phở gà bằng một tô miến gà). Hoặc vào các bữa ăn phụ nên chọn bánh bột lọc, súp măng cua, bột sắn dây pha đường. Nếu bạn chỉ quen ăn cơm thì có thể nấu cơm độn miến với công thức 200g gạo, 100g miến: miến ngâm nước cho mềm cắt thành sợi ngắn độ 0,5cm để ráo, khi cơm sôi đổ miến vào ghế đều. Với một chén cơm độn miến (có 4,1g đạm) thay cho chén cơm thường (có 5,9g đạm), bạn đã giảm được 1,8g đạm. Với lượng đạm giảm này, bạn có thể ăn thêm nửa hũ yaourt, một cái trứng cút là các thực phẩm có giá trị sinh học cao.

Để thải bớt kali, phốtpho, natri: các loại rau củ nên cắt nhỏ, ngâm nước, luộc với nhiều nước (gấp 5 – 10 lượng rau củ), đổ nước và chỉ ăn xác.

Để giảm muối: ngoài lượng muối tự nhiên trong thực phẩm (trung bình 2g/ngày), lượng muối có thể dùng để nêm và ăn thêm mỗi ngày 3g tức một muỗng gạt càphê muối, ba muỗng canh nước mắm (13ml) hoặc năm muỗng canh nước tương (20ml). Lượng nước uống bằng lượng nước tiểu trong ngày cộng 500ml.

Bệnh nhân có quả thận bị tổn thương nặng, cần sử dụng các liệu pháp thay thế như lọc thận, ghép thận… cũng ăn uống như bệnh nhân có thương tổn thận nhưng cần nghiêm ngặt hơn vì nguy cơ thừa nước, muối, kali cao có thể dẫn đến tử vong. Tốt nhất, các trường hợp này cần được tư vấn trực tiếp của bác sĩ để xây dựng thực đơn cụ thể phù hợp với phương pháp điều trị.

TS.BS Tạ Thị Tuyết Mai – Trưởng khoa dinh dưỡng, bệnh viện nhân dân Gia Định, TPHCM

Theo Cẩm nang gia đình

Thuốc nào làm mệt thận?

Thuốc nào làm mệt thận?

Quá trình suy thận (thận mất khả năng lọc máu cho cơ thể) diễn ra một cách nhanh chóng (gọi là suy thận cấp) hoặc từ từ (suy thận mãn)

Ảnh: minh họa – Internet

Một số loại dược phẩm như thuốc kháng viêm không steroids (non-steroidal anti-inflammatory drugs – NSAIDs), thuốc trị cao huyết áp, một vài dạng thuốc kháng sinh, các phẩm màu dùng trong X – quang hay bức xạ có thể gây suy thận cấp.

Các thuốc NSAIDs can thiệp vào sự tổng hợp prostaglandin, vốn là một chất đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đủ lượng máu đi đến thận. Thiếu prostaglandin đồng nghĩa với việc giảm lưu lượng máu đến thận, làm cho thận hoạt động kém hiệu quả. Những bệnh nhân sử dụng NSAIDs liều cao, những bệnh nhân sẵn có các vấn đề về thận, bệnh nhân cao tuổi… rất dễ bị suy thận do NSAIDs gây ra. Bệnh nhân đang sử dụng thuốc lợi tiểu, nếu sử dụng thêm NSAIDs càng dễ bị suy thận. Vì vậy, những nhóm bệnh nhân này không nên tự ý mua thuốc NSAIDs để sử dụng mà cần phải có chỉ dẫn rõ ràng từ thầy thuốc .

Thuốc ức chế ACE và thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II là những nhóm thuốc dùng để trị bệnh cao huyết áp. Khi mới sử dụng những loại thuốc này, bệnh nhân nên khởi đầu ở liều thấp; sau đó, thường xuyên xét nghiệm máu để giám sát chức năng thận. Suy thận nhẹ thường xảy ra ở giai đoạn đầu sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu chức năng thận suy giảm quá 30% thì cần phải ngưng sử dụng thuốc ngay. Trong quá trình dùng, tuyệt đối không nên sử dụng kèm các thuốc NSAIDs.

Kháng sinh Aminoglycoside là những loại kháng sinh rất hữu dụng trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng 10% – 20% bệnh nhân bị suy thận khi sử dụng nhóm kháng sinh này, nhất là khi uống với liều cao hoặc dùng trong thời gian dài. Quá trình suy thận sẽ dễ thấy rõ chỉ sau một tuần sử dụng nhóm kháng sinh Aminoglycoside.

Những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường và bệnh thận càng dễ bị suy thận nếu được chụp X – quang có dùng màu phản quang. Khi lượng màu sử dụng nhiều, bệnh nhân bị mất nước thì càng dễ bị suy thận. Do vậy, bệnh nhân cần nạp vào cơ thể lượng nước thích hợp và dùng phẩm màu ít tác dụng phụ hơn.

Đối với những người dễ mắc bệnh thận, một vài loại dược phẩm như thuốc lợi tiểu sẽ làm cơ thể bị mất nước dẫn đến suy thận. Người bệnh cần lưu ý những loại thuốc kháng sinh, thuốc kháng nấm, thuốc kháng virus có thể gây suy thận. Trong trường hợp suy thận, bệnh nhân cần ngưng sử dụng các loại thuốc này; sau đó thông báo cho bác sĩ vì sử dụng chung nhiều loại dược phẩm cùng lúc thì đồng nghĩa với “bức tử” thận nhanh hơn.

Theo Người Lao Động

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang

Viêm bàng quang! Đái rắt, nóng rát khi đi tiểu, máu trong nước tiểu, nước tiểu đục hoặc múi mạnh, khó chịu vùng xương chậu, sốt nhẹ, đái dầm ở trẻ nhỏ…Gặp bác sỹ nếu: Đau bên hông, sốt và ớn lạnh, buồn nôn và ói mửa…

Định nghĩa

Viêm bàng quang là một thuật ngữ y tế. Hầu hết trường hợp viêm là do vi khuẩn, nó có thể được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI). Nhiễm trùng bàng quang có thể đau và khó chịu, và có thể trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu nhiễm trùng lan đến thận.

Ít phổ biến hơn, viêm bàng quang có thể xảy ra như là một phản ứng đối với một số loại thuốc , liệu pháp bức xạ hoặc chất kích thích tiềm năng, chẳng hạn như phun vệ sinh phụ nữ, thuốc diệt tinh trùng hoặc sử dụng lâu dài của một ống thông. Viêm bàng quang cũng có thể xảy ra như là một biến chứng của bệnh khác.

Việc điều trị thông thường cho vi khuẩn viêm bàng quang là thuốc kháng sinh. Điều trị cho các loại viêm bàng quang phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng viêm bàng quang thường bao gồm:

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Một cảm giác nóng rát khi đi tiểu.

Thường xuyên đi một lượng nhỏ nước tiểu.

Máu trong nước tiểu.

Nước tiểu đục hoặc có mùi mạnh.

Khó chịu ở vùng xương chậu.

Một cảm giác áp lực ở bụng dưới.

Sốt nhẹ.

Ở trẻ nhỏ, đái dầm cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) – đặc biệt là nếu đái dầm xảy ra:

Cả vào ban đêm và trong ngày.

Chỉ trong ngày.

Ít nhất một lần mỗi tuần.

Đái dầm ban đêm là không có khả năng được liên kết với một UTI.

Gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu có các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho một nhiễm trùng thận, bao gồm:

Đau bên hông.

Sốt và ớn lạnh.

Buồn nôn và ói mửa.

Nếu phát triển cấp bách, thường xuyên hoặc đi tiểu đau đớn kéo dài trong vài giờ hoặc lâu hơn, hoặc nếu nhận thấy máu trong nước tiểu, hãy gọi bác sĩ. Nếu đã được chẩn đoán với một UTI trong quá khứ và phát triển các triệu chứng giống UTI lần trước, gọi bác sĩ.

Cũng gọi cho bác sĩ nếu các triệu chứng viêm bàng quang trở lại sau khi đã hoàn tất một đợt điều trị kháng sinh.

Nếu trẻ bắt đầu có đái dầm ngày, gọi bác sĩ nhi khoa.

Nguyên nhân

Hệ thống tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Đóng một vai trò trong việc loại bỏ chất thải từ cơ thể. Thận  – một cặp cơ quan hình hạt đậu nằm về phía sau của vùng bụng phía trên, lọc chất thải khỏi máu và điều chỉnh nồng độ các chất. Ống gọi là niệu quản từ thận vào bàng quang, nơi nước tiểu được lưu trữ cho đến khi nó thoát ra cơ thể thông qua niệu đạo.

Vi khuẩn viêm bàng quang

UTIs thường xảy ra khi vi khuẩn bên ngoài cơ thể nhập vào đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hệ thống tiết niệu được thiết kế để tránh những kẻ xâm lược. Bàng quang tiết ra một lớp phủ bảo vệ nhằm ngăn ngừa vi khuẩn gắn vào thành của nó. Nước tiểu cũng có các tính chất kháng khuẩn mà ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Tuy nhiên, một số yếu tố tăng cơ hội cho vi khuẩn và nhân vào một bệnh toàn diện.

Nhiễm vi khuẩn bàng quang có thể xảy ra ở phụ nữ là kết quả của giao hợp tình dục. Trong thời gian hoạt động tình dục, vi khuẩn có thể được đưa vào bàng quang qua niệu đạo. Nhưng ngay cả khi không hoạt động tình dục trẻ em gái và phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiểu, bởi vì ở vùng sinh dục nữ thường là bến cảng vi khuẩn có thể gây viêm bàng quang .

Hầu hết các trường hợp viêm bàng quang gây ra bởi Escherichia coli (E. coli ), một loài vi khuẩn thường được tìm thấy ở vùng sinh dục. Một chủng mới của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có thể là nguyên nhân gây ra khó điều trị UTIs ở phụ nữ.

Các loại nhiễm trùng chính

Hai loại chính của nhiễm trùng bàng quang của vi khuẩn là:

Cộng đồng nhiễm trùng bàng quang. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra khi những người không trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như một bệnh viện hoặc điều dưỡng tại nhà, phát triển một nhiễm trùng bàng quang. Tình trạng này là phổ biến ở phụ nữ ở độ tuổi 20 – 50, nhưng nó ít phổ biến ở nam giới cùng tuổi. Tuy nhiên, người đàn ông lớn tuổi hơn 55 có thể có nguy cơ bị loại nhiễm trùng do tuyến tiền liệt nở lớn, một tình trạng phổ biến mà có thể chặn lưu lượng nước tiểu ở nam giới lớn tuổi.

  Nhiễm trùng bàng quang bệnh viện. Các bệnh nhiễm trùng xảy ra ở những người trong một cơ sở chăm sóc y tế, chẳng hạn như bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão. Thông thường chúng xảy ra ở những người đã có một ống thông đường tiểu đặt thông qua niệu đạo vào bàng quang để thu thập nước tiểu, một thực tế phổ biến trước khi một số thủ tục phẫu thuật, đối với một số xét nghiệm chẩn đoán, hoặc như một phương tiện thoát nước tiểu cho người lớn tuổi hoặc những người bị giới hạn.

Viêm bàng quang không lây nhiễm (noninfectious)

Mặc dù bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm bàng quang, một số yếu tố noninfectious cũng có thể gây ra viêm bàng quang. Một số ví dụ:

Viêm bàng quang kẽ. Nguyên nhân của viêm bàng quang mạn tính này, còn gọi là hội chứng đau bàng quang là không rõ ràng. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở phụ nữ. Các điều kiện có thể khó khăn để chẩn đoán và điều trị.

Thuốc gây ra viêm bàng quang. Một số thuốc, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị và cyclophosphamide ifosfamide có thể gây viêm bàng quang.

Bức xạ, viêm bàng quang. Bức xạ điều trị của khu vực xương chậu có thể gây ra những thay đổi trong mô viêm bàng quang.

Viêm bàng quang do ngoại lai. Sử dụng lâu dài ống thông có thể bị nhiễm trùng do vi khuẩn và tổn thương mô, cả hai đều có thể gây ra viêm.

Hóa chất viêm bàng quang. Một số người có thể bị quá mẫn cảm với hóa chất có trong sản phẩm nhất định, chẳng hạn như tắm bong bóng, thuốc xịt vệ sinh phụ nữ hay sứa diệt tinh trùng, và có thể phát triển một loại phản ứng dị ứng trong bàng quang, gây viêm.

Viêm bàng quang liên kết với các điều kiện khác. Viêm bàng quang đôi khi có thể xảy ra như là một biến chứng của rối loạn khác, chẳng hạn như ung thư phụ khoa, bệnh viêm vùng chậu, endometriosis, bệnh Crohn, diverticulitis, lupus và bệnh lao.

Yếu tố nguy cơ

Một số người có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển các bệnh nhiễm trùng bàng quang hay nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Phụ nữ là một trong những nhóm như vậy. Một lý do chính là giải phẫu. Phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn so với nam giới có.

Phụ nữ nguy cơ lớn nhất của UTIs bao gồm những người:

Sinh hoạt tình dục. Giao hợp tình dục có thể dẫn đến các vi khuẩn được đẩy vào niệu đạo.

Sử dụng một số loại ngừa thai. Những phụ nữ sử dụng diaphragms có nguy cơ gia tăng của UTI. Diaphragms có chứa chất diệt tinh trùng làm tăng thêm nguy cơ.

Đang mang thai. Thay đổi nội tiết khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bàng quang.

Yếu tố nguy cơ khác cả nam giới và phụ nữ bao gồm:

Can thiệp với dòng chảy của nước tiểu. Điều này có thể xảy ra trong điều kiện như một hòn sỏi trong bàng quang, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng.

Thay đổi trong hệ thống miễn dịch. Điều này có thể xảy ra với các điều kiện như tiểu đường , nhiễm HIV và điều trị ung thư. Một hệ thống miễn dịch giảm, tăng nguy cơ vi khuẩn và trong một số trường hợp nhiễm trùng bàng quang do virus.

Kéo dài việc sử dụng các ống thông bàng quang. Những ống có thể cần thiết ở những người bị bệnh mãn tính hoặc ở người lớn tuổi. Sử dụng kéo dài có thể dẫn đến tổn thương tăng lên đến nhiễm trùng do vi khuẩn cũng như các thiệt hại tế bào bàng quang.

Các biến chứng

Khi được điều trị kịp thời và đúng cách, nhiễm trùng bàng quang hiếm khi dẫn đến biến chứng. Nhưng không được chữa trị, có thể trở thành một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Các biến chứng có thể bao gồm:

Nhiễm trùng thận. Bị nhiễm trùng bàng quang không được điều trị có thể dẫn đến nhiễm trùng thận (viêm bể thận). Nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận. Trẻ nhỏ và người cao niên đang có nguy cơ lớn nhất của suy thận do nhiễm trùng bàng quang vì triệu chứng thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các điều kiện khác.

Máu trong nước tiểu. Viêm bàng quang đôi khi được đi kèm bởi các tế bào máu trong nước tiểu có thể được nhìn thấy chỉ với một kính hiển vi và thường giải quyết với điều trị. Nếu các tế bào máu vẫn còn sau khi đã được điều trị, bác sĩ có thể khuyên gặp một chuyên gia có thể xác định xem liệu có một nguyên nhân.

Trong khi máu trong nước tiểu có thể hiếm hoi nhìn thấy bằng mắt thường là điển hình của viêm bàng quang với vi khuẩn, nhưng không phải là không phổ biến bằng hóa trị hoặc xạ gây ra viêm bàng quang. Điều này đôi khi được gọi là viêm bàng quang xuất huyết. Tăng chất lượng thường là bước đầu tiên trong điều trị. Nếu chảy máu trở nên trầm trọng, việc điều trị hóa – xạ mà bắt đầu chảy máu thường được hoãn cho đến khi chảy máu dừng. Chảy máu nặng được điều trị bằng thuốc hoặc truyền máu, nếu cần thiết.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu có triệu chứng của viêm bàng quang, nói chuyện với bác sĩ càng sớm càng tốt. Ngoài ra để thảo luận về các dấu hiệu và triệu chứng và lịch sử y tế, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm này:

Phân tích nước tiểu. Nếu bị nghi ngờ có một nhiễm trùng bàng quang, bác sĩ có thể xin một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Soi bàng quang. Kiểm tra bàng quang với cystoscope – một ống mỏng với một ánh sáng và camera gắn có thể được chèn vào thông qua niệu đạo vào bàng quang có thể giúp chẩn đoán. Bác sĩ cũng có thể sử dụng cystoscope để loại bỏ một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để phân tích trong phòng thí nghiệm. Thử nghiệm này rất có thể sẽ không cần thiết nếu đây là lần đầu tiên có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm bàng quang.

Hình ảnh. Hình ảnh thường là không cần thiết nhưng trong một số trường hợp, đặc biệt là khi không có bằng chứng của nhiễm trùng được tìm thấy có thể hữu ích. Các xét nghiệm, chẳng hạn như X- quang hoặc siêu âm có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác của viêm bàng quang tiềm năng, chẳng hạn như một khối u hoặc bất thường cấu trúc.

Phương pháp điều trị và thuốc

Viêm bàng quang gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Điều trị viêm bàng quang không lây nhiễm phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Điều trị viêm bàng quang do vi khuẩn

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của điều trị cho viêm bàng quang gây ra bởi vi khuẩn. Loại thuốc được sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào sức khỏe tổng thể và các vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu.

Thông thường triệu chứng cải thiện đáng kể trong vòng một ngày. Tuy nhiên, có thể sẽ cần phải dùng thuốc kháng sinh trong ba ngày đến một tuần, tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh. Không có vấn đề gì về độ dài của điều trị, dùng toàn bộ đợt kháng sinh theo quy định của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn tận diệt.

Nếu có UTIs tái phát, bác sĩ có thể khuyên nên điều trị kháng sinh dài hơn hoặc giới thiệu đến một bác sĩ chuyên về chứng rối loạn đường tiểu để đánh giá, để xem có bất thường về tiết niệu có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng. Đối với một số phụ nữ, dùng một liều duy nhất thuốc kháng sinh sau khi giao hợp tình dục có thể hữu ích.

Nhiễm trùng bàng quang tai bệnh viện có thể là một thách thức để xử lý, vì vi khuẩn được tìm thấy trong các bệnh viện thường đề kháng với các loại kháng sinh được sử dụng chung của cộng đồng. Vì lý do đó, các loại thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị khác nhau có thể cần thiết.

Điều trị viêm bàng quang kẽ

Với viêm bàng quang kẽ, nguyên nhân của viêm là không chắc chắn, vì vậy không điều trị duy nhất mà tốt nhất là phối hợp cho mọi trường hợp. Liệu pháp được sử dụng để giảm bớt những dấu hiệu và triệu chứng của viêm bàng quang kẽ bao gồm:

Thuốc được dùng qua đường miệng hoặc gieo trực tiếp vào bàng quang.

Thủ tục thao tác bàng quang để cải thiện triệu chứng, chẳng hạn như trướng bàng quang hoặc đôi khi phẫu thuật.

Kích thích thần kinh trong đó sử dụng các xung điện nhẹ để giảm đau vùng chậu, và trong một số trường hợp giảm tần số tiết niệu.

Điều trị các hình thức khác của viêm bàng quang không truyền nhiễm

Nếu đang quá mẫn cảm với hóa chất nhất định trong sản phẩm như tắm bong bóng hoặc chất diệt tinh trùng, tránh các sản phẩm này có thể giúp giảm triệu chứng và giúp ngăn ngừa viêm bàng quang.

Viêm bàng quang phát triển như là một biến chứng của hóa trị hoặc xạ trị liệu, điều trị tập trung vào quản lý đau, thường với thuốc men và hydrat hóa để loại ra chất kích thích bàng quang. Hầu hết các trường hợp điều trị hóa chất gây ra viêm bàng quang có xu hướng giải quyết sau khi hóa trị kết thúc.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Viêm bàng quang có thể bị đau, nhưng có thể thực hiện các bước để giảm bớt sự khó chịu:

Sử dụng một miếng đệm nóng. Đôi khi một miếng đệm nóng đặt trên bụng có thể giúp giảm thiểu cảm giác áp lực bàng quang hoặc đau đớn.

Uống nhiều chất lỏng nhưng tránh cà phê, rượu, nước giải khát có caffein, uống nước cam và các loại thực phẩm nhiều gia vị cho đến khi bệnh đã hết. Uống nhiều chất lỏng có thể kích thích bàng quang và làm tăng các nhu cầu thường xuyên hoặc khẩn cấp để đi tiểu.

Hãy tắm bồn ấm. Nó có thể hữu ích để đắm mình trong một bồn tắm nước ấm cho 15 – 20 phút.

Nếu có nhiễm trùng bàng quang tái phát, hãy để bác sĩ biết. Cùng với nhau có thể phát triển một chiến lược để giảm tái phát và những khó chịu mà viêm bàng quang có thể mang lại.

Phòng chống

Nước trái cây cranberry hoặc viên nén có chứa proanthocyanidin là các biện pháp khắc phục chứng minh để giảm nguy cơ nhiễm trùng bàng quang tái phát. Tuy nhiên, không uống nước trái cây cranberry nếu đang uống warfarin thuốc làm loãng máu. Có thể tương tác giữa dẫn đến chảy máu.

Mặc dù các bước phòng ngừa tự chăm sóc cũng chưa được nghiên cứu, các bác sĩ thường khuyên sau đây cho những phụ nữ đã có bệnh nhiễm trùng bàng quang lặp đi lặp lại:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng đặc biệt quan trọng nếu đang trải qua hóa trị hoặc xạ trị, đặc biệt vào những ngày điều trị.

Đi tiểu thường xuyên. Nếu cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu, không chậm trễ bằng cách sử dụng nhà vệ sinh.

Lau từ trước ra sau sau khi đi tiêu. Điều này ngăn cản các vi khuẩn trong khu vực lây lan qua đường hậu môn vào âm đạo và niệu đạo.

Tắm vòi sen thay vì tắm bồn. Nếu dễ bị nhiễm trùng, tắm vòi sen thay vì tắm bồn có thể giúp ngăn ngừa nó.

Nhẹ nhàng rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn. Làm điều này hàng ngày, nhưng không sử dụng xà phòng rửa quá khắc nghiệt hoặc mạnh mẽ. Da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Rỗng bàng quang càng sớm càng tốt sau khi giao hợp. Uống một ly nước đầy để giúp vi khuẩn tuôn ra.

Tránh sử dụng thuốc xịt khử mùi hoặc các sản phẩm xịt phụ nữ ở vùng sinh dục. Những sản phẩm này có thể kích thích niệu đạo và bàng quang.

Theo Dieutri.vn

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Sỏi mật là trong lòng ống mật có những viên sỏi nhỏ, to, hay bùn mật ở vị trí trong gan hoặc ngoài gan, ở túi mật. Bệnh có thể gây viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa … rất nguy hiểm.

Sỏi mật hình thành như thế nào?

Người ta thấy có hai loại sỏi mật thường được hình thành là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

 Loại sỏi cholesterol: vì một lý do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỷ lệ: nồng độ cholesterol tăng lên, nồng độ chất làm tan (muối mật – lecithin) giảm xuống, khi đó cholesterol kết tủa tạo ra những tinh thể là tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Những yếu tố làm giảm bài tiết muối mật gồm: bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; người béo: dự trữ muối mật giảm, sản xuất muối mật tăng nhanh nhưng không nhanh bài tiết; người cao tuổi. Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: chế độ ăn giàu calo, dùng thuốc oestrogen, cloflbrat. Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước nên làm cho cholesterol được cô đặc hơn; đồng thời túi mật tiết ra chất mueus có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

Người bị sỏi mật cần có chế độ ăn hạn chế mỡ động vật.

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này. Nguyên nhân là do trứng giun đũa hoặc xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào gây sỏi. Nếu giun đũa lên đường mật nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật, gây ra những vết loét xước và sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thùy gan, phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần từ đó hình thành sỏi mật.

Biểu hiện của bệnh sỏi mật

Một người bị sỏi mật sẽ có các dấu hiệu sau: đau bụng với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải (HSP), kiểu đau quặn gan, thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23 – 24 giờ; khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh; cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày. Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn. Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều. Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ; sốt và đau HSP đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao; có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng; có khi sốt nhẹ 37,5 – 380C; nếu không viêm thì không sốt.
Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1 – 2 ngày; vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu; vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm; vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt. Ba chứng: đau, sốt, vàng da còn gọi là Tam chứng Charcot  tái phát nhiều lần, khoảng cách giữa các đợt vài tuần, vài tháng, vài năm. Khám thấy: gan to đều, mức độ to từ mấp mé dưới bờ sườn  đến 5 – 6cm dưới bờ sườn tùy mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức. Túi mật to cùng với gan to, túi mật to, đau khi sờ nắn, có thể co cứng HSP. Xét nghiệm máu: bilirubin toàn phần tăng. Siêu âm thấy sỏi túi mật, sỏi ống mật. Chụp phim Xquang thấy sỏi.

 Trên thực tế thường gặp ba thể bệnh chính như sau: một là trường hợp điển hình có Tam chứng Charcot, hội chứng tắc mật, bệnh tái phát nhiều lần, với các triệu chứng như trên chẩn đoán đúng sỏi mật 60- 75%. Hai là triệu chứng lâm sàng không điển hình: có cơn đau quặn gan, không vàng da, không tắc mật; hoặc tắc mật nhưng không đau quặn gan. Ba là bệnh nhân bị sỏi nhưng đến bệnh viên cấp cứu vì biến chứng như: viêm phúc mạc mật với các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, bụng cứng, vàng da; sốc nhiễm khuẩn; sốt, túi mật to, đau; chảy máu tiêu hoá: nôn ra máu có hình thỏi kiểu như ruột bút chì; đau bụng cấp, nôn, trướng bụng.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh 

Việc dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong điều trị viêm nhiễm đường mật do sỏi. Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ để dùng thuốc vừa hiệu quả, vừa rút ngắn thời gian mắc bệnh cho bệnh nhân. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì phải dùng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, liều cao như: colistin, cephalosporin, ampixillin, gentamyxin… Các thuốc giãn cơ, giảm co thắt như atropin, spasmaverin…; thuốc lợi mật như: sunfat magie, siro actiso, sorbitol…; các thuốc làm tan sỏi dùng trong các trường hợp viên sỏi nhỏ dưới 2cm, túi mật còn tốt, bệnh nhân không thể mổ được, hoặc đề phòng sỏi tái phát sau mổ. Phẫu thuật trong các trường hợp: sỏi gây viêm túi mật hoại tử, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, đau dữ dội mà dùng thuốc giảm đau không kết quả, chảy máu đường mật, áp-xe đường mật dọa vỡ, viêm đường mật kéo dài, tắc mật kéo dài,  tái phát nhiều lần, sỏi túi mật… Lấy sỏi qua máy soi tá tràng…

Bệnh nhân bị sỏi mật cần thực hiện một chế độ ăn kiêng hợp lý đó là: kiêng ăn mỡ, nhất là các loại thịt mỡ động vật như bò, gà, lợn… Ăn giảm calo: chỉ ăn  2.000 calo/24 giờ. Uống các loại nước thuốc nam có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh như nước  khoáng, nước nhân trần, actiso.

Phòng bệnh sỏi mật cần thực hiện nhiều biện pháp sau đây: khám bệnh định kỳ để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh là nguyên nhân gây sỏi mật như bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật, rối loạn lipid máu; kiểm soát ăn uống chống thừa cân béo phì; tránh ăn chế độ ăn giàu calo; tránh dùng các thuốc oestrogen chữa bệnh cho người có bệnh sỏi mật từ trước; định kỳ 6 tháng một lần tẩy giun, thực hiện ăn chín uống sôi để tránh nhiễm giun.

ThS. Bùi Quỳnh NgaTheo suckhoedoisong

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Són tiểu là khi bệnh nhân không kiểm soát được lúc nào họ đi tiểu.  Kết qủa là họ tiểu són ra quần, nhiều khi phải mang tã khi đi ra đường.  Chứng bệnh ngại ngùng nhưng chữa được.

Chứng bệnh này xẩy ra thường nhất ở những người phụ nữ trên 50 tuổi.  Và cũng có thể xẩy ra ở người phụ nữ trẻ hơn, nhất là trong khi mang thai, hoặc vừa sanh đẻ xong. 

Nên nói với bác sĩ của mình khi bị chứng này.  Nếu không thì lại đâm ra ngượng, không dám đi ra ngoài, gặp bạn bè và gia đình, lại còn bị sải, rôm da và nhiễm trùng đường tiểu.

Các loại són tiểu:

Có tất cả 3 loại:

1.  Són tiểu khi tăng áp lực trong bụng (Stress incontinence):

Triệu chứng này xẩy ra khi áp lực trong bụng dưới đột ngột tăng lên, chẳng hạn như khi ho, cười, khuân nặng hay tập thể thao.  Lý do là vì các bắp cơ khu bàn tọa bị suy yếu, thường là vì sanh đẻ hay sau khi giải phẫu phần hạ bộ.

2.  Són tiểu cấp kỳ (Urge incontinence):

Chứng này xẩy ra khi cơn mắc tiểu xẩy ra cấp kỳ, không kịp thời gian cho người bệnh nhân đi đến nhà cầu.  Triệu chứng này thường xẩy ra ở những người lớn tuổi và có thể là triệu chứng của bệnh nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng thân hay bệnh tiểu đường .

3.  Són tiểu khi đầy bọng đái (Overflow incontinence):

Người bệnh này lúc nào cũng nhỏ giọt nước tiểu.  Chứng này bị gây ra bởi bọng đái bị tràn đầy.  Người bệnh nhân cảm thấy như họ không đi tiểu hoàn toàn được.  Chứng này thường xẩy ra ở người đàn ông vì bị sưng nhiếp hộ tuyến.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH SÓN TIỂU:

Chứng này có thể xảy ra trong khi có thai, khi ho hoặc ách xì, hoặc khi thực hiện một động tác nào đó làm tăng sức ép vào bọng đái (bàng quang). Nó cũng có thể liên quan đến nhiễm trùng đường tiểu, tổn thương của vùng chậu, xạ trị, hoặc gây ra do một số bệnh của hệ thần kinh hoặc các hệ thống khác của cơthể. Rượu, cà phê, và một số thuốc cũng có thể là nguyên nhân hoặc góp phần gây ra tiểu són. Trong một số trường hợp, có người chỉ cần nghe tiếng nước chảy là són tiểu. Trong trường hợp quá sợ hãi, “sợ đến… “tè” ra quần” là chuyện không phải hiếm gặp.

Tiểu són thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn ở nam giới, vì đường tiểu của phụ nữ ngắn hơn của nam giới nhiều. Ở phụ nữ trẻ, nguyên nhân thường gặp nhất là do thiếu sự nâng đỡ ở cổ bọng đái (nơi tiếp giáp của bọng đái với niệu đạo). Ở phụ nữ lớn tuổi, nguyên nhân thường gặp là do bọng đái bị yếu hoặc quá… “hăng hái” .

Ngoài ra còn có những nguyên nhân sau:

- Ở phụ nữ, lớp niêm mạc trong âm đạo bị mỏng và khô, nhất là sau khi tắt kinh nguyệt.

- Ở đàn ông, sưng nhiếp hộ tuyến hoặc sau khi giải phẫu nhiếp hộ tuyến.

- Suy thoái các bắp thịt ở bàn tọa.

- Bị táo bón.

- Tê liệt nằm tại chỗ.

- Nhiễm trùng đường tiểu.

- Bệnh tiểu đường.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH SÓN TIỂU:

Triệu chứng chính của tiểu són, dĩ nhiên là… són tiểu. Sự són nước tiểu này có thể thường xuyên và nhiều, hoặc không thường xuyên và ít. Đối với những người còn hoạt động (đi làm, dự tiệc tùng nhiều), hoặc những người bị són nhiều nước tiểu, ngay cả một lần mỗi tuần (nhất là vào lúc không thích hợp) cũng có thể đã là quá nhiều.

Các triệu chứng có thể đi kèm là:

- Tiểu lắt nhắt hơn một lần mỗi hai tiếng đồng hồ, hoặc trên bảy lần một ngày.

- Phải thức dậy để đi tiểu ít nhất hai lần một đêm.

- Tiểu gắt.

- Đái dầm.

III. XÉT NGHIỆM CHUẨN ĐOÁN CHỨNG SÓN TIỂU:

Để chữa trị thích hợp, bác sĩ sẽ phải hỏi bệnh tỉ mỉ, làm các xét nghiệm thích hợp. Đầu tiên, là bệnh sử của bệnh nhân, ví dụ như:

- Những thuốc gì đang dùng.

- Số lần có thai.

- Có những bệnh gì khác ngoài chứng són tiểu.

- Số lần bị són tiểu và số lượng nước tiểu són mỗi lần, trong vòng 24 đến 72 giờ.

- Số lượng nước và chất lỏng (canh, phở…) dùng trong thời gian đó.

- Các hoạt động, cười, ho… trong hay trước khi bị són tiểu.

- Số lượng cà phê, rượu đã dùng cũng có thể giúp bác sĩ trong việc chẩn đoán són tiểu.

Sau khi hỏi bệnh, bác sĩ sẽ phải khám xem có bệnh tổng quát gì không, khám vùng đi tiểu (vùng chậu – pelvic examination), và làm một số thử nghiệm để đo số lượng nước tiểu mỗi lần đi tiểu và số nước tiểu còn trong bàng quang sau khi đi tiểu.

Xét nghiệm nước tiểu xem có bị nhiễm trùng không, xét nghiệm xem thận có vấn đề gì không, cũng nằm trong số những điều cần phải làm để có chẩn đoán chính xác.

Một số thử nghiệm để xem nước tiểu có bị són ra (khi bọng đái đang đầy) trong lúc ho, đeo tả để xem nước tiểu ra nhiều hay ít, đo áp lực và thể tích của bọng đái khi đầy nước, vân vân là các cách để phân loại tiểu són và có cách trị thích hợp.

Khi đã có chẩn đoán chính xác, sẽ có nhiều cách hiệu quả để điều trị tiểu són.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH SÓN TIỂU:

Đầu tiên, việc đơn giản nhất là trị hoặc tránh các yếu tố có thể góp phần vào việc tiểu són, đái dầm. Ví dụ, như tránh không uống nhiều nước vào buổi tối, giảm bớt rượu, cà phê nếu đó có thể là nguyên nhân. Sau khi kiểm tra các thuốc đang dùng, bác sĩ có thể ngưng hoặc thay các thuốc có thể góp phần vào việc tiểu són.

Tập đi tiểu thường xuyên dù chưa mắc tiểu cũng là một cách để giảm tiểu són. Trong trường hợp tiểu són vì cơ kiểm soát đường tiểu bị yếu, một phương pháp tập luyện các cơ ở vùng chậu (được gọi là Kegel exercises) tương đối đơn giản sẽ được hướng dẫn cho bệnh nhân để làm cho đường tiểu được kiểm soát tốt hơn.

Nếu ho, ách xì… gây ra són tiểu, trị các triệu chứng này cũng sẽ giúp rất nhiều. Một số bệnh khác, tổng quát hay thần kinh, có thể là nguyên nhân, và trị nguyên nhân, nếu được thường là cách tốt để tiệt nguồn gốc của triệu chứng.

Có nhiều thuốc để trị triệu chứng són tiểu. Các thuốc này có thể là thuốc điều khiển sự co bóp của bọng đái; thuốc tăng cường cơ kiểm soát niệu đạo (ống tiểu).

Nếu bị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ kê toa kháng sinh. Đôi khi estrogen cần thiết để làm tăng độ đàn hồi của các cơ bắp ở vùng chậu ở phụ nữ đã mãn kinh. Tuy nhiên, bác sĩ sẽ chỉ dùng khi thật cần thiết và với liều thấp nhất có thể được. Các loại kem estrogen có thể giúp giảm triệu chứng nhiều hơn trong khi ít bị hấp thu vào cơ thể hơn so với các loại estrogen dán hoặc uống.

Một số dụng cụ có thể được dùng để giúp tập cho các bắp thịt ở đường tiểu co bóp hiệu quả hơn.

Cuối cùng, thường thì khi các phương pháp khác đã thất bại, phẫu thuật có thể giúp ích. Phẫu thuật cũng có nhiều phương pháp khác nhau.

Trong nhiều trường hợp, phụ nữ có thể phòng ngừa (hoặc chữa) chứng són tiểu bằng các thể dục đơn giản làm tăng độ dẻo dai và sức mạnh của các bắp thịt xung quanh ống dẫn tiểu, âm đạo và hậu môn (kegel exercises). Bác sĩ và y tá có thể hướng dẫn để tập các thể dục này một cách hiệu quả.

Giảm cân, tập thể dục bụng, giảm ho, tránh nâng vật nặng quá, bỏ hút thuốc, trị bón cũng có thể giúp phòng són tiểu.

Đi tiểu đều đặn dù chưa cảm thấy “mắc tiểu” cũng có thể giúp phòng chứng són tiểu.

Tóm lại, són tiểu là một chứng thường gặp, cũng là một loại bệnh tật như các loại bệnh tật khác. Ta không nên quá mắc cỡ đến nỗi giấu cả bác sĩ, khiến cho bệnh không được chữa trị đúng mức và vào lúc còn nhẹ. Tùy theo nguyên nhân, có nhiều cách từ (thường là) đơn giản đến phức tạp để trị và phòng són tiểu có hiệu quả. Khi có triệu chứng, nên gặp bác sĩ sớm để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

 

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

B ướu thận có hai loại:

B ƯỚ U LÀNH

Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

B ƯỚ U ÁC TÍNH

Ở trẻ em:

·       Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp, sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

Ở người lớn:

Bướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

I. GIẢI PHẪU VÀ TIẾN TRIỂN CỦA BƯỚU THẬN:

Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày , Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.

·       Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.

·       Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BƯỚU THẬN:

Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đaukhối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

·       Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.

·       Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.

·       Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.

·       Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH BƯỚU THẬN:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

IV. ĐIỀU TRỊ BƯỚU THẬN:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

- Nếu bệnh nhân bị b ướ u lành thì chỉcần mổkhi bướu lớn quá, chảy máu hoặc đau. Mổcắt bỏcảthận hoặc một phần thận có bướu tùy tình hình cụthể.

- Nếu bệnh nhân bị ung thư thận thì phải cắt bỏ toàn bộ thận có bướu càng sớm càng tốt. Việc hóa trị và xạ trị sau đó chỉ có tính cách bổ túc mà thôi.

Rò bàng quang âm đạo

Rò bàng quang âm đạo

Rò bàng quang (BQ) âm đạo (ÂĐ) là sự hiện diện của một lỗ thông thương giữa BQ và ÂĐ. Đây là tình trạng bệnh lý gây ảnh hưởng đến chất lượng sống, làm cho người bệnh rất khó chịu cần phải điều trị sớm.


Nguyên nhân của rò BQ – ÂĐ

Tai biến trong mổ sinh, sang chấn trong quá trình chuyển dạ. Chuyển dạ kéo dài do bất cân xứng giữa đầu thai nhi với khung chậu của người mẹ, gây chèn ép BQ hoại tử BQ tạo ra rò BQ – ÂĐ.

Sau tai biến phẫu thuật cắt tử cung qua ngả bụng.

Do chấn thương vì tai nạn như: ngã ngồi phải cọc, tai nạn giao thông. Ngoài ra, ung thư BQ và trực tràng (tại chỗ hoặc di căn từ nơi khác đến) xâm lấn vào các vách ngăn rồi gây thủng. Cũng có khi do đặt kim phóng xạ để điều trị các loại ung thư vùng chậu hông. Các tia phóng xạ này diệt tế bào ung thư, đồng thời cũng làm thủng vách ngăn giữa BQ, trực tràng và ÂĐ.

Cách xác định rò BQ – ÂĐ

Thường xuất hiện 7 – 14 ngày sau khi mổ, ở thời điểm này xuất hiện nước tiểu chảy ra từ ÂĐ, số lượng nước tiểu chảy ra nhiều hay ít tùy thuộc vào kích thước và vị trí của lỗ rò.

Thử nghiệm màu: bơm dung dịch bleu methylene vào BQ qua một ống thông niệu đạo. Đặt 3 tampon vào ÂĐ sau khi BQ được bơm đầy nước, thấy có sự nhuộm màu của tampon.

Xác định lỗ rò bằng cách nội soi BQ để đánh giá số lượng, kích thước, vị trí lỗ rò đồng thời đánh giá mức độ viêm nhiễm của BQ, để có cách điều trị tốt nhất.

Rò niệu quản – ÂĐ cũng hay đi kèm với rò BQ – ÂĐ là nguyên nhân thường gặp sau phẫu thuật vùng đáy chậu, xác định bằng chụp hệ niệu có cản quang.

Điều trị rò BQ – ÂĐ

Trường hợp lỗ rò nhỏ, dùng đốt điện đường rò kết hợp đặt dẫn lưu BQ tốt giúp cho đường rò hóa sẹo.

Các trường hợp khác phải phẫu thuật. Cần mổ sớm khi các phần BQ – ÂĐ tiếp giáp lỗ rò còn mềm mại, chưa bị xơ cứng do viêm kéo dài. Từ lỗ rò, các bác sĩ sẽ bóc tách tổ chức BQ khỏi tổ chức ÂĐ trên một diện đủ rộng để khâu đóng kín lỗ rò BQ, sau đó khâu lỗ rò ÂĐ.

Theo SKDS

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Theo thạc sĩ – bác sĩ Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường type 2 có xu hướng gia tăng ở các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khác với người lớn, đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần dinh dưỡng để phát triển. Chưa kể đến sự “thiếu hiểu biết” của một bộ phận không nhỏ phụ huynh.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng trẻ mắc đái tháo đường type 2 ngày càng tăng là do thói quen ăn uống và lối sống thiếu lành mạnh. Thống kê ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỉ lệ trẻ đái tháo đường type 2/type 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 4/1. Còn ở nước ta, không ít lần báo giới đã lên tiếng về những trường hợp trẻ nhỏ (cấp tiểu học) mắc đái tháo đường type 2. Trường hợp nhỏ nhất là một bé 6 tuổi hiện đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết.

Nguyên nhân do lối sống

Đái tháo đường type 1 ở trẻ là bệnh có tính chất di truyền, do rối loạn tổng hợp insulin, rối loạn nơi sản xuất insulin, có tính chất bẩm sinh nhiều hơn, bắt buộc phải điều trị bằng insulin thay thế. Đái tháo đường type 2 vốn thường gặp ở người lớn do liên quan đến yếu tố ăn uống, béo phì, cao huyết áp, lười vận động không tiêu hao năng lượng…, phải điều trị bằng thuốc và kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân.

Vì vậy, theo bác sĩ Lê Thị Hải, đa phần trẻ mắc đái tháo đường type 2 ở nước ta thường gắn liền với chứng thừa cân, béo phì, do lối sống thiếu cân bằng và chứng ăn uống thiếu điều độ gây nên. Một phần nguyên nhân nữa là do nhận thức của những người làm ông bà, cha mẹ. Bác sĩ Hải cho biết, không ít trường hợp bệnh nhi đến khám ở tình trạng thừa cân, béo phì và có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cực cao. Nhưng khi bác sĩ tư vấn về chế độ ăn uống thì các bậc phụ huynh lại “giãy nảy” lên mà rằng con họ chỉ hơi mũm mĩm thôi và cháu lười ăn lắm (?!)…

Trong khi đó, việc điều trị bệnh cho trẻ đái tháo đường type 2 không hề đơn giản. Thông thường, người mắc đái tháo đường type 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

Bên cạnh đó, việc điều trị bệnh đái tháo đường không đúng sẽ gây ra những biến chứng nhất định, trong đó có hạ đường huyết. Do não trẻ em cần được cung cấp đường hằng định, nên khi hạ đường huyết sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến não, làm giảm sự phát triển của não. Kết quả giảm trí thông minh và giảm thị lực nếu tình trạng hạ đường huyết kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Theo bác sĩ Hải, cách hạn chế tốt nhất căn bệnh này là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Với trẻ bị đái tháo đường type 1, nhìn chung vẫn có chế độ ăn như bình thường, chỉ cần hạn chế (không phải là cấm tuyệt đối) cho trẻ ăn đồ ngọt, hạn chế tinh bột và hạn chế dùng mỡ động vật. Còn với trẻ bị đái tháo đường type 2 thì năng lượng, tinh bột trẻ ăn hàng ngày cần được tính toán chặt chẽ hơn. Bố mẹ nên cho trẻ bị đái tháo đường ăn thành nhiều bữa trong ngày vì ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

- Các thực phẩm không nên ăn: Đường ngọt, bánh kẹo, nước ngọt, kem, nước mía, các loại quả khô ướp đường như mứt, quả ngọt sấy khô như chuối, mít…

- Các thực phẩm nên hạn chế: Các quả chín quá ngọt như mít, na, chuối, nhãn, vải…; các đồ ăn chế biến sẵn như patê, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói…; các món ăn xào rán nhiều mỡ, bánh mỳ, mỳ tôm, cơm, các loại thịt nhiều mỡ, bơ, pho mát…

- Các thực phẩm nên ăn: Ngũ cốc nguyên hạt như ngô, khoai sọ…; các loại rau xanh như bắp cải, rau cần, rau bí, rau muống…; quả chín ít ngọt như dưa chuột, thanh long, bưởi, cam, táo ta, lê, mận…

Không cần kiêng đường

Tuy nhiên, trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Hiện nay, trên thị trường đã có những sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường. Đó là Isomalt với nguyên liệu được nhập khẩu từ Đức. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đây là chất ngọt tự nhiên và an toàn. Nó có chỉ số đường huyết thấp (GI=28) và sinh ít năng lượng (1g Isomalt cho 2Kcal). Loại đường này có thể dùng cho cả trẻ béo phì, phụ nữ mang thai. Ngoài ra, còn có một số loại đường ăn kiêng khác như: đường Acesulframe-K có các tên thương mại là Sunette, Sweet one, Sweet”n safe, đường Sucralose (tên thương mại là Splenda)… Các loại đường này ngoài việc sử dụng trực tiếp còn được các nhà sản xuất dùng để sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những người “hảo ngọt” nhưng phải kiêng đường (đường mía). Ví dụ các loại bánh, kẹo không đường của Bibica (sử dụng Isomalt).

Ngoài ra, do trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt nên trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng, với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì.

Theo 24h.com.vn

Huyết trắng – hãy cẩn trọng!

Huyết trắng – hãy cẩn trọng!

Bình thường ở bộ phận sinh dục của người phụ nữ vẫn có tiết ít dịch, để bôi trơn khi có tiếp xúc tình dục và để bảo vệ niêm mạc, phòng các bệnh viêm nhiễm.

Tuy nhiên, khi số lượng chất nhầy này trở nên nhiều và kèm các triệu chứng gây khó chịu như: ngứa, có mùi hôi, thậm chí có bọt hoặc sau khi “khô” đi để lại một mảng trắng bám vào bên trong bộ phận sinh dục, thì lúc đó bạn cần phải đi khám bệnh.
Khi có nhiều huyết trắng, thì bạn đã có thể bị viêm âm đạo hoặc viêm cổ tử cung. Nguyên nhân gây bệnh huyết trắng có thể là nấm candida albicans, trùng roi âm đạo hoặc tạp khuẩn. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ bàn đến bệnh viêm âm đạo do tạp khuẩn (VÂĐDTK), một bệnh thường gặp ở phụ nữ nhưng hay bị bỏ sót, không được điều trị.

VÂĐDTK là một bệnh nhiễm trùng hay gặp nhất ở phụ nữ trong tuổi sinh sản. Nó xuất hiện khi có sự mất cân bằng về số lượng vi khuẩn ở âm đạo. Bình thường ở âm đạo có 2 nhóm vi khuẩn có “hại” và có “lợi”. Khi có sự mất cân bằng giữa 2 nhóm này, nhóm có “hại” phát triển mạnh hơn thì người đó sẽ mắc bệnh.

Vì sao có sự rối loạn vi khuẩn dẫn đến mắc VÂĐDTK đến nay vẫn chưa được biết rõ. Vai trò của tiếp xúc tình dục đến nay vẫn chưa được chứng minh, tuy nhiên người ta thấy rằng, bệnh này hay xuất hiện ở những người phụ nữ đã có quan hệ tình dục qua đường âm đạo. Bạn càng dễ mắc bệnh nếu có các hoạt động sau:

- Có nhiều bạn tình mới.

- Sử dụng dụng cụ tử cung để tránh thai.

- Quan hệ không sử dụng bao cao su.
Bệnh không lây qua đường dùng chung đồ tắm, ngủ chung giường, dùng chung đồ trong phòng tắm.

Triệu chứng của VÂĐDTK

Phụ nữ mắc bệnh VÂĐDTK thường có huyết trắng nhiều, mùi khó chịu giống cá ươn, nhất là sau quan hệ tình dục. Huyết trắng có thể có màu trắng, hoặc hơi đục. Các biểu hiện khác có thể là ngứa bên ngoài âm đạo, khó tiểu, khó chịu tại chỗ. Cũng có người mắc bệnh mà không có biểu hiện gì. Vậy nên, cách tốt nhất là đi gặp bác sĩ. Bác sĩ sẽ khám bệnh và làm xét nghiệm cho bạn, nếu mắc bệnh, bạn sẽ được điều trị. Người bạn tình của bạn không cần thiết được điều trị. Bạn cần cẩn thận vì vẫn có thể bị tái lại sau khi đã được điều trị.

VÂĐDTK có gây ra biến chứng nghiêm trọng?

Phần lớn VÂĐDTK không gây ra những vấn đề nghiêm trọng. Tuy nhiên, đôi khi có thể xảy ra các biến chứng sau nếu không điều trị kịp thời:

- Trong thai kỳ gây sinh non, trẻ sơ sinh nhẹ cân.

- Viêm vùng chậu, nhiễm trùng các phần phụ của bộ phận sinh dục nữ như: tử cung, vòi trứng, buồng trứng.

- VÂĐDTK làm tăng khả năng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác và dễ bị nhiễm HIV . Nó cũng làm tăng khả năng lây HIV cho người bạn tình.

Có thể phòng ngừa VÂĐDTK được không?

Chưa có cách phòng ngừa cụ thể và có hiệu quả. Tuy nhiên, cần áp dụng vài biện pháp sau:

- Hạn chế quan hệ tình dục với nhiều bạn tình.

- Chung thủy với một bạn tình, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

Theo Giadinh.net