Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Tây y với bệnh Zona

Tây y với bệnh Zona

Zona là một bệnh ngoài da thường gặp. Nếu tính thời gian trong suốt cuộc đời thì tỷ lệ người mắc bệnh có thể lên tới 20% dân số. Bệnh có thể phát ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng tăng.
Đa số bệnh nhân zona có tiền sử mắc bệnh thủy đậu từ bé. Virut gây bệnh zona cùng loài với virut gây bệnh thủy đậu có tên là virut varicella. Bệnh thủy đậu gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Sau khi bệnh thủy đậu đã khỏi thì một số virut varicella vẫn còn tồn tại ở trạng thái tiềm tàng, không gây bệnh, cư trú ở hạch thần kinh. Khi gặp điều kiện thuận lợi như: suy giảm miễn dịch, suy nhược cơ thể, các sang chấn tinh thần… các virut này trở lại trạng thái hoạt động, nhân lên, phát triển ra các đầu dây thần kinh cảm giác và gây bệnh.


Lúc đầu bệnh nhân thường bị đau rát hoặc cả đau và rát ở một vùng da và tổ chức dưới da ở một bên thân thể. Nhiều bệnh nhân còn bị giật nhoi nhói từng cơn ở các vùng da này. Cảm giác đau rát tồn tại khoảng 1-3 ngày thì tại vùng da này sẽ nổi lên các mụn nước, tập trung thành từng chùm, nếu không điều trị kịp thời thì sẽ phát triển thành các bọng nước. Lúc đầu tổn thương chỉ có các đám nhỏ phân bố rải rác thành một dải, nếu không điều trị thì các mảng nhỏ này lan rộng ra và liên kết với nhau thành một mảng tổn thương lớn khu trú ở toàn bộ một vạt da ở một bên thân thể: cả một vùng ngực hoặc cả một vùng mạng sườn… Khi chưa có tổn thương da thì việc chẩn đoán bệnh thường gặp nhiều khó khăn. Khi bệnh nhân chỉ có đau ở vùng liên sườn bên trái thì rất dễ chẩn đoán nhầm với cơn đau thắt ngực. Đau ở vùng hố chậu phải có thể chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Đau ở vùng mạng sườn hay bị nhầm với bệnh lý của gan, dạ dày , ruột, thận… Đau ở vùng mắt hay nhầm với bệnh lý về mắt. Có những bệnh nhân bị đau đầu dữ dội một bên trước khi phát tổn thương da của zona thần kinh sọ não thì bệnh nhân rất lo lắng và đôi khi đã phải chụp CT sọ não để loại trừ các bệnh khác.

Về chăm sóc da tại chỗ: Tuyệt đối không gãi, cạo, xát chanh, xát muối, đắp đỗ xanh, gạo nếp. Nếu làm như trên sẽ làm cho tổn thương trở nên sâu hơn, lan rộng hơn và đặc biệt gây nhiễm trùng, loét. Bệnh nhân vẫn có thể tắm được hằng ngày nhưng không được xát xà phòng trực tiếp lên vùng da bị bệnh. Không cần kiêng ăn uống.

Thuốc điều trị

Nếu điều trị muộn hoặc điều trị sớm mà không đủ liều thì sẽ để lại nhiều biến chứng. Thời gian để trị liệu cho kết quả tốt nhất là 48 giờ sau khi có tổn thương da. Trong vòng một tuần thì kết quả chậm hơn nhưng vẫn tốt. Nếu để muộn quá thì kết quả điều trị kém và có thể để lại các di chứng như: đau kéo dài nhiều tháng, nhiều năm thậm chí có những người đau kéo dài đến hết cuộc đời, đặc biệt ở những người cao tuổi. Nếu zona gây tổn thương nhánh mắt dây thần kinh số V (được chẩn đoán là zona mắt) thì có thể gây giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Nếu zona gây tổn thương dây thần kinh số VII (Hội chứng Ramsay Hunt) có thể gây liệt mặt, méo mồm. Các biến chứng khác có thể gặp như: loét, sẹo lồi…

Tại chỗ : khi tổn thương còn mụn nước, tiết dịch nhiều thì không nên bôi các loại thuốc mỡ vì sẽ làm tăng phù nề tại tổn thương. Nên bôi các loại dung dịch như jarish, dalibour, dung dịch kháng sinh, xanh methylen, castelani…, sau 5-7 ngày tổn thương da khô hơn thì có thể bôi kem acyclovir ngày 3-5 lần.

Toàn thân : bệnh nhân bắt buộc phải uống đủ liều kháng sinh diệt virut dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Kháng sinh là acyclovir uống 1 lần 800mg x 5 lần trong 1 ngày, cách 3 giờ uống 1 lần. Thời gian uống thuốc là 7 – 8 ngày liên tục. Thuốc có tác dụng phụ là nôn hoặc tiêu chảy ở 3 – 5% các trường hợp. Khi có tác dụng phụ bệnh nhân phải đến khám lại ngay. Thuốc acyclovir không dùng cho bệnh nhân suy thận, trong trường hợp này có thể sử dụng điện châm cũng đạt được kết quả rất tốt ở nhiều bệnh nhân. Nếu đau quá có thể dùng thuốc giảm đau. Nếu có điều kiện thì có thể chiếu tia laser Helinion tại chỗ để tổn thương da chóng lành và góp phần hồi phục tổn thương dây thần kinh. Trong giai đoạn bệnh đang tiến triển có thể tiêm gama globulin 16% để tăng cường miễn dịch. Những bệnh nhân đau rát nhiều và mức độ đau giảm ít sau điều trị acyclovir thì có thể uống thêm các thuốc giảm đau thần kinh như lyrica, gabapentine, carbamazepine, amitriptyline nhưng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Zona thường không tái phát, không gây tổn thương các phủ tạng và não.

Vấn đề lây nhiễm zona

Virus Varicella Zoster có thể truyền qua rau thai. Trên thực tế chúng tôi thấy một số trường hợp bị zona sau khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu hoặc bệnh nhân zona. Ngược lại cũng có trường hợp con của một số bệnh nhân zona mắc thủy đậu sau vài tuần.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bệnh tổ đỉa

Bệnh tổ đỉa

1.Chẩn đoán:

- Vị trí: 2 lông bàn tay, lông bàn chân (đầu ngón, mặt dưới, mặt dưới ngón, ria ngón, vòm lòng bàn tay, ô mô cái, ô mô út, vòm lông bàn chân0.

- Tổn thương cơ bản:

Mụn nước sâu, chìm dưới da, như khảm vào da, kích thước 1-2 mm, không tự vỡ.

Mụn nước phân bố rải rác hay thành đmá cụm.

Triệu chứng cơ năng:

- Ngứa nhiều:

- Hay tái phát, thường tái phát vào mùa hè.

- Do ngứa chọc gãi làm xuất hiện mụn mủ, vết chợt, bàn tay chân có khó sưng táy nhiễm khuẩn thứ phát, hạch nách, bẹn sưng ( tổ đỉa nhiễm khuẩn).

2. Thể lâm sàng

- Tổ đỉa thể giản đơn: tổn thương là mụn nước sâu ở vị trí trên.

- Tổ đỉa nhiễm khuẩn: có mụn mủ, chợt loét, sưng viêm tấy.

- Tổ đỉa thể khô: lòng bàn tay chân có đảm đỏ róc vẩy.

3. Chẩn đoán phân biệt

+ Ghẻ:

Vị trí kẽ ngón tay, ngấn cổ tay.

Tổn thương là mụn nước đường hang.

Nhể khêu bắt được cái ghẻ.

Ngứa nhiều về đêm.

Có tính chất lây lan.

+ Eczema bàn tay, bàn chân:

Vị trí thường ở mặt lưng (mu) bàn tay chân.

Đám đỏ, nên có mụn nước nhỏ, nông chi chít, tự vỡ.

Đám tổn thương chợt chảy dịch.

Lâu ngày liken hoá dày cộm.

(tổ đỉa không bào giờ liken hoá).

4. Điều trị

- Tại chỗ:

+ Mụn nước đơn thuần bôi cồn focmolsalicylic 3%.

Mụn mủ, chột bôi thuốc màu(dd tím Metin 1% , dd xanh metilen 1%).

Khi tổn thương khô bỗi mỡ corticoids (Flucinar, synalar)

Toàn thân:

- Nếu có bội nhiễm cho uống một đợt kháng sinh.

- Kháng sinh Histamin tổng hợp: Histalong 10 mg /1 viên /ngày.

- Vitamin c 0,50 2 viên/ ngày hoặc ascorvit 500mg 2ống/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

- Đông y : xông khói thương truật 5 phút ( bàn tay, bàn chân).

Chú ý: Giữa bàn tay bàn chân khô sạch.

Hạn chế xà phòng.

Trách nhiệm ngâm nước nhiều, bẩn, phân gio đất cát.

- Một số trường hợp tổ đỉa căn nguyên do nấm thì cho dùng kháng sinh chống nấm Griseofulvin 0,502 viên / ngày x 30ngày.

- Tổ đỉa là bệnh dị ứng, cơ thể địa dị ứng, tác nhân kích thích là vi khuẩn ( tụ cầu, liên cầu) : hoá chất; một số trường hợp là nấm.

Theo benhhoc.com

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, hiện nay, khoảng 30-40% dân số nhiều nước trên thế giới bị mắc các bệnh dị ứng, và tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển.

Cùng với sự gia tăng này, một vấn đề đang hết sức được quan tâm đó là sự tác động của yếu tố môi trường đối với những bệnh dị ứng, đặc biệt là tác động của bia rượu, do việc sử dụng những thức uống này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh rất nhiều tác hại đối với sức khỏe con người đã được khẳng định như gây các bệnh lý về tim mạch , tâm thần kinh, tiêu hóa , bia rượu còn có thể có nhiều tác động tiêu cực đối với các bệnh dị ứng. Theo những kết quả nghiên cứu gần đây, các loại bia rượu có thể liên quan đến những phản ứng dị ứng tức thì sau khi uống và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng ở những người sử dụng kéo dài các thức uống này.

Trong thực tế, các phản ứng dị dứng tức thì liên quan đến bia rượu xảy ra tương đối phổ biến, với biểu hiện lâm sàng và cơ chế gây bệnh khá đa dạng và phức tạp. Hầu hết các trường hợp này không phải là những phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trên lâm sàng, các biểu hiện dị ứng sau uống bia, rượu thường gặp nhất là hội chứng nóng bừng (bao gồm cảm giác bốc hỏa, tụt huyết áp , tăng thân nhiệt, nhịp tim nhanh, chóng mặt, đau đầu, buồn ngủ, lo lắng, mệt mỏi và buồn nôn), mày đay, phù Quincke và sốc phản vệ. Ngoài ra, bia rượu còn có thể là yếu tố làm khởi phát hoặc làm nặng triệu chứng của một số bệnh dị ứng đã có từ trước như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, sốc phản vệ do vận động, mày đay, sẩn ngứa… ở những cá thể nhạy cảm. Các phản ứng dị ứng liên quan với bia, rượu thường gặp ở người châu Á, Trung và Nam Mỹ hơn so với các chủng tộc người khác, có thể do sự khác biệt trong quá trình chuyển hóa cồn giữa các chủng tộc.

Những nghiên cứu trên cả người và động vật trong khoảng 3 thập kỷ gần đây cho thấy, cồn và acetaldehyd (là sản phẩm chuyển hóa của cồn trong cơ thể) đều có thể trực tiếp phá vỡ các tế bào mast, gây giải phóng histamin và nhiều hoạt chất trung gian gây dị ứng. Ngoài ra, các chất này còn có thể ức chế quá trình chuyển hóa và đào thải histamin được hấp thu từ thức ăn, do đó, làm tăng nồng độ của hoạt chất này ở các tổ chức. Tăng nồng độ histamin chính là yếu tố quan trọng góp phần gây ra hội chứng nóng bừng, làm bùng phát triệu chứng của hen phế quản và nhiều bệnh dị ứng khác sau uống bia, rượu. Các nghiên cứu còn cho thấy, khí dung chất acetaldehyd có thể gây co thắt phế quản rất mạnh và gây ra cơn hen cấp.

Bên cạnh cơ chế kể trên, trong một số ít trường hợp, các biểu hiện dị ứng với bia, rượu còn có thể gây ra do phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trong những trường hợp này, các biểu hiện lâm sàng thường gặp là mày đay, phù Quincke hoặc sốc phản vệ. Cồn (etanol) và các sản phẩm chuyển hóa của nó đều có trọng lượng phân tử thấp và bản thân chúng không có khả năng gây dị ứng, nhưng khi chúng được gắn với protein trong cơ thể sẽ tạo ra các dị nguyên hoàn chỉnh có khả năng gây dị ứng. Trong một số nghiên cứu, người ta đã tìm thấy các kháng thể dị ứng kháng lại phức hợp với acetaldehyd – protein trong máu của những người bị dị ứng với rượu.

Ngoài cồn là yếu tố chủ yếu gây ra các vấn đề về dị ứng, các chất phụ gia, bảo quản và tạp chất như histamin, gốc sulphite hoặc phẩm nhuộm cũng có thể là nguyên nhân gây ra các phản ứng này trong một số trường hợp. Theo một số nghiên cứu, những người có cơ địa dị ứng với lúa mạch và men cũng sẽ có nguy cơ bị dị ứng với bia.

Bên cạnh những phản ứng dị ứng tức thì, đang có ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy việc dùng bia, rượu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng với nhiều loại dị nguyên khác nhau. Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng ở những người nghiện rượu cao hơn rõ rệt so với những người không nghiện. IgE là một loại kháng thể dị ứng quan trọng, có vai trò trung tâm trong hầu hết các phản ứng dị ứng loại hình nhanh ở người. Theo một số nghiên cứu gần đây, những người nghiện rượu hoặc thường xuyên uống rượu với số lượng trung bình có nồng độ kháng thể IgE trong máu cao hơn so với những người không uống rượu, sau khi cai rượu, nồng độ IgE của những người này lại giảm về bình thường. Không những vậy, ở những bà mẹ có nghiện rượu trong thời gian mang thai, những đứa con của họ cũng có nồng độ kháng thể IgE tăng cao. Việc tăng nồng độ IgE trong máu không phải là một bệnh và không gây ra các triệu chứng lâm sàng nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng trong một số trường hợp. Bên cạnh việc làm tăng nồng độ IgE trong máu, dùng bia rượu thường xuyên còn có thể làm cho cơ thể trở nên nhạy cảm với một số yếu tố trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, thực phẩm… và dễ bị dị ứng với những yếu tố này. Mức nhạy cảm này tăng tỷ lệ thuận với lượng rượu uống hằng ngày, và sau khi cai rượu, mức nhạy cảm có thể trở về bình thường. Cơ chế chính xác của những hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ, nhưng các nhà khoa học cho rằng đó là do sự tương tác giữa cồn ở trong bia, rượu và hệ thống miễn dịch, gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Bản thân cồn là một chất có tác dụng điều hòa miễn dịch, các nghiên cứu tiêm cồn cho động vật thí nghiệm cũng có thể gây ra các đáp ứng về dị ứng tương tự như ở những người nghiện rượu.

Sưu tầm!

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù là hiện tượng ứ nước trong các tổ chức dưới da hoặc ở các tạng của cơ thể. Phù là một dấu hiệu của nhiều bệnh, nên khi bị phù phải tìm nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị mới có kết quả.

  Phát hiện phù

Bằng mắt thường mọi người có thể thấy ngay được, nhưng đôi khi rất khó xác định phù. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nặng chân. Nơi bị phù sưng to, căng mọng, làm mất đi các nếp nhăn, mắt cá, đầu xương bị phẳng lỳ. Da vùng phù nhạt màu, ấn vào nơi phù da lõm xuống, đặc biệt là ấn vào mặt trước trong xương chày.

Các dấu hiệu kèm theo như lượng nước tiểu ít đi, gan to, cổ trướng, khó thở… Phù giữ nước nên cân nặng có thể tăng hằng ngày từ 1 đến 2 kg. Sau đây là các nguyên nhân gây phù:

Phù toàn thân

Thường phù từ mặt, bụng, ngực, chân, tay, kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn. Hay gặp những bệnh sau:

Thận nhiễm mỡ: Phù rất to. Phù trắng, lúc đầu phù ở mặt, sau phù toàn thân. Thường kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng. Ăn nhạt không giảm phù. Nước tiểu có nhiều protein. Xét nghiệm máu: urê, creatinin không cao, protein giảm nhiều, cholesterol tăng nhiều.

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn: Phù trắng, mềm, ấn lõm, phù toàn thân, rõ ở hai chi dưới. Ăn nhạt phù giảm rõ. Có thể kèm theo tăng huyết áp , tràn dịch màng phổi, màng tim. Nước tiểu ít, vẩn đục, có protein, trụ niệu. Có thể thiếu máu. Chức năng thận rối loạn, creatinin tăng cao.

Suy dinh dưỡng: Phù toàn thân hoặc hai chi dưới, phù trắng, mềm, ấn lõm, mức độ phù buổi sáng và chiều như nhau. Nước tiểu không có protein. Thường do thiếu ăn hoặc đang mắc các bệnh mạn tính như: rối loạn tiêu hóa lâu ngày, lao, ung thư, các bệnh tê liệt, bị các bệnh mạn tính nằm lâu.

Phù do nội tiết: Phù do tăng aldosteron: Phù trắng, ấn lõm, phù chi dưới, có khi phù mặt, phù kín đáo, có trường hợp tự khỏi. Gặp ở phụ nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nước tiểu không có protein. Điều trị bằng spirolacton có hiệu quả.

Phù do thiểu năng tuyến giáp: phù cứng, ấn không lõm, mặt tròn mắt híp, môi dày, lưỡi to. Móng chân, tay có ngấn, khô rạn, tóc cứng, dễ gãy. Chậm chạp, trí tuệ kém phát triển, nhiệt độ giảm, huyết áp hạ, mạch chậm.

Phù do ưu năng tuyến thượng thận: Mặt tròn đỏ, phù cứng, huyết áp tăng. Gặp ở người có u ở vỏ thượng thận, người uống corticoid lâu ngày, nếu ngừng uống thì các triệu chứng sẽ hết.

Phù khu trú

Phù ngực: Còn gọi là phù áo khoác, phù từ ngực có thể phù lên cổ, mặt hoặc phù cả hai tay. Do u đè ép vào ống bạch mạch ở ngực và tĩnh mạch chủ trên. Trên da ngực nổi nhiều mạch máu ngoằn nghèo màu tím, bệnh nhân đau ngực, vú to. Chụp Xquang lồng ngực thường thấy khối u trung thất.

Phù hai chi dưới: Do suy tim và xơ gan:

- Do suy tim: lúc đầu phù 2 mắt cá chân, phù mềm, ấn lõm. Phù xuất hiện vào buổi chiều, mất đi lúc sáng sớm và lúc nghỉ ngơi. Hai chân phù rất to, có khi nứt da, nước vàng chảy rỉ ra. Ăn nhạt phù giảm rõ. Kèm theo tim to, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mạch nhanh, khó thở, đái ít. Suy tim nặng có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi.

- Do xơ gan: gan có thể to, cứng, thường gan bị teo. Phù ít, ấn lõm, sau phù to. Nước cổ trướng tái phát nhanh. Có thể kèm theo tràn dịch màng phổi, màng tinh hoàn, có mạch máu nổi ở da bụng. Chức năng gan suy giảm.

Phù do thiếu vitamin B1: (Bệnh Bêribêri hay bệnh tê phù). Phù hai chân, ấn lõm, thường phù rõ vào buổi chiều, hai chân thấy tê bì như kiến bò, hay bị chuột rút, phản xạ gân gối mất. Thường do ăn uống thiếu chất lâu dài. Điều trị bằng vitamin B1 phù mất đi rõ rệt. Nếu mẹ đang nuôi con thì con cũng bị thiếu vitamin B1, hay khóc về đêm, gọi là khóc “dạ đề”.

Phù do thai nghén: Gặp ở người có thai, có hoặc không có protein niệu. Cần phải khám thai định kỳ để xác định.

Phù một chi: Phần nhiều gặp ở chân hơn ở tay, do bệnh của các huyết quản.

Viêm tắc tĩnh mạch: Phù mềm, ấn lõm, da ấm. Rất đau khi nắn vào chi phù. Gác chân lên cao, nằm nghỉ thì bớt phù. Có sốt, gặp ở người sau đẻ, sau phẫu thuật vùng hố chậu, bệnh nhiễm khuẩn nặng.

Viêm mạch bạch huyết : phù mềm, ấn lõm, rất đau. Trên da nổi những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng trong vùng như bẹn, nách cũng sưng và đau. Đôi khi có sốt. Phát hiện có vết xước, vết thương, nhọt. Trong trường hợp mới mắc bệnh giun chỉ, có thể tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở máu tĩnh mạch vào ban đêm.

Phù cứng: Thường là phù chân voi, di chứng của viêm mạch bạch huyết do giun chỉ. Ống bạch huyết bị vỡ vào tổ chức dưới da, gây phù cứng. Da rất dầy và cứng, ấn không lõm. Thường bị một chân, có khi cả 2 chân nhưng không đều. Phù bộ phận sinh dục như bìu xù xì, to và cứng. Nếu ống bạch huyết vỡ vào bể thận, thì bệnh nhân đái ra dưỡng chấp màu đục như nước vo gạo.

Phù dị ứng: Thường xuất hiện đột ngột sau khi ăn hoặc tiếp xúc tác nhân dị ứng như thuốc , thức ăn, bụi nhà, phấn hoa, sâu róm… Phù xuống quanh mắt, mồm, da nổi cục và ngứa, mất đi rất nhanh khi dùng thuốc chống dị ứng, có khi tồn tại vài ngày.

Ngoài ra, phù còn do suy giảm hệ tĩnh mạch, do các nguyên nhân chèn ép tĩnh mạch do viêm, do ung thư hay bệnh toàn thân, bệnh thiếu máu.

Khi bị phù, bạn cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám, làm các xét nghiệm, xác định bệnh. Từ đó bạn sẽ nhận được lời khuyên và phương pháp điều trị theo từng nguyên nhân cụ thể của từng bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Mất nước

Mất nước

Mất nước! Khô miệng, buồn ngủ và mệt mỏi, khát nước, giảm lượng nước tiểu, khóc không nước mắt hoặc rất ít, cơ yếu, nhức đầu, chóng mặt, nhầm lẫn…Nếu nghiêm trọng: Khô da – miệng, thiếu mồ hôi, khát tột cùng, mắt trũng, nhịp tim nhanh, sốt, mê sảng hoặc bất tỉnh…

Định nghĩa

Mất nước xảy ra khi bị mất nhiều chất lỏng hơn đi vào, và cơ thể không có đủ nước và các chất lỏng khác để thực hiện chức năng bình thường của nó. Nếu không bổ sung chất lỏng bị mất, có thể phải chịu hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân thường gặp của mất nước bao gồm tiêu chảy dữ dội, nôn mửa, sốt hoặc đổ mồ hôi quá nhiều. Không đủ lượng nước trong thời tiết nóng hoặc tập thể dục cũng có thể gây mất nước. Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước, nhưng trẻ nhỏ, người cao niên và những người có bệnh mãn tính có nguy cơ cao nhất.

Thường có thể đảo ngược nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách tăng lượng chất lỏng, nhưng mất nước nặng cần điều trị y tế ngay lập tức. Phương pháp an toàn nhất là phòng ngừa mất nước. Trong thời tiết nóng, bệnh tật hoặc tập thể dục và uống chất lỏng đủ để thay thế những gì mất.

Các triệu chứng

Mất nước nhẹ đến vừa phải có thể gây ra:

- Khô, dính miệng.

- Buồn ngủ hoặc mệt mỏi – trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

- Khát.

- Giảm lượng nước tiểu – ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

- Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

- Cơ yếu.

- Nhức đầu.

- Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

- Khát tột cùng.

- Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

- Rất khô miệng, da và màng nhầy.

- Thiếu ra mồ hôi.

- Đi tiểu ít hoặc không có – bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

- Mắt trũng.

- Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

- Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng – sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

- Huyết áp thấp.

- Nhịp tim nhanh.

- Sốt.

- Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Thật không may, khát không phải là luôn luôn là một thước đo đáng tin cậy cần thiết của cơ thể đối với nước, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi. Một thước đo tốt hơn là màu của nước tiểu: Trong hoặc màu nước tiểu ánh sáng có nghĩa là cũng đang ngậm nước, trong khi một màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách thường là tín hiệu mất nước.

Nếu là một người lớn khỏe mạnh,  thường có thể xử lý nhẹ đến trung bình mất nước bằng cách uống chất lỏng nhiều hơn nữa. Nhận chăm sóc y tế ngay nếu phát triển các dấu hiệu nặng và các triệu chứng như khát cùng cực, không đi tiểu được tám giờ, héo da, chóng mặt và nhầm lẫn.

Hãy đối xử với trẻ em và người lớn tuổi thận trọng hơn. Gọi cho bác sĩ gia đình ngay nếu trẻ:

- Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

- Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

- Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

- Không thể uống chất lỏng.

- Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

- Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Tới phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc gọi số khẩn cấp y tế nếu  nghĩ rằng một đứa trẻ hoặc người lớn tuổi mất nước nặng. Có thể giúp ngăn ngừa mất nước trở nên trầm trọng bằng cách cẩn thận theo dõi một người mắc bệnh và dùng dịch khi dấu hiệu đầu tiên của bệnh tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt và bằng cách khuyến khích trẻ em uống thật nhiều nước trước, trong và sau khi tập thể dục.

Nguyên nhân

Nước là thiết yếu cho đời sống con người: Nó tạo cơ sở cho tất cả các dịch cơ thể, bao gồm cả máu và nước tiêu hóa, nó viện trợ trong việc vận chuyển và hấp thụ các chất dinh dưỡng và nó giúp loại bỏ chất thải.

Nếu là một người lớn trung bình, mỗi ngày bị mất nhiều hơn gần 2,5 lít nước, đơn giản bằng cách ra mồ hôi, hơi thở và loại bỏ chất thải. Cũng bị mất điện giải – khoáng chất như natri, kali và canxi mà duy trì sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể. Thông thường,  có thể bổ sung những gì đã mất đi thông qua các loại thực phẩm và chất lỏng tiêu thụ, thậm chí khi đang hoạt động.

Nhưng khi loại bỏ nhiều nước hơn và các muối hơn thay thế, kết quả mất nước. Đôi khi xảy ra mất nước vì lý do đơn giản:  Không uống đủ bởi vì đang bị bệnh hoặc bận rộn, hay vì thiếu tiếp cận với nước uống khi đang đi du lịch, leo núi hoặc cắm trại.

Nguyên nhân mất nước khác bao gồm:

Tiêu chảy, ói mửa. Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Sốt. Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi.   Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Tăng đi tiểu. Điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể  sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường , đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Bỏng. Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai cũng có thể trở nên mất nước nếu sự mất mát chất lỏng vượt quá lượng nước nhận. Nhưng một số người có nguy cơ lớn hơn, bao gồm:

Trẻ sơ sinh và trẻ em. Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Người lớn tuổi. Lớn tuổi, trở nên dễ bị mất nước vì nhiều lý do: Cơ thể giảm khả năng để bảo tồn nước, cảm giác khát trở nên ít cấp tính và ít có khả năng đáp ứng với những thay đổi về nhiệt độ. Hơn nữa, người lớn tuổi, đặc biệt là những người trong nhà điều dưỡng hoặc sống một mình có xu hướng ăn ít hơn người trẻ tuổi và đôi khi có thể quên ăn hoặc uống hoàn toàn. Những vấn đề phức tạp bởi bệnh mãn tính như tiểu đường, thay đổi hoóc môn liên quan đến thời kỳ mãn kinh và do việc sử dụng các loại thuốc nhất định.

Những người có bệnh mãn tính. Có bệnh tiểu đường không kiểm soát được hoặc không được điều trị có nguy cơ cao mất nước. Nhưng căn bệnh mãn tính khác cũng làm cho nhiều khả năng trở thành mất nước. Chúng bao gồm bệnh thận, xơ nang, nghiện rượu và các rối loạn tuyến thượng thận. Thậm chí cảm lạnh hoặc đau cổ họng làm cho dễ bị mất nước vì ít ăn hoặc uống khi đang bị bệnh. Sốt làm tăng mất nước nhiều hơn.

Số lượng vận động. Bất cứ ai có thể trở thành mất nước, nhất là trong nóng, điều kiện ẩm ướt hoặc ở độ cao. Nhưng vận động viên đào tạo cho và tham gia ultramarathons, triathlons, leo núi thám hiểm và các giải đấu đi xe đạp có nguy cơ đặc biệt cao. Trong thời gian tập thể dục, cơ thể có thể hấp thụ khoảng 24 – 32 ounces nước một giờ, nhưng có thể mất hai lần đó trong thời tiết nóng. Mất nước cũng tích lũy trong một khoảng thời gian, có nghĩa là có thể trở nên mất nước với ngay cả tập thể dục vừa phải thường xuyên nếu không uống đủ để thay thế những gì bị mất trên một cơ sở hàng ngày.

Những người sống ở độ cao cao. Sống, làm việc và thực hiện ở độ cao cao (khoảng 2.400 đến 3.600 mét) hoặc độ cao rất lớn (khoảng 3.600 đến 5.400 mét) có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe . Một là mất nước, mà thường xảy ra khi cơ thể cố gắng để thích nghi với cao độ thông qua việc đi tiểu nhiều hơn và thở nhanh – để duy trì nồng độ oxy trong máu đầy đủ.

Các biến chứng

Mất nước có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng .

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ thường có thể chẩn đoán mất nước trên cơ sở các dấu hiệu và triệu chứng thể chất như đi tiểu ít hoặc không có, mắt trũng và làn da thiếu độ đàn hồi bình thường của nó và khả năng phục hồi khi bị chèn ép. Nếu đang mất nước, cũng có thể có huyết áp thấp, đặc biệt là khi di chuyển từ một vị trí nằm và đứng, nhịp tim nhanh hơn bình thường và lưu lượng máu giảm xuống.

Để giúp xác định chẩn đoán và xác định mức độ mất nước, có thể có các xét nghiệm khác, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Đây có thể được sử dụng để kiểm tra chất điện giải, đặc biệt là natri và kali, để tìm những dấu hiệu cô đặc máu và để đánh giá thận đang làm việc như thế nào.

Phân tích nước tiểu. Các màu sắc và độ trong của nước tiểu, sự hiện diện của các hợp chất carbon (xeton) và trọng lượng riêng nước tiểu, khối lượng của nước tiểu so với khối lượng của nước cất – tất cả chỉ giúp phân độ. Một tỷ trọng cao, chỉ ra mất nước đáng kể.

Nếu nó không rõ ràng lý do tại sao đang mất nước, bác sĩ có thể tự thêm các xét nghiệm để kiểm tra bệnh tiểu đường và cho gan hoặc vấn đề về thận.

Phương pháp điều trị và thuốc

Các chỉ dẫn hiệu quả điều trị mất nước là để thay thế chất dịch bị mất và điện giải bị mất. Cách tiếp cận tốt nhất để điều trị mất nước phụ thuộc vào tuổi, mức độ mất nước  và nguyên nhân của nó.

Điều trị mất nước ở trẻ em bị bệnh

Bác sĩ có thể cung cấp các đề xuất cụ thể để điều trị mất nước ở trẻ em, nhưng một số hướng dẫn chung bao gồm:

Sử dụng một giải pháp bù nước đường uống. Trừ khi bác sĩ khuyên nếu không hãy sử dụng một giải pháp bù nước đường uống như Pedialyte cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Những giải pháp này có chứa nước và muối theo tỷ lệ cụ thể để bổ sung cả chất lỏng và chất điện giải. Nó cũng có chứa glucose hay carbohydrate khác như gạo bột để tăng cường sự hấp thụ trong đường ruột. Các sản phẩm uống bù nước đang có sẵn trong hầu hết các nhà thuốc và nhiều thuốc mang thương hiệu riêng. Bắt đầu bù dịch khi khởi đầu quá trình bệnh tật thay vì chờ cho đến khi tình hình trở nên cấp bách.

Trong hầu hết các nước đang phát triển, có thể mua các gói bột uống của một giải pháp bù nước, WHO – ORS, ban đầu được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới để điều trị tiêu chảy và mất nước ở trẻ sơ sinh với bệnh tả. Bột trong nước theo các chỉ dẫn trên bao bì. Luôn làm sạch nước bằng cách đun sôi, lọc hoặc các phương pháp đã được chứng minh khác. Đo lượng nước, sau đó thêm các vật liệu dạng bột uống bù nước.

Trong một tình huống khẩn cấp một giải pháp xây dựng không có sẵn, có thể tạo riêng giải pháp bù nước qua miệng bằng cách trộn 1 / 2 muỗng cà phê muối, 1 / 2 muỗng cà phê baking soda, 3 muỗng canh đường và 1 lít nước. Hãy chắc chắn để đo lường một cách chính xác bởi vì không chính xác có thể làm cho giải pháp kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại. Nếu có thể, có một người nào khác kiểm tra các phép đo cho chính xác.

Bất cứ điều gì khác đã chọn, hãy chắc chắn để cung cấp cho giải pháp đủ. Bác sĩ có thể đề nghị cụ thể, tùy thuộc vào tuổi của trẻ và mức độ mất nước, nhưng một quy luật chung để giữ cho các chất lỏng từ từ cho đến khi nước tiểu của con trở nên rõ ràng trong màu sắc. Khi trẻ nôn mửa, hãy thử cho một lượng nhỏ dung dịch trong khoảng thời gian thường xuyên – 1 muỗng cà phê mỗi phút. Nếu trẻ không thể uống, chờ đợi 30 – 60 phút và thử lại. Nhiệt độ dịch giữ sao cho được tốt nhất.

Tiếp tục để nuôi con bằng sữa mẹ. Không ngừng cho con bú khi bé bị ốm, nhưng thêm một giải pháp bù nước đường uống là tốt. Nếu quý vị cho sữa bột trẻ em, hãy thử chuyển sang một trong đó là lactose, cho đến khi tiêu chảy cải thiện, lactose có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Không bao giờ công thức pha loãng hơn hướng dẫn tư vấn. Bác sĩ cũng có thể đề xuất thay thế một giải pháp bù nước uống cho các công thức cho 12 – 24 giờ.

Tránh một số loại thực phẩm và thức uống. Các chất lỏng tốt nhất cho một đứa trẻ bị bệnh là một giải pháp bù nước đường uống, nước tinh khiết không cung cấp điện giải cần thiết, và mặc dù thức uống thể thao bổ sung chất điện giải thay thế những người bị mất qua mồ hôi, không phải thông qua tiêu chảy hoặc nôn mửa. Tránh cho trẻ em  đồ mặn, sữa đặc biệt là đun sôi sữa – nước ngọt, nước trái cây hoặc keo động vật, không làm giảm mất nước và có thể làm triệu chứng nặng hơn.

Điều trị mất nước ở người lớn bị bệnh

Hầu hết người lớn bị mất nước nhẹ đến trung bình từ tiêu chảy, nôn mửa hoặc sốt. Có thể cải thiện tình trạng của họ bằng cách uống nhiều nước hơn. Nước là tốt nhất bởi vì các chất lỏng khác, chẳng hạn như nước quả, đồ uống có ga hay cà phê có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn.

Điều trị mất nước ở các vận động viên thuộc mọi lứa tuổi

Đối với tập thể dục liên quan đến mất nước. Thức uống thể thao có chứa điện giải và một giải pháp carbohydrate cũng có thể hữu ích. Không cần cho thuốc viên muối – quá nhiều muối có thể dẫn đến mất nước tăng natri huyết, một tình trạng mà cơ thể không chỉ là thiếu nước mà còn quá nhiều natri.

Điều trị mất nước trầm trọng

Trẻ em và người lớn, những người mất nước nặng cần được điều trị bởi nhân viên cấp cứu đến trong xe cứu thương hoặc trong một phòng cấp cứu bệnh viện, nơi họ có thể nhận được muối và các chất lỏng thông qua một tĩnh mạch hơn là bằng miệng. Tĩnh mạch hydrat hóa cung cấp cho cơ thể nước và chất dinh dưỡng cần thiết nhanh hơn nhiều so với các giải pháp uống – cái gì đó là cần thiết trong các tình huống đe dọa tính mạng.

Phòng chống

Để ngăn ngừa mất nước, tiêu thụ nhiều chất lỏng và các thực phẩm giàu nước như trái cây và rau quả. Chất lỏng có thể thu được không chỉ từ nước mà còn từ đồ uống và thực phẩm khác. Nhưng, nếu đang tập thể dục, không chờ đợi cho khát để theo kịp với chất dịch mất.

Một số trường hợp, có thể cần phải thực hiện trong chất lỏng nhiều hơn bình thường:

Bệnh tật. Bắt đầu cho thêm nước hoặc bù nước qua một giải pháp tại các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tật, không chờ đợi cho đến khi mất nước xảy ra. Và mặc dù có vẻ hấp dẫn, chất lỏng truyền thống như rượu bia gừng hoặc nước ngọt khác lại chứa quá nhiều đường và natri quá ít để bổ sung chất điện giải bị mất.

Tập thể dục. Nói chung, tốt nhất bắt đầu uống nước ngay trước khi tập thể dục vất vả. Sản xuất nhiều và pha loãng nước tiểu là một dấu hiệu tốt. Hai giờ trước khi một sự chịu đựng như một marathon, uống 2 ly nước. Một đến 2 ly nước đầy đủ thường trước khi tập thể dục ngắn hơn. Trong thời gian hoạt động, bổ sung chất lỏng ở các khoảng thời gian và tiếp tục uống nước hoặc chất dịch khác sau khi hoàn tất.

Hãy ghi nhớ rằng uống quá nhiều không chỉ có thể gây đầy hơi và khó chịu, mà có thể dẫn đến một tình trạng thể gây tử vong, trong đó natri máu  trở nên quá thấp. Điều này xảy ra khi uống nước nhiều hơn bị mất qua mồ hôi.

Môi trường. Cần uống nước bổ sung trong thời tiết nóng hoặc ẩm để giúp giảm nhiệt độ cơ thể và để thay thế những gì bị mất qua mồ hôi. Cũng có thể cần thêm nước trong thời tiết lạnh, nếu  đổ mồ hôi trong khi mặc quần áo cách nhiệt. Nước nóng, không khí trong nhà có thể gây ra làn da bị mất độ ẩm, tăng yêu cầu hàng ngày của chất dịch. Và độ cao lớn hơn 2.500 mét cũng có thể ảnh hưởng đến bao nhiêu nước cơ thể cần. Nếu mất nước xảy ra khi đang tập thể dục trong thời tiết nóng, vào một khu vực râm và bắt đầu bù nước.

Theo Dieutri.vn

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết

Chứng tăng calci huyết! Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn…

Định nghĩa

Chứng tăng calci huyết là một tình trạng mà trong đó mức độ canxi trong máu  cao hơn bình thường. Cần canxi để hình thành xương. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong hợp đồng cơ, giải phóng hoóc môn, và đảm bảo dây thần kinh  và chức năng não bộ đúng cách. Cao canxi, tuy nhiên, có thể cản trở các quá trình này.

Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức trong một hoặc một số tuyến cận giáp điều tiết canxi. Phụ nữ sau mãn kinh có nhiều khả năng phát triển chứng tăng calci huyết gây ra bởi các tuyến cận giáp hoạt động quá mức. Các nguyên nhân khác của chứng tăng calci huyết bao gồm ung thư , rối loạn y khoa nhất định khác, một số loại thuốc , sử dụng quá nhiều canxi và vitamin D bổ sung.

Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể từ không tồn tại đến nặng. Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Các triệu chứng

Nếu có chứng tăng calci huyết, có thể có ít hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng, đặc biệt nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ. Chứng tăng calci huyết triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

Buồn nôn và ói mửa.

Chán ăn.

Khát quá nhiều.

Thường xuyên đi tiểu.

Táo bón.

Đau bụng.

Cơ yếu.

Đau nhức bắp thịt và khớp.

Lẫn lộn.

Thờ ơ và mệt mỏi.

Lượng canxi dư thừa trong máu không nhất thiết liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. Ví dụ, người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau và yếu trong cơ bắp.

Liên hệ với bác sĩ nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra chứng tăng calci huyết, chẳng hạn như khát quá nhiều, đi tiểu thường xuyên và đau bụng.

Nguyên nhân

Can xi cơ thể chủ yếu là canxi trong xương, nhưng canxi cũng nằm trong các tế bào nhất định, đặc biệt là ở cơ bắp và trong máu. Tiêu thụ canxi trong thực phẩm như sữa, phô mai và các loại rau lá xanh, và thường là cơ thể tự đào thải bất kỳ dư thừa trong nước tiểu , giữ một mức độ bình thường của canxi trong máu.

Hai hormone điều chỉnh

Hai hormone đóng vai trò là nhà quản lý chính của canxi trong máu: Hormone tuyến cận giáp và calcitonin.

Khi lượng canxi trong máu giảm, cơ thể sản xuất ra hormone tuyến cận giáp tăng hơn, khi canxi máu  tăng cấp độ, cơ thể sản xuất ra ít hormone. Trong một hệ thống tinh chỉnh của kiểm tra và cân bằng, kích thích hormone tuyến cận giáp để xương giải phóng can-xi vào máu, đường tiêu hóa  hấp thụ canxi nhiều hơn, và thận bài tiết canxi ít hơn và kích hoạt thêm vitamin D, trong đó đóng một vai trò quan trọng trong canxi hấp thụ.

Thông thường, nếu mức độ canxi trong máu tăng quá cao, tuyến giáp sản xuất calcitonin, một hormon làm chậm sự giải phóng canxi từ xương. Cân bằng được trong chứng tăng calci huyết, và cơ thể không thể truy cập những ảnh hưởng của canxi quá nhiều.

Nguyên nhân của chứng tăng calci huyết bao gồm:

Tăng hoạt động của tuyến cận giáp . Nguyên nhân chính của chứng tăng calci huyết là hoạt động quá mức một hoặc nhiều trong bốn tuyến cận giáp (cường cận giáp tiên phát).

Ung thư. Một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú, cũng như một số bệnh ung thư máu như đa u tủy, làm tăng nguy cơ của chứng tăng calci huyết. Một số (ác tính) khối u ung thư sản xuất một loại protein có tác dụng giống như hormone tuyến cận giáp, kích thích sự giải phóng canxi từ xương vào máu. Đây được xem là một hội chứng paraneoplastic, cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư hoặc chất ung thư sản xuất. Lây lan của ung thư (di căn) cho xương cũng làm tăng nguy cơ bị chứng tăng calci huyết.

Các bệnh khác. Một số bệnh viêm do chấn thương mô (u hạt) có thể làm tăng nồng độ trong máu của vitamin D (calcitriol). Bệnh u hạt bao gồm các bệnh lao phổi – một bệnh truyền nhiễm và sarcoidosis – một bệnh viêm phổi. Cao cấp của calcitriol kích thích đường tiêu hóa hấp thụ canxi nhiều hơn, điều này làm tăng mức độ canxi trong máu. Ngoài ra, một rối loạn di truyền hiếm gọi là chứng tăng calci huyết hypocalciuric gia đình làm tăng canxi trong máu bởi vì các thụ thể canxi trong cơ thể bị lỗi.

Bệnh ảnh hưởng. Những người bị ung thư hoặc các bệnh khác gây rất nhiều thời gian ngồi hoặc nằm xuống có thể phát triển chứng tăng calci huyết, vì theo thời gian, xương mà không chịu trọng lượng sẽ phát hành canxi vào máu.

Thuốc. Một số loại thuốc như lithium, được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, có thể làm tăng phát hành của nội tiết tố tuyến cận giáp và gây ra chứng tăng calci huyết. Thuốc lợi tiểu thiazide có thể gây ra mức canxi cao trong máu bằng cách giảm lượng canxi bị mất trong nước tiểu .

Bổ sung. Quá nhiều lượng canxi hoặc vitamin D bổ sung theo thời gian có thể nâng độ canxi trong máu cao hơn bình thường.

Mất nước. Một nguyên nhân phổ biến của chứng tăng calci huyết nhẹ hoặc thoáng qua là mất nước, vì khi có ít chất lỏng trong máu, tăng nồng độ canxi.

Cường cận giáp và ung thư có trách nhiệm hơn 90 phần trăm của chứng tăng calci huyết bền vững.

Các biến chứng

Nếu không điều trị, bệnh tăng calci huyết có thể gây ra biến chứng trong các hệ thống khác nhau của cơ thể. Các biến chứng có thể bao gồm:

Loãng xương. Nếu xương tiếp tục để giải phóng can-xi vào máu, có thể phát triển bệnh loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương, cột sống cong và mất độ cao.

Sỏi thận. Nếu nước tiểu có chứa quá nhiều canxi, tinh thể có thể hình thành trong thận. Theo thời gian, các tinh thể có thể kết hợp để tạo thành sỏi thận (thận lithiasis). Tắc nghẽn từ một hòn sỏi có thể dẫn đến tổn thương thận, và qua một hòn sỏi có thể cực kỳ đau đớn.

Suy thận. Chứng tăng calci huyết nặng có thể gây hại thận, hạn chế khả năng của họ để làm sạch máu và loại bỏ chất lỏng. Nếu thận hư hỏng nặng, có thể mất chức năng thận vĩnh viễn, dẫn đến giai đoạn cuối bệnh thận. Những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu hoặc thường trú – một hệ thống lọc để loại bỏ độc tố và chất thải từ cơ thể  – hoặc ghép thận để tồn tại.

Rối loạn chức năng hệ thần kinh. Bởi vì canxi giúp điều chỉnh hệ thống thần kinh, chứng tăng calci huyết nặng có thể dẫn đến chứng mất trí, sự nhầm lẫn và hôn mê có thể gây tử vong.

Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Chứng tăng calci huyết có thể ảnh hưởng đến các xung điện điều hòa nhịp tim, khiến trái tim đập không đều.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bởi vì có thể chứng tăng calci huyết gây ra ít dấu hiệu hoặc triệu chứng, nếu có, có thể không biết có rối loạn cho đến khi các xét nghiệm máu định kỳ cho thấy mức độ cao của calci trong máu. Xét nghiệm máu cũng có thể tiết lộ cho dù mức độ hormone tuyến cận giáp là cao, cho biết có cường cận giáp. Nếu mức hormone tuyến cận giáp không cao, bác sĩ sẽ đặt hàng các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân cơ bản của chứng tăng calci huyết. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Chụp X – ray.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan).

Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp quang tuyến vú.

Các xét nghiệm này có thể giúp xác định xem có bệnh ung thư phổi, ung thư vú, khối u ác tính khác, hoặc các bệnh u hạt của phổi như sarcoidosis.

Phương pháp điều trị và thuốc

Nếu có chứng tăng calci huyết nặng, có thể cần được nhập viện để giảm canxi đến một mức độ an toàn và bảo vệ thận và xương. Nếu vậy, điều trị chứng tăng calci huyết có thể bao gồm:

Dịch truyền tĩnh mạch.

Thuốc lợi tiểu vòng (Như furosemide) để giúp rửa canxi dư thừa từ hệ thống và giữ chức năng thận.

Tĩnh mạch bisphosphonates, một nhóm các loại thuốc bao gồm pamidronate (Aredia) và zolendronate (Zometa), ức chế phân hủy xương.

Calcitonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp, để giảm tái hấp thu và mất xương chậm.

Glucocorticoid (Corticosteroid), để giúp truy cập những tác động của vitamin D quá nhiều trong máu gây ra bởi chứng tăng calci huyết.

Lọc máu để loại bỏ chất thải dư thừa và canxi từ máu nếu thận đang bị suy giảm và không đáp ứng với điều trị khác.

Sau khi canxi trong máu trở về đến một mức độ an toàn, điều trị chứng tăng calci huyết phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.

Cường cận giáp tiên phát

Nếu là chứng tăng calci huyết nhẹ, và bác sĩ có thể chọn để xem và chờ đợi, theo dõi xương và thận theo thời gian để đảm bảo vẫn khỏe mạnh. Nếu đã bị mất khối lượng xương hoặc sỏi thận phát triển, bác sĩ có thể khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp hoặc tuyến bị ảnh hưởng (parathyroidectomy), các phương pháp chữa trị các điều kiện trong nhiều trường hợp. Nếu không phải là một ứng cử viên tốt cho phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc.

Phẫu thuật. Theo truyền thống, phẫu thuật một đường rạch đáng chú ý thăm dò ở hai bên cổ và gây mê toàn thân. Tuy nhiên, một kỹ thuật mới hơn, được gọi là parathyroidectomy radioguided xâm lấn tối thiểu, có thể cung cấp một lựa chọn dễ dàng hơn cho một số người. Trong tiến trình này, các bác sĩ sử dụng một đồng vị phóng xạ quét (sestamibi scan) để giúp xác định vị trí của tuyến cận giáp bất thường trước khi phẫu thuật. Đối với quét, đưa ra một lượng nhỏ của một chất phóng xạ chỉ hấp thu bởi tuyến cận giáp hoạt động quá mức – không phải bởi những người khỏe mạnh. Trong quá trình hoạt động, bác sĩ phẫu thuật sử dụng sestamibi kết quả quét như một bản đồ để xác định vị trí các tuyến bình thường. Trong một số trường hợp, một cuộc điều tra phát hiện phóng xạ được sử dụng để xác định vị trí.

Tất cả phẫu thuật đặt ra một số rủi ro. Một số ít người trải nghiệm phẫu thuật tuyến cận giáp thiệt hại cho các dây thần kinh điều khiển dây thanh âm, và một số phát triển kinh niên cấp canxi thấp, đòi hỏi phải điều trị bằng canxi và vitamin D. Ngoài ra, mặc dù nó thường là rất hiệu quả, sẽ không phẫu thuật tuyến cận giáp chữa bệnh trong mọi trường hợp.

Thuốc. Các thuốc cinacalcet (Sensipar), đã được hiển thị để giảm lượng canxi trong máu bằng cách giảm sản xuất hormone tuyến cận giáp, có thể hiệu quả cho một số người với cường cận giáp. Nếu đã phát triển bệnh loãng xương, uống thuốc gọi là bisphosphonates, alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel) hoặc ibandronate (Boniva), có thể bảo toàn khối lượng xương ở cột sống và hông , giảm nguy cơ gãy xương.

Ung thư

Quyết định hay không và làm thế nào để điều trị chứng tăng calci huyết do ung thư phụ thuộc vào các mục tiêu điều trị ung thư tổng thể đã thiết lập với bác sĩ. Làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của chứng tăng calci huyết có thể bao gồm truyền dịch và uống thuốc như bisphosphonates hoặc thuốc khác để ngăn chặn sự phân hủy của xương.

Điều trị chứng tăng calci huyết có thể làm giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép hoạt động và trải qua điều trị ung thư.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu phát triển chứng tăng calci huyết, nó có thể ngăn chặn xương và thận thiệt hại bằng cách làm như sau:

Uống nhiều nước. Nước uống có thể giúp giữ cho khỏi mất nước và giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.

Tập thể dục. Một khi nồng độ canxi trở lại bình thường, và nếu đang khỏe mạnh, điều quan trọng để duy trì hoạt động để giúp duy trì mật độ xương. Hãy cố gắng kết hợp đào tạo sức mạnh với các bài tập mang nặng. Sức mạnh đào tạo xây dựng cơ bắp và xương trong vòng tay và trên cột sống. Trọng lượng bài tập mang, như đi bộ, chủ yếu ảnh hưởng đến xương ở chân, hông và cột sống vùng thấp. Nếu mới tập thể dục, bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nếu chứng tăng calci huyết là kết quả của ung thư đã lan đến xương, nói chuyện với bác sĩ trước khi tham gia vào thực hiện bất kỳ.

Không hút thuốc. Hút thuốc đã được hiển thị để tăng mất xương cũng như tăng đáng kể nguy cơ bị một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nói chuyện với bác sĩ về những cách tốt nhất để bỏ thuốc lá.

Theo Dieutri.vn

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận! Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Định nghĩa

Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Một bệnh thận đòi hỏi phải được chăm sóc y tế . Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận, lây lan đến máu và gây ra nhiễm trùng đe dọa tính mạng.

Nhiễm trùng thận điều trị thường bao gồm thuốc kháng sinh và thường đòi hỏi phải nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận có thể bao gồm:

Sốt.

Đau bên (sườn) hoặc háng.

Đau bụng.

Thường xuyên đi tiểu.

Mạnh mẽ, liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Cảm giác nóng hoặc đau khi đi tiểu.

Mủ hoặc máu trong (tiểu máu) nước tiểu.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Cũng làm cho một cuộc hẹn nếu đang điều trị cho một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng không được cải thiện.

Nhiễm trùng thận nặng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có triệu chứng nhiễm trùng thận điển hình kết hợp với nước tiểu có máu hay buồn nôn và ói mửa.

Nguyên nhân

Nhiễm trùng thận thường xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Vi khuẩn từ một bệnh nhiễm trùng ở nơi khác trong cơ thể cũng có thể lan truyền qua máu đến thận. Nhiễm trùng thận là bất thường thông qua tuyến đường này, nhưng nó có thể xảy ra trong một số trường hợp – ví dụ, khi một cơ quan ngoại lai, chẳng hạn như khớp nhân tạo, van tim bị nhiễm bệnh. Hiếm khi kết quả nhiễm trùng sau khi phẫu thuật thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thận bao gồm:

Nữ – giải phẫu. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thận hơn so với nam giới. Một người phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nhiều so một người đàn ông, do đó, vi khuẩn có ít khoảng cách để di chuyển từ bên ngoài cơ thể đến bàng quang. Những nơi gần niệu đạo vào âm đạo và hậu môn cũng tạo ra nhiều cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. Một khi một bệnh nhiễm trùng trong bàng quang có thể lây lan đến thận.

Tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Bất cứ điều gì cản trở dòng chảy của nước tiểu, làm giảm khả năng hoàn toàn trống rỗng bàng quang khi đi tiểu, chẳng hạn như sỏi thận, bất thường cấu trúc trong hệ thống tiết niệu, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận.

Làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều kiện y tế làm suy yếu hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như ung thư, tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch vi rút ở người (HIV), làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Một số thuốc như thuốc dùng để ngăn chặn từ chối của các cơ quan cấy ghép có tác dụng tương tự.

Thiệt hại cho dây thần kinh xung quanh bàng quang. Dây thần kinh hoặc tổn thương tủy sống có thể ngăn chặn các cảm giác của một nhiễm trùng bàng quang, để không biết khi nó tiến tới một bệnh nhiễm trùng thận.

Kéo dài việc sử dụng một ống thông tiểu. Ống thông tiểu là ống dùng để thoát nước tiểu từ bàng quang. Có thể có một ống thông được đặt trong bàng quang  trong và sau khi một số thủ tục phẫu thuật và xét nghiệm chẩn đoán. Một ống thông có thể được sử dụng liên tục.

Một điều kiện mà nguyên nhân nước tiểu chảy không đúng cách. Trong trào ngược bàng quang niệu quản (vesicoureteral), số nhỏ dòng nước tiểu từ bàng quang trở lại lên niệu quản và thận. Những người bị trào ngược vesicoureteral có thể bị nhiễm trùng thận thường xuyên trong thời thơ ấu và có nguy cơ cao mắc bệnh thận trong cả tuổi thơ và tuổi trưởng thành.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh nhiễm trùng thận có thể dẫn đến khả năng biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Suy thận. Một bệnh thận có thể dẫn đến tổn thương thận thường là nguyên nhân gây suy thận mãn tính.

Ngộ độc máu (nhiễm trùng huyết). Thận lọc chất thải khỏi máu và sau đó trở lại trong máu với phần còn lại của cơ thể. Nếu có một nhiễm trùng thận, vi khuẩn có thể lây lan.

Biến chứng mang thai. Phụ nữ phát triển một nhiễm trùng thận trong thai kỳ có thể có tăng nguy cơ mang thai em bé nhẹ cân.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể nghi ngờ có một nhiễm trùng thận dựa trên dấu hiệu và triệu chứng như sốt và đau lưng. Nếu bác sĩ nghi ngờ có mắc bệnh thận, người đó có thể sẽ yêu cầu một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Thuốc kháng sinh cho bệnh thận

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thận. Những loại thuốc sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe   và các vi khuẩn tìm thấy trong xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận bắt đầu rõ ràng thuyên giảm trong vòng một vài ngày điều trị. Nhưng có thể cần phải tiếp tục dùng kháng sinh cho một tuần hoặc lâu hơn. Dùng toàn bộ khóa điều trị của thuốc kháng sinh được đề nghị của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn loại bỏ.

Các bệnh nhiễm trùng thận nặng

Đối với một nhiễm trùng thận nặng, bác sĩ có thể thừa nhận đến bệnh viện . Điều trị ở bệnh viện có thể bao gồm thuốc kháng sinh nhận được thông qua một tĩnh mạch ở cánh tay (tĩnh mạch). Bao lâu sẽ ở lại trong bệnh viện phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng.

Điều trị các bệnh nhiễm trùng thận tái phát

Khi nhiễm trùng thận tái diễn thường xuyên hoặc nhiễm trùng sẽ trở thành mãn tính, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế của một chuyên gia có thể xác định nguyên nhân tiềm ẩn và có khả năng điều trị được.

Nhiễm trùng thận thường xuyên có thể là kết quả của một vấn đề y tế cơ bản, chẳng hạn như là một sự bất thường về cấu trúc. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia thận (nephrologist) hoặc bác sĩ phẫu thuật tiết niệu thẩm định để xác định xem bất thường tiết niệu có thể gây ra nhiễm trùng. Một bất thường cấu trúc có thể cần phải được phẫu thuật sửa chữa.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để giảm đau hoặc khó chịu khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng thận, cố gắng:

Áp dụng nhiệt. Đặt một miếng đệm nóng trên lưng, bụng hoặc phía bên để làm giảm cảm giác áp lực hoặc đau đớn.

Sử dụng thuốc giảm đau. Đối với sốt hoặc khó chịu, một thuốc giảm đau có chứa acetaminophen (Tylenol…) không aspirin theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc có một toa thuốc bác sĩ cung cấp.

Uống nước. Uống nhiều nước sẽ giúp đỡ để tuôn vi khuẩn ra từ đường tiết niệu. Tránh các loại nước ép cam quýt, cà phê, rượu và nước giải khát có caffein cho đến khi bệnh đã xóa. Những sản phẩm này có thể làm trầm trọng thêm nhu cầu thường xuyên cấp bách để đi tiểu

Phòng chống

Giảm nguy cơ mắc bệnh thận bằng cách thực hiện những bước để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ, đặc biệt có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu nếu họ:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng có thể giúp loại bỏ vi khuẩn ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Đi tiểu thường xuyên. Tránh giữ lại khi cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu.

Rỗng bàng quang sau khi giao hợp. Đi tiểu càng sớm càng tốt sau khi giao hợp sẽ giúp cho sạch vi khuẩn từ niệu đạo, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Lau sạch cẩn thận. Đối với phụ nữ, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu và sau khi đi tiêu giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong khu vực hậu môn lan sang niệu đạo.

Rửa nhẹ nhàng. Rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn một cách cẩn thận mỗi ngày. Nhưng không sử dụng xà phòng mạnh hoặc rửa mạnh mẽ. Làn da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Tránh sử dụng các sản phẩm phụ nữ ở vùng sinh dục . Sử dụng các sản phẩm nữ tính, chẳng hạn như thuốc xịt khử mùi hoặc douches, trong khu vực bộ phận sinh dục có thể kích thích niệu đạo.

Theo Dieutri.vn