Hiển thị các bài đăng có nhãn thừa cân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thừa cân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Mề đay

Mề đay

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. Mề đay có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. Mề đay có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

Vị trí thường nổi Mề đay là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là Mề đay nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại Mề đay này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.

Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Hóa giải nỗi lo suy thận mạn tính

Đối với người mắc bệnh thận – tiết niệu mạn tính thì nỗi lo lớn nhất là dẫn đến suy thận mạn tính. Khi đã bị suy thận, người bệnh không chỉ phải đối mặt với nỗi ám ảnh mỗi lần lọc máu mà hy vọng cuối cùng là được ghép thận cũng gặp nhiều khó khăn do kinh tế eo hẹp và khan hiếm nguồn hiến tặng.

Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh thận mạn tính?

Bệnh thận mạn tính liên quan nhiều đến tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch , gút, đái tháo đường và các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ, suy thận mạn tính được xác định khi có sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận trên 3 tháng, cụ thể có protein trong nước tiểu, tăng creatinin máu, mức lọc cầu thận giảm, mô học thận thay đổi. Trong cơ thể người, tạng thận có vai trò quan trọng như điều chỉnh nội môi, bài tiết chất cặn bã sinh ra trong quá trình chuyển hóa, điều chỉnh kiềm toan và điều hòa điện giải, tham gia tạo máu, điều hòa chuyển hóa canxi, điều hòa huyết áp…

Khi thận bị suy, các chức năng hoạt động giảm, dần dần dẫn đến mất chức năng khiến bệnh nhân tử vong do nhiễm toan, tăng kali máu, suy tim, phù phổi, tai biến mạch máu não. Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 12 triệu người tử vong vì biến chứng tim mạch liên quan đến suy thận mạn tính. Các biện pháp điều trị suy thận phổ biến và hiệu quả hiện nay đang được thực hiện là lọc máu chu kỳ và ghép thận. Tuy nhiên đối với mỗi phương pháp đều vấp phải những khó khăn riêng.

Lọc máu chu kỳ – Nỗi ám ảnh của người bệnh

T heo Hội Thận học Thế giới, hiện nay có trên 500 triệu người (chiếm 10%) người trưởng thành trên thế giới bị bệnh thận mạn tính ở các mức độ khác nhau. Trong đó trên 4,5 triệu người được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú, ghép thận. Ước tính con số này sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới. Ở Việt Nam, theo điều tra năm 1990, tỷ lệ suy thận mạn dao động khoảng từ 0,6% đến 0,81% tùy từng vùng. Nhu cầu ghép thận khoảng 5,5/100.000 người. Hiện nay có khoảng hơn 5.500 bệnh nhân được lọc máu chu kỳ, hơn 1.100 người được lọc màng bụng liên tục ngoại trú và hơn 300 người được ghép thận.

Hiện nay số bệnh nhân suy thận mạn tính ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng tăng, do đó số lượng bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải được điều trị lọc máu (chạy thận nhân tạo) cũng tăng theo. Nhiều trung tâm thận nhân tạo ra đời cùng với kỹ thuật lọc máu không ngừng được hoàn thiện, đã làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu chu kỳ cải thiện đáng kể. Đại đa số bệnh nhân phát hiện suy thận mạn tính giai đoạn cuối phải lọc máu chu kỳ do tình cờ đi khám và xét nghiệm máu thấy: u rê máu, creatinin máu tăng cao, thiếu máu.

Nhiều bệnh nhân suy sụp về tinh thần khi được bác sĩ cho biết kết quả chẩn đoán suy thận độ III – độ IV phải lọc máu (chạy thận nhân tạo chu kỳ). Có những bệnh nhân quá sợ hãi đã bỏ về, rồi sau đó bệnh diễn biến nặng mới quay trở lại để lọc máu nên chức năng thận càng suy giảm. Đa số bệnh nhân lần đầu tiên lọc máu đều rất lo âu, vì cuộc sống sẽ gắn liền với máy thận nhân tạo. Nói đúng hơn, bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cũng có thể sống kéo dài trong nhiều năm và hoàn toàn phụ thuộc vào chạy thận nhân tạo, nhưng bệnh nhân sống trong trạng thái ốm yếu, bất lực, nỗi bất hạnh luôn ám ảnh họ với hàng loạt bệnh lý nội khoa khó lường như: suy tim, tai biến mạch máu não, viêm gan, phù phổi cấp, xuất huyết tiêu hóa…
 Thận bình thường (trái)                      và suy thận (phải)

Ghép thận – giải pháp tối ưu

Sự thành công của ghép thận đã mở ra viễn cảnh mới cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối; Ghép thận đã trả lại cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cuộc sống tốt đẹp cả về thể lực lẫn trí tuệ, có cuộc sống như người bình thường, lấy vợ, lấy chồng và sinh con cái. Tuy nhiên, ở Việt Nam khi số bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối được ghép thận quá ít vì: người cho thận chủ yếu là người trong gia đình. Mặc dù Luật hiến tạng đã ra đời, nhưng người tình nguyện cho tạng từ người mất não, hoặc tử vong do tai nạn giao thông mới đếm trên đầu ngón tay. Thiết nghĩ, nếu những người rủi ro chết do tai nạn giao thông mà hiến thận thì cứu được bao nhiêu người đang mong được ghép thận. Hy vọng trong tương lai, việc hiến mô, tạng sẽ đi vào lòng người Việt Nam như đạo Phật đã dạy “Cứu một người phúc đẳng hà sa”. Khi người mất đi mà hiến tạng cho người khác thì người thân vẫn thấy và cảm nhận một phần cơ thể của người mất đang tồn tại “cuộc sống trở lại sau cái chết”. Để làm được điều đó, ngoài những nỗ lực lớn lao của các thầy thuốc , giáo sư, bác sĩ, điều dưỡng sẽ không thể thiếu được những nghĩa cử cao đẹp và sự thấu hiểu của cộng đồng.

Tóm lại, bệnh thận mạn tính có thể phòng ngừa được bằng cách điều trị triệt để khi bị viêm cầu thận, sỏi đường tiết niệu, tránh béo phì, thừa cân; kiểm soát tốt tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, chế độ ăn ít muối, không lạm dụng bia rượu, không hút thuốc lá.

BS.CKII.  Phạm Quốc Cường – Theo suckhoedoisong

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù – dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Phù là hiện tượng ứ nước trong các tổ chức dưới da hoặc ở các tạng của cơ thể. Phù là một dấu hiệu của nhiều bệnh, nên khi bị phù phải tìm nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị mới có kết quả.

  Phát hiện phù

Bằng mắt thường mọi người có thể thấy ngay được, nhưng đôi khi rất khó xác định phù. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nặng chân. Nơi bị phù sưng to, căng mọng, làm mất đi các nếp nhăn, mắt cá, đầu xương bị phẳng lỳ. Da vùng phù nhạt màu, ấn vào nơi phù da lõm xuống, đặc biệt là ấn vào mặt trước trong xương chày.

Các dấu hiệu kèm theo như lượng nước tiểu ít đi, gan to, cổ trướng, khó thở… Phù giữ nước nên cân nặng có thể tăng hằng ngày từ 1 đến 2 kg. Sau đây là các nguyên nhân gây phù:

Phù toàn thân

Thường phù từ mặt, bụng, ngực, chân, tay, kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn. Hay gặp những bệnh sau:

Thận nhiễm mỡ: Phù rất to. Phù trắng, lúc đầu phù ở mặt, sau phù toàn thân. Thường kèm theo tràn dịch màng phổi, màng bụng. Ăn nhạt không giảm phù. Nước tiểu có nhiều protein. Xét nghiệm máu: urê, creatinin không cao, protein giảm nhiều, cholesterol tăng nhiều.

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn: Phù trắng, mềm, ấn lõm, phù toàn thân, rõ ở hai chi dưới. Ăn nhạt phù giảm rõ. Có thể kèm theo tăng huyết áp , tràn dịch màng phổi, màng tim. Nước tiểu ít, vẩn đục, có protein, trụ niệu. Có thể thiếu máu. Chức năng thận rối loạn, creatinin tăng cao.

Suy dinh dưỡng: Phù toàn thân hoặc hai chi dưới, phù trắng, mềm, ấn lõm, mức độ phù buổi sáng và chiều như nhau. Nước tiểu không có protein. Thường do thiếu ăn hoặc đang mắc các bệnh mạn tính như: rối loạn tiêu hóa lâu ngày, lao, ung thư, các bệnh tê liệt, bị các bệnh mạn tính nằm lâu.

Phù do nội tiết: Phù do tăng aldosteron: Phù trắng, ấn lõm, phù chi dưới, có khi phù mặt, phù kín đáo, có trường hợp tự khỏi. Gặp ở phụ nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nước tiểu không có protein. Điều trị bằng spirolacton có hiệu quả.

Phù do thiểu năng tuyến giáp: phù cứng, ấn không lõm, mặt tròn mắt híp, môi dày, lưỡi to. Móng chân, tay có ngấn, khô rạn, tóc cứng, dễ gãy. Chậm chạp, trí tuệ kém phát triển, nhiệt độ giảm, huyết áp hạ, mạch chậm.

Phù do ưu năng tuyến thượng thận: Mặt tròn đỏ, phù cứng, huyết áp tăng. Gặp ở người có u ở vỏ thượng thận, người uống corticoid lâu ngày, nếu ngừng uống thì các triệu chứng sẽ hết.

Phù khu trú

Phù ngực: Còn gọi là phù áo khoác, phù từ ngực có thể phù lên cổ, mặt hoặc phù cả hai tay. Do u đè ép vào ống bạch mạch ở ngực và tĩnh mạch chủ trên. Trên da ngực nổi nhiều mạch máu ngoằn nghèo màu tím, bệnh nhân đau ngực, vú to. Chụp Xquang lồng ngực thường thấy khối u trung thất.

Phù hai chi dưới: Do suy tim và xơ gan:

- Do suy tim: lúc đầu phù 2 mắt cá chân, phù mềm, ấn lõm. Phù xuất hiện vào buổi chiều, mất đi lúc sáng sớm và lúc nghỉ ngơi. Hai chân phù rất to, có khi nứt da, nước vàng chảy rỉ ra. Ăn nhạt phù giảm rõ. Kèm theo tim to, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mạch nhanh, khó thở, đái ít. Suy tim nặng có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi.

- Do xơ gan: gan có thể to, cứng, thường gan bị teo. Phù ít, ấn lõm, sau phù to. Nước cổ trướng tái phát nhanh. Có thể kèm theo tràn dịch màng phổi, màng tinh hoàn, có mạch máu nổi ở da bụng. Chức năng gan suy giảm.

Phù do thiếu vitamin B1: (Bệnh Bêribêri hay bệnh tê phù). Phù hai chân, ấn lõm, thường phù rõ vào buổi chiều, hai chân thấy tê bì như kiến bò, hay bị chuột rút, phản xạ gân gối mất. Thường do ăn uống thiếu chất lâu dài. Điều trị bằng vitamin B1 phù mất đi rõ rệt. Nếu mẹ đang nuôi con thì con cũng bị thiếu vitamin B1, hay khóc về đêm, gọi là khóc “dạ đề”.

Phù do thai nghén: Gặp ở người có thai, có hoặc không có protein niệu. Cần phải khám thai định kỳ để xác định.

Phù một chi: Phần nhiều gặp ở chân hơn ở tay, do bệnh của các huyết quản.

Viêm tắc tĩnh mạch: Phù mềm, ấn lõm, da ấm. Rất đau khi nắn vào chi phù. Gác chân lên cao, nằm nghỉ thì bớt phù. Có sốt, gặp ở người sau đẻ, sau phẫu thuật vùng hố chậu, bệnh nhiễm khuẩn nặng.

Viêm mạch bạch huyết : phù mềm, ấn lõm, rất đau. Trên da nổi những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng trong vùng như bẹn, nách cũng sưng và đau. Đôi khi có sốt. Phát hiện có vết xước, vết thương, nhọt. Trong trường hợp mới mắc bệnh giun chỉ, có thể tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở máu tĩnh mạch vào ban đêm.

Phù cứng: Thường là phù chân voi, di chứng của viêm mạch bạch huyết do giun chỉ. Ống bạch huyết bị vỡ vào tổ chức dưới da, gây phù cứng. Da rất dầy và cứng, ấn không lõm. Thường bị một chân, có khi cả 2 chân nhưng không đều. Phù bộ phận sinh dục như bìu xù xì, to và cứng. Nếu ống bạch huyết vỡ vào bể thận, thì bệnh nhân đái ra dưỡng chấp màu đục như nước vo gạo.

Phù dị ứng: Thường xuất hiện đột ngột sau khi ăn hoặc tiếp xúc tác nhân dị ứng như thuốc , thức ăn, bụi nhà, phấn hoa, sâu róm… Phù xuống quanh mắt, mồm, da nổi cục và ngứa, mất đi rất nhanh khi dùng thuốc chống dị ứng, có khi tồn tại vài ngày.

Ngoài ra, phù còn do suy giảm hệ tĩnh mạch, do các nguyên nhân chèn ép tĩnh mạch do viêm, do ung thư hay bệnh toàn thân, bệnh thiếu máu.

Khi bị phù, bạn cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ khám, làm các xét nghiệm, xác định bệnh. Từ đó bạn sẽ nhận được lời khuyên và phương pháp điều trị theo từng nguyên nhân cụ thể của từng bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Bệnh lí thận AGL (bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận AGL ( bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận IgA có thể xảy ra ở những người ở tất cả các độ tuổi, nhưng thường ảnh hưởng nhất ở tuổi thiếu niên và sau 30 tuổi.

  Các tên tiếng anh

Nephropathy – IgA; Berger’s disease

Định nghĩa

Bệnh lí thận IgA là một rối loạn đặc trưng bởi sự có mặt của máu trong nước tiểu. Bệnh gây ra do sự viêm các kết cấu bên trong của thận và sự lắng đọng của các kháng thể IgA trong mô thận

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc và yếu tố có tính nguy cơ (mắc bệnh)

Bệnh lí thận kháng nguyên IgA (bệnh Berger’s) là một dạng của viêm tăng nhanh ở màng nâng cuộn mao mạch tiểu cầu. Ở bệnh này các kết cấu trong thận được gọi là các cuộn tiểu cầu bị viêm, và một loại của kháng thể được gọi là IgA lắng đọng trong thận. Rối loạn có thể xuất hiện ở dạng cấp, tiến triển nhanh chóng, hay viêm cuộn tiểu cần thận mãn, hay có biểu hiện rõ ràng, hay có máu trong nước tiểu.

Bệnh lí thận IgA thường được phát hiện sau một số các giai đoạn nước tiểu có màu sậm hay có máu ở nguời không có triệu chứng của rối loạn về thận. Nước tiểu có máu có thể bắt đầu sớm hơn hay trong khi nhiễm trùng hô hấp. Hội chứng thận hư cấp hay mãn (nhóm các triệu chứng liên quan tơi hoạt động sụt giảm của thận) có thể xảy ra.

Các yếu tố có tính nguy cơ bao gồm lịch sử cá nhân hay gia đình mắc bệnh lí thận IgA hay mắc bệnh Henoch Schonlein purpura (một dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các cơ quan của cơ thể, và có thể gây ra một thương tổn ở thận gi ống hệt với tổn thương ở bệnh Berger’s)

Bệnh lí thận IgA có thể xảy ra ở những người ở tất cả các độ tuổi, nhưng thường ảnh hưởng nhất ở tuổi thiếu niên và sau 30 tuổi.

 

Hình dạng tiêu biểu của một quả thận, các mạch máu có màu đỏ, dòng nước tiểu được minh họa bằng màu vàng

Các triệu chứng

  • Các thay đổi trong màu của nước tiểu-có máu, sậm, nâu hay màu đỏ nhạt
  • Nước tiểu có máu hay sẫm lặp lại ở các giai đoạn.

Các dấu hiệu và các xét nghiệm .

Không có thay đổi cụ thể nào được phát hiện trong khi thăm khám sức khỏe . thông thường, áp lực máu có thể bị nâng lên hay phù trên có thể có thể xuất hiện.

  • Phân tích nước tiểu cho thấy máu và các cặn lắng của hồng cầu, và có thể cho thấy có protein và các chất béo.
  • Sinh thiết thận cho thấy sự lắng đọng của các kháng thể IgA và sẽ xác thực chuẩn đoán.
  • Xét nghiệm glubin miễn dịch nước tiểu cho thấy các kháng thể của IgA

Điều trị

 Mục tiêu của điều trị là làm dịu đi các triệu chứng và ngăn chặn hay trì hoãn suy thận mãn

Các thuốc hạ huyết áp và thuốc lợi tiểu có thể được kê để kiểm soát cao huyết áp và phù nề. Kiểm soát huyết áp là cách thức quan trọng nhất để trì hoãn sự hư hại về thận. Muối ăn và các thức uống có thể bị giới hạn để kiểm soát phù. Một chế độ ăn có protein ở mức vừa phải có thể được yêu cầu ở một số các ca bệnh.

Sử dụng các thuốc ức chế ACE là chìa khóa để ngăn chặn bệnh này xấu đi. Các thuốc Corticosteroid hay các thuốc ức chế miễn dịch khác, dầu cá cũng được sử dụng để điều trị rối loạn này.

Các nhóm hỗ trợ

Hiện Việtnam đang rất thiếu các nhóm hỗ trợ như thế này, hi vọng bệnh nhân đọc xong bài này sẽ để lại thông tin để chúng tôi có thể liên lạc hoặc tìm cách giúp đỡ các bạn. đường link sau sẽ giúp các bạn tìm hiểu thông tin kĩ lương hỡn về bệnh này đó là website của mạng lưới hỗ trợ bệnh lí thận IgA http://www.igansupport.org/ ).

Tiên lượng

Bệnh lí thận IgA tiến triển từ từ. Ở nhiều trường hợp, nó không tiến triển gì hết. Huyết áp cao, số lượng lớn của protein trong nước tiểu, và mức BUN (nito ure máu) hay creatinine tăng lên(các xét nghiệm máu phản ảnh chức năng thận) cho thấy nguy cơ tiến triển rối loạn (theo hướng xấu đi) là cao hơn.

Khoảng 25% người bệnh mắc bệnh lí thận IgA tiến triển đến suy thận gia đoạn cuối trong khoảng 25 năm.

Các biến chứng

  • Suy thận mãn
  • Bệnh thận giai đoạn cuối

Gọi tới chuyên gia chăm sóc y tế của bạn

Hãy gọi tới chuyên gia chăm sóc y tế của bạn nếu bạn có nước tiểu có máu hay nếu lượng nước tiểu của bạn sụt giảm.

Theo benhthan.com

Hỏi đáp về bệnh Nang thận

Hỏi đáp về bệnh Nang thận

Tôi 28 tuổi, nữ, đã lập gia đình, chưa có con. Gần đây tôi đi siêu âm bác sĩ cho biết thận trái và phải có nhiều nang và sỏi. Xin hỏi nang thận là gì và cách giải quyết trường hợp của tôi như thế nào? Tôi rất lo lắng vì dự kiến có thai vào hai tháng nữa. Xin cảm ơn.

Cẩm Hà

- Trả lời của Phòng mạch Online:

Thận được cấu tạo bởi khoảng 1 triệu đơn vị thận được gọi  là néphrone. Mỗi néphrone đều có nhiệm vụ lọc, tái hấp thu và bài tiết nước tiểu vào một hồ chứa chung là bể thận.

Từ bể thận nước tiểu sẽ chảy theo niệu quản xuống bàng quang để khi bạn buồn đi tiểu, nước tiểu được bài xuất ra ngoài. Nếu một đơn vị thận bị viêm , bị sỏi, bị xơ làm bít lại thì nước tiểu bị ứ hình thành một cái bọc chứa nước. Nước không được đưa ra ngoài sẽ tái hấp thu lại nhưng phần cặn lưu trữ tạo ra những thứ gọi là “nang thận”.

Có ba loại nang thận: nang đơn độc, chỉ có một ống bị bít tắc, bạn cứ chung sống vui vẻ với nó. Thận đa nang thường do di truyền, cần được theo dõi mỗi 6 tháng siêu âm một lần. Nếu chúng gây đau, nhiễm trùng thì các nhà niệu khoa phải chọc hút. Nang lớn hơn 6cm thì phải mổ vì nó sẽ đè ép các đơn vị thận bên cạnh khiến chúng không làm việc được.

Riêng trường hợp của bạn có thể do sỏi thận hình thành trước làm tắc rồi gây ra nang thận. Thường sỏi thận khi làm việc nặng sẽ gây đau lưng, có người viên sỏi lay lắc sẽ gây cơn đau quặn thận. Có thể trong gia đình (cha mẹ) bạn có người bị tiểu đường hoặc mỡ trong máu cao gây rối loạn chuyển hóa chung. Cũng có thể chế độ ăn của bạn giàu canxi (uống sữa, ăn cá kho nhừ xương, uống nhiều nước suối)… tạo cơ hội lắng đọng thành sỏi. Có khi chỉ vì bạn không chịu uống đủ nước nên không đủ nước hòa tan chất cặn. Nếu thiếu nước, các chất như canxi, oxalat, axit uric không được hòa tan hoàn toàn dẫn đến sự hình thành các tinh thể.

Nước tiểu chứa các chất hóa học như xitrat, manhê, pyrôphôtphat có tác dụng chống lại quá trình tạo tinh thể. Nếu hàm lượng những chất này trong nước tiểu thấp sẽ tạo điều kiện cho sỏi hình thành. Trong những chất này, xitrat đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình chống tạo tinh thể.

Thận có các loại sỏi:

Bốn dạng sỏi hay gặp là: sỏi canxi, sỏi axit uric, sỏi struvite và sỏi cystine.

(1) Sỏi canxi: khoảng 85% thành phần của loại sỏi này là canxi. Canxi kết hợp với các chất thải khác hình thành sỏi. Canxi có thể phối hợp với oxalat để trở thành sỏi canxioxalat hay kết hợp với photphat trở thành sỏi canxiphotphat. Chúng ta ăn uống nhiều canxi hoặc rối loạn hormon cận giáp sẽ làm rối loạn chuyển hóa canxi, photpho, chúng bị thải ra nước tiểu tạo thành sỏi.

Sỏi acid uric: thường gặp ở những đàn ông hay nhậu, uống rượu, ăn thịt màu đỏ, hải sản nhiều.

Sỏi struvite: do đường tiết niệu bị viêm nhiễm, vi khuẩn làm rối loạn cân bằng trong nước tiểu tạo cơ hội cho các chất cặn lắng đọng. Phụ nữ hay bị loại sỏi này do sau khi lập gia đình bị viêm bàng quang nhiều lần, vi khuẩn chạy ngược dòng lên thận gây rối loạn ở bể thận và tạo thành sỏi. Sỏi loại này thường lởm chởm, sắc cạnh, có khi phát triển nhanh, choán bể thận

Sỏi cystin: cystin là một axit amin khó hòa tan. Do di truyền nên một số người có hàm lượng cystin trong nước tiểu cao dẫn đến hiện hình thành sỏi. Loại sỏi này khó điều trị và cần thời gian điều trị dài.

Bạn 28 tuổi và đang muốn sinh con thì cứ theo kế hoạch. Có điều không nên uống sữa mà nên bù canxi bằng cách ăn nhiều rau xanh. Nên uống nhiều nước. Vì bạn không cho biết viên sỏi to bao nhiêu, có gây đau lưng hay đi tiểu ra máu chưa nên rất khó đưa ra lời khuyên cụ thể hơn.

Mong nhận được nhiều thông tin nữa từ bạn. Chúc may mắn.

Theo Tuổi Trẻ

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Người viêm cầu thận cấp chỉ nên ăn nhẹ

Người viêm cầu thận cấp chỉ nên ăn nhẹ

Nguyên tắc ăn uống với những bệnh nhân viêm cầu thận cấp là ăn nhẹ và ăn nhạt. Nếu tiểu ít hoặc vô niệu thì bỏ hẳn hoa quả.

Viêm cầu thận cấp thường xuất hiện sau một đợt nhiễm khuẩn cấp tính ở cổ họng, ngoài da, răng miệng; đa số là do liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A. Bệnh thường gặp ở trẻ em. Cách điều trị chủ yếu là nghỉ ngơi và có chế độ ăn, dinh dưỡng hợp lý.

Viêm cầu thận cấp được xác định khi: Có tiền sử nhiễm khuẩn cổ họng, ngoài da đã khỏi hẳn 1-2 tuần trước; cũng có thể hiện tại còn nhiễm khuẩn; phù, đái ít (phù có thể rất ít, chỉ mọng mi mắt, cũng có thể phù to, trắng, mềm, ấn lõm); đái máu; tăng huyết áp (thường là 140/90 mmHg trở lên).

Bệnh có thể khỏi nhanh trong vòng 4-6 tuần; cá biệt có biến chứng nặng như phù phổi cấp do phù và tăng huyết áp, suy thận cấp, suy thận tiến triển nhanh; một số chuyển thành tiềm tàng, mạn tính.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân viêm cầu thận cấp không có biến chứng nặng là ăn nhẹ, ăn nhạt . Cụ thể:

Đạm (protein): 0,6 g/kg cân nặng mỗi ngày. Đề phòng urê máu tăng; khi bệnh nhân đái tốt, urê máu không tăng thì cho 1 g/kg cân nặng mỗi ngày.

Bột đường: 30 Kcal/kg cân nặng mỗi ngày bao gồm gạo, mỳ, khoai củ, bánh ngọt.

Chất béo: 20 g/ngày.

Nên bớt muối và mì chính, tối đa 2 g muối/ngày, tốt nhất là bỏ hẳn mì chính. Nếu có phù, tăng huyết áp thì phải ăn nhạt tuyệt đối. Uống nước ít hơn lượng đái ra trong ngày. Nếu đái ít hoặc vô niệu thì bỏ hẳn rau quả để phòng tăng kali máu. Bổ sung vitamin dạng thuốc bằng đường uống.

Cần theo dõi lượng nước tiểu, phù, huyết áp, urê máu để gia giảm thức ăn. Sau một tuần nếu thấy urê máu không tăng thì có thể tăng đạm lên 0,8 g/kg cân nặng mỗi ngày. Nếu tiểu tiện bình thường thì ăn rau quả tự do, nước uống bằng lượng đái ra.

BS Nguyễn Thị Hà , Sức Khỏe & Đời Sống

Dấu hiệu nhận biết viêm cầu thận

Dấu hiệu nhận biết viêm cầu thận

Viêm cầu thận (VCT) là một bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm của các tiểu cầu thận và các mạch máu nhỏ trong thận. Bệnh có thể xuất hiện độc lập hoặc kết hợp với hội chứng thận hư. Bệnh được phân loại thành nhiều thể khác nhau, được chia thành các nhóm theo mức độ tiến triển.

Chẩn đoán thể bệnh VCT rất quan trọng vì kết quả và điều trị khác nhau trong các loại hình khác nhau. VCT tiên phát do tổn thương nội tại của thận, trong khi VCT thứ phát có liên quan đến một số bệnh nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây bệnh), thuốc , bệnh hệ thống (lupus ban đỏ, viêm mạch) hoặc bệnh tiểu đường.

Triệu chứng điển hình là gì? Triệu chứng VCT phụ thuộc vào từng thể bệnh và sự tiến triển cấp hay mạn tính. Các triệu chứng chung có thể bao gồm: nước tiểu sẫm màu, có bọt (do dư thừa protein); tăng huyết áp; phù; mệt mỏi, thiếu máu; đi tiểu ít hơn bình thường.

Phân loại thể bệnh: Có nhiều cách phân loại, nhưng phân loại theo cách tiến triển của bệnh là cách được sử dụng rộng rãi. Bao gồm:

Bệnh mỏng màng đáy cầu thận: Là bệnh di truyền gen trội với biểu hiện lâm sàng là tình trạng đái máu đại thể dai dẳng. Tổn thương được xác định bằng sinh thiết thận và soi trên kính hiển vi điện tử thấy màng đáy cầu thận mỏng hơn bình thường.

Bệnh cầu thận tiến triển chậm: Viêm cầu thận tổn thương tối thiểu: loại bệnh này chiếm tới 80% hội chứng thận hư ở trẻ em, nhưng lại chỉ chiếm 20% HCTH ở người lớn. Điều may mắn là thể bệnh này đáp ứng điều trị tương đối tốt. Hơn 90% trẻ em khỏi bệnh sau 3 tháng điều trị, tỉ lệ khỏi bệnh ở người lớn là 80%. Thuốc thường được dùng là corticoid. Thuốc giảm miễn dịch được chỉ định khi có hiện tượng kháng corticoid.

Xơ cứng cầu thận từng ổ, từng đoạn, còn gọi là viêm cầu thận ổ: có thể nguyên phát hay thứ phát trong các bệnh lý như viêm thận ngược dòng (do nhiễm khuẩn ở đường tiết niệu ), hội chứng Alport (viêm cầu thận, tổn thương thính giác, thị giác), lạm dụng heroin, HIV. Biểu hiện của bệnh như một hội chứng thận hư với suy thận ở nhiều mức độ, tình trạng xơ cứng chỉ xảy ra ở một số vị trí nhất định. Tổn thương tiến triển chậm dẫn đến suy thận và đáp ứng kém với điều trị corticoid.

Viêm cầu thận màng: Là thể bệnh hay gặp ở người lớn. Biểu hiện lâm sàng là sự kết hợp triệu chứng của cả viêm cầu thận và hội chứng thận hư. Thường vô căn nhưng cũng có thể kết hợp với một số bệnh như viêm gan, sốt rét, ung thư phổi và ruột, lupus ban đỏ. 1/3 số bệnh nhân tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Điều trị corticoid cũng được sử dụng như một nỗ lực để hạn chế sự tiến triển của bệnh.

Một số bệnh lý khác gây tổn thương thận: Tăng huyết áp, bệnh thận do tiểu đường. Biểu hiện sớm là microalbumin niệu. Vì vậy việc xét nghiệm nước tiểu để phát hiện bệnh sớm là rất quan trọng. Tiến triển thường chậm và phụ thuộc vào việc điều trị nguyên nhân gây bệnh.

Bệnh cầu thận tiến triển nhanh: Về mặt mô bệnh học, nhóm bệnh này được đặc trưng bởi sự gia tăng nhanh chóng về số lượng tế bào trong tiểu cầu thận. Quá trình suy thận dẫn đến giai đoạn cuối cũng diễn ra nhanh chóng trong thời gian từ vài tuần đến vài tháng tùy theo từng loại.

Bệnh thận IgA: Đây là nguyên nhân gây viêm cầu thận hàng đầu ở người lớn, nam mắc nhiều hơn nữ. Đặc thù của bệnh này là sự xuất hiện thường xuyên hồng cầu trong nước tiểu. Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 – 48 giờ sau một nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc tiêu hóa . Tổn thương trực tiếp cầu thận do sự lắng đọng IgA trên màng đáy. Tiên lượng bệnh rất khác nhau, khoảng 20% bệnh nhân sẽ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối.

Viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn: Có thể xảy ra với nhiều loại nhiễm khuẩn, nhưng nguyên nhân hay gặp nhất là sau nhiễm liên cầu nhóm D, đặc biệt là Streptoccocus pyogenes. Bệnh xuất hiện sau các nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn da khoảng 10 – 14 ngày. Chẩn đoán dựa vào việc khai thác tiền sử nhiễm liên cầu trước đó. Các test huyết thanh chẩn đoán liên cầu rất hữu ích để cung cấp thêm bằng chứng. Sinh thiết thận hiếm khi được đặt ra. Được điều trị đúng cách, bệnh thường tiến triển tốt và khỏi bệnh trong 2 – 4 tuần.

Viêm cầu thận tăng sinh màng/viêm cầu thận tăng sinh gian mạch: Bệnh có thể tiên phát hoặc thứ phát sau lupus ban đỏ, viêm gan virut. Người ta nhận thấy các tiểu cầu thận có hiện tượng tăng sinh tế bào bất thường cả ở màng đáy, mao mạch và khoảng gian mạch. Biểu hiện bằng tình trạng thận hư – viêm thận và tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối là điều không tránh khỏi.

Viêm cầu thận tiến triển nhanh: Thể bệnh này có tiên lượng xấu. Bệnh tiến triển nhanh chóng đến suy thận giai đoạn cuối trong vòng vài tuần. Corticoid có thể được sử dụng nhưng hiệu quả không thực sự rõ ràng. Bao gồm các nguyên nhân sau: Viêm cầu thận tế bào hình liềm (Tổn thương cầu thận kết hợp với viêm thận kẽ. Bệnh xuất hiện sau viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Chụp Immunofluorescen cho thấy hình ảnh những tế bào hình liềm xuất hiện cả ở tiểu cầu và khoảng gian mạch; Hội chứng goodpasture (là một loại bệnh tự miễn dịch. Người ta phát hiện kháng thể kháng màng đáy ở thận và phổi. Vì thế biểu hiện lâm sàng của bệnh ngoài triệu chứng của VCT còn có triệu chứng của tổn thương phổi như ho ra máu); Các bệnh lý tổn thương mạch máu (điển hình là viêm nhiều động mạch (polyartritis) và U hạt Wegener. Chẩn đoán dựa vào sự xuất hiện kháng thể kháng tế bào chất của bạch cầu trong máu).

Theo 24h.com

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Nhận biết sớm sỏi mật – Cách gì?

Sỏi mật là trong lòng ống mật có những viên sỏi nhỏ, to, hay bùn mật ở vị trí trong gan hoặc ngoài gan, ở túi mật. Bệnh có thể gây viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa … rất nguy hiểm.

Sỏi mật hình thành như thế nào?

Người ta thấy có hai loại sỏi mật thường được hình thành là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

 Loại sỏi cholesterol: vì một lý do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỷ lệ: nồng độ cholesterol tăng lên, nồng độ chất làm tan (muối mật – lecithin) giảm xuống, khi đó cholesterol kết tủa tạo ra những tinh thể là tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Những yếu tố làm giảm bài tiết muối mật gồm: bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; người béo: dự trữ muối mật giảm, sản xuất muối mật tăng nhanh nhưng không nhanh bài tiết; người cao tuổi. Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: chế độ ăn giàu calo, dùng thuốc oestrogen, cloflbrat. Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước nên làm cho cholesterol được cô đặc hơn; đồng thời túi mật tiết ra chất mueus có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

Người bị sỏi mật cần có chế độ ăn hạn chế mỡ động vật.

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này. Nguyên nhân là do trứng giun đũa hoặc xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào gây sỏi. Nếu giun đũa lên đường mật nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật, gây ra những vết loét xước và sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thùy gan, phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần từ đó hình thành sỏi mật.

Biểu hiện của bệnh sỏi mật

Một người bị sỏi mật sẽ có các dấu hiệu sau: đau bụng với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải (HSP), kiểu đau quặn gan, thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23 – 24 giờ; khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh; cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày. Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn. Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều. Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ; sốt và đau HSP đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao; có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng; có khi sốt nhẹ 37,5 – 380C; nếu không viêm thì không sốt.
Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1 – 2 ngày; vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu; vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm; vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt. Ba chứng: đau, sốt, vàng da còn gọi là Tam chứng Charcot  tái phát nhiều lần, khoảng cách giữa các đợt vài tuần, vài tháng, vài năm. Khám thấy: gan to đều, mức độ to từ mấp mé dưới bờ sườn  đến 5 – 6cm dưới bờ sườn tùy mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức. Túi mật to cùng với gan to, túi mật to, đau khi sờ nắn, có thể co cứng HSP. Xét nghiệm máu: bilirubin toàn phần tăng. Siêu âm thấy sỏi túi mật, sỏi ống mật. Chụp phim Xquang thấy sỏi.

 Trên thực tế thường gặp ba thể bệnh chính như sau: một là trường hợp điển hình có Tam chứng Charcot, hội chứng tắc mật, bệnh tái phát nhiều lần, với các triệu chứng như trên chẩn đoán đúng sỏi mật 60- 75%. Hai là triệu chứng lâm sàng không điển hình: có cơn đau quặn gan, không vàng da, không tắc mật; hoặc tắc mật nhưng không đau quặn gan. Ba là bệnh nhân bị sỏi nhưng đến bệnh viên cấp cứu vì biến chứng như: viêm phúc mạc mật với các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, bụng cứng, vàng da; sốc nhiễm khuẩn; sốt, túi mật to, đau; chảy máu tiêu hoá: nôn ra máu có hình thỏi kiểu như ruột bút chì; đau bụng cấp, nôn, trướng bụng.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh 

Việc dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong điều trị viêm nhiễm đường mật do sỏi. Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ để dùng thuốc vừa hiệu quả, vừa rút ngắn thời gian mắc bệnh cho bệnh nhân. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì phải dùng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, liều cao như: colistin, cephalosporin, ampixillin, gentamyxin… Các thuốc giãn cơ, giảm co thắt như atropin, spasmaverin…; thuốc lợi mật như: sunfat magie, siro actiso, sorbitol…; các thuốc làm tan sỏi dùng trong các trường hợp viên sỏi nhỏ dưới 2cm, túi mật còn tốt, bệnh nhân không thể mổ được, hoặc đề phòng sỏi tái phát sau mổ. Phẫu thuật trong các trường hợp: sỏi gây viêm túi mật hoại tử, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, đau dữ dội mà dùng thuốc giảm đau không kết quả, chảy máu đường mật, áp-xe đường mật dọa vỡ, viêm đường mật kéo dài, tắc mật kéo dài,  tái phát nhiều lần, sỏi túi mật… Lấy sỏi qua máy soi tá tràng…

Bệnh nhân bị sỏi mật cần thực hiện một chế độ ăn kiêng hợp lý đó là: kiêng ăn mỡ, nhất là các loại thịt mỡ động vật như bò, gà, lợn… Ăn giảm calo: chỉ ăn  2.000 calo/24 giờ. Uống các loại nước thuốc nam có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh như nước  khoáng, nước nhân trần, actiso.

Phòng bệnh sỏi mật cần thực hiện nhiều biện pháp sau đây: khám bệnh định kỳ để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh là nguyên nhân gây sỏi mật như bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật, rối loạn lipid máu; kiểm soát ăn uống chống thừa cân béo phì; tránh ăn chế độ ăn giàu calo; tránh dùng các thuốc oestrogen chữa bệnh cho người có bệnh sỏi mật từ trước; định kỳ 6 tháng một lần tẩy giun, thực hiện ăn chín uống sôi để tránh nhiễm giun.

ThS. Bùi Quỳnh NgaTheo suckhoedoisong

Cách phát hiện u nang thận

Cách phát hiện u nang thận

Qua tuổi 40, tỷ lệ mắc u nang buồng trứng tăng cao. Dù không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng đôi khi gây sự đau đớn cho người bệnh .

1. U nang thận là gì?

U nang thậnlà một loại túi nhỏ (có kích cỡ đa dạng từ vài mm đến vài cm) chứa chất l lỏng mầu vàng nhạt. Một người có thể có nhiều u nang trong 1 quả thận hoặc trong cả 2 quả thận.

2. Làm thế nào để phát hiện u nang thận?

U nang thận không có triệu chứng nào đặc biệt nên rất khó phát hiện. Cách tốt nhất để phát hiện bệnh này là phương pháp siêu âm. Nếu phát hiện ra khối u, bác sỹ sẽ cho làm xét nghiệm tế bào để biết được đó là u nang hay là một khối u ác tính.

3. Cần phải lập tức điều trị u nang thận khi được phát hiện?

U nang thận lành tính thường không gây đau lưng do đó nó rất khó phát hiện. Khối u này đôi khi được phát hiện khi bạn được bác sỹ chỉ định đi siêu âm hệ tiêu hóa hay đường tiết niệu .

Tuy nhiên đối với các u nang thận lành tính không cần phải điều trị đặc biệt. Phần lớn trường hợp, người bệnh sống chung với u nang thận trong nhiều năm.

Bác sỹ chỉ định điều trị u nang thận khi khối u này chèn lên đường tiết niệu hay đường kính của nó quá lớn.

4. Khi nào cần phẫu thuật u nang thận?

Bác sỹ sẽ chỉ định phẫu thuật u nang thận khi nó chèn lên các bộ phận xung quanh hoặc nó quá to. Mổ nội soi hút dịch u nang thận là cách thông dụng hiện nay.

Theo Dantri

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh són tiểu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Són tiểu là khi bệnh nhân không kiểm soát được lúc nào họ đi tiểu.  Kết qủa là họ tiểu són ra quần, nhiều khi phải mang tã khi đi ra đường.  Chứng bệnh ngại ngùng nhưng chữa được.

Chứng bệnh này xẩy ra thường nhất ở những người phụ nữ trên 50 tuổi.  Và cũng có thể xẩy ra ở người phụ nữ trẻ hơn, nhất là trong khi mang thai, hoặc vừa sanh đẻ xong. 

Nên nói với bác sĩ của mình khi bị chứng này.  Nếu không thì lại đâm ra ngượng, không dám đi ra ngoài, gặp bạn bè và gia đình, lại còn bị sải, rôm da và nhiễm trùng đường tiểu.

Các loại són tiểu:

Có tất cả 3 loại:

1.  Són tiểu khi tăng áp lực trong bụng (Stress incontinence):

Triệu chứng này xẩy ra khi áp lực trong bụng dưới đột ngột tăng lên, chẳng hạn như khi ho, cười, khuân nặng hay tập thể thao.  Lý do là vì các bắp cơ khu bàn tọa bị suy yếu, thường là vì sanh đẻ hay sau khi giải phẫu phần hạ bộ.

2.  Són tiểu cấp kỳ (Urge incontinence):

Chứng này xẩy ra khi cơn mắc tiểu xẩy ra cấp kỳ, không kịp thời gian cho người bệnh nhân đi đến nhà cầu.  Triệu chứng này thường xẩy ra ở những người lớn tuổi và có thể là triệu chứng của bệnh nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng thân hay bệnh tiểu đường .

3.  Són tiểu khi đầy bọng đái (Overflow incontinence):

Người bệnh này lúc nào cũng nhỏ giọt nước tiểu.  Chứng này bị gây ra bởi bọng đái bị tràn đầy.  Người bệnh nhân cảm thấy như họ không đi tiểu hoàn toàn được.  Chứng này thường xẩy ra ở người đàn ông vì bị sưng nhiếp hộ tuyến.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH SÓN TIỂU:

Chứng này có thể xảy ra trong khi có thai, khi ho hoặc ách xì, hoặc khi thực hiện một động tác nào đó làm tăng sức ép vào bọng đái (bàng quang). Nó cũng có thể liên quan đến nhiễm trùng đường tiểu, tổn thương của vùng chậu, xạ trị, hoặc gây ra do một số bệnh của hệ thần kinh hoặc các hệ thống khác của cơthể. Rượu, cà phê, và một số thuốc cũng có thể là nguyên nhân hoặc góp phần gây ra tiểu són. Trong một số trường hợp, có người chỉ cần nghe tiếng nước chảy là són tiểu. Trong trường hợp quá sợ hãi, “sợ đến… “tè” ra quần” là chuyện không phải hiếm gặp.

Tiểu són thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn ở nam giới, vì đường tiểu của phụ nữ ngắn hơn của nam giới nhiều. Ở phụ nữ trẻ, nguyên nhân thường gặp nhất là do thiếu sự nâng đỡ ở cổ bọng đái (nơi tiếp giáp của bọng đái với niệu đạo). Ở phụ nữ lớn tuổi, nguyên nhân thường gặp là do bọng đái bị yếu hoặc quá… “hăng hái” .

Ngoài ra còn có những nguyên nhân sau:

- Ở phụ nữ, lớp niêm mạc trong âm đạo bị mỏng và khô, nhất là sau khi tắt kinh nguyệt.

- Ở đàn ông, sưng nhiếp hộ tuyến hoặc sau khi giải phẫu nhiếp hộ tuyến.

- Suy thoái các bắp thịt ở bàn tọa.

- Bị táo bón.

- Tê liệt nằm tại chỗ.

- Nhiễm trùng đường tiểu.

- Bệnh tiểu đường.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH SÓN TIỂU:

Triệu chứng chính của tiểu són, dĩ nhiên là… són tiểu. Sự són nước tiểu này có thể thường xuyên và nhiều, hoặc không thường xuyên và ít. Đối với những người còn hoạt động (đi làm, dự tiệc tùng nhiều), hoặc những người bị són nhiều nước tiểu, ngay cả một lần mỗi tuần (nhất là vào lúc không thích hợp) cũng có thể đã là quá nhiều.

Các triệu chứng có thể đi kèm là:

- Tiểu lắt nhắt hơn một lần mỗi hai tiếng đồng hồ, hoặc trên bảy lần một ngày.

- Phải thức dậy để đi tiểu ít nhất hai lần một đêm.

- Tiểu gắt.

- Đái dầm.

III. XÉT NGHIỆM CHUẨN ĐOÁN CHỨNG SÓN TIỂU:

Để chữa trị thích hợp, bác sĩ sẽ phải hỏi bệnh tỉ mỉ, làm các xét nghiệm thích hợp. Đầu tiên, là bệnh sử của bệnh nhân, ví dụ như:

- Những thuốc gì đang dùng.

- Số lần có thai.

- Có những bệnh gì khác ngoài chứng són tiểu.

- Số lần bị són tiểu và số lượng nước tiểu són mỗi lần, trong vòng 24 đến 72 giờ.

- Số lượng nước và chất lỏng (canh, phở…) dùng trong thời gian đó.

- Các hoạt động, cười, ho… trong hay trước khi bị són tiểu.

- Số lượng cà phê, rượu đã dùng cũng có thể giúp bác sĩ trong việc chẩn đoán són tiểu.

Sau khi hỏi bệnh, bác sĩ sẽ phải khám xem có bệnh tổng quát gì không, khám vùng đi tiểu (vùng chậu – pelvic examination), và làm một số thử nghiệm để đo số lượng nước tiểu mỗi lần đi tiểu và số nước tiểu còn trong bàng quang sau khi đi tiểu.

Xét nghiệm nước tiểu xem có bị nhiễm trùng không, xét nghiệm xem thận có vấn đề gì không, cũng nằm trong số những điều cần phải làm để có chẩn đoán chính xác.

Một số thử nghiệm để xem nước tiểu có bị són ra (khi bọng đái đang đầy) trong lúc ho, đeo tả để xem nước tiểu ra nhiều hay ít, đo áp lực và thể tích của bọng đái khi đầy nước, vân vân là các cách để phân loại tiểu són và có cách trị thích hợp.

Khi đã có chẩn đoán chính xác, sẽ có nhiều cách hiệu quả để điều trị tiểu són.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH SÓN TIỂU:

Đầu tiên, việc đơn giản nhất là trị hoặc tránh các yếu tố có thể góp phần vào việc tiểu són, đái dầm. Ví dụ, như tránh không uống nhiều nước vào buổi tối, giảm bớt rượu, cà phê nếu đó có thể là nguyên nhân. Sau khi kiểm tra các thuốc đang dùng, bác sĩ có thể ngưng hoặc thay các thuốc có thể góp phần vào việc tiểu són.

Tập đi tiểu thường xuyên dù chưa mắc tiểu cũng là một cách để giảm tiểu són. Trong trường hợp tiểu són vì cơ kiểm soát đường tiểu bị yếu, một phương pháp tập luyện các cơ ở vùng chậu (được gọi là Kegel exercises) tương đối đơn giản sẽ được hướng dẫn cho bệnh nhân để làm cho đường tiểu được kiểm soát tốt hơn.

Nếu ho, ách xì… gây ra són tiểu, trị các triệu chứng này cũng sẽ giúp rất nhiều. Một số bệnh khác, tổng quát hay thần kinh, có thể là nguyên nhân, và trị nguyên nhân, nếu được thường là cách tốt để tiệt nguồn gốc của triệu chứng.

Có nhiều thuốc để trị triệu chứng són tiểu. Các thuốc này có thể là thuốc điều khiển sự co bóp của bọng đái; thuốc tăng cường cơ kiểm soát niệu đạo (ống tiểu).

Nếu bị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ kê toa kháng sinh. Đôi khi estrogen cần thiết để làm tăng độ đàn hồi của các cơ bắp ở vùng chậu ở phụ nữ đã mãn kinh. Tuy nhiên, bác sĩ sẽ chỉ dùng khi thật cần thiết và với liều thấp nhất có thể được. Các loại kem estrogen có thể giúp giảm triệu chứng nhiều hơn trong khi ít bị hấp thu vào cơ thể hơn so với các loại estrogen dán hoặc uống.

Một số dụng cụ có thể được dùng để giúp tập cho các bắp thịt ở đường tiểu co bóp hiệu quả hơn.

Cuối cùng, thường thì khi các phương pháp khác đã thất bại, phẫu thuật có thể giúp ích. Phẫu thuật cũng có nhiều phương pháp khác nhau.

Trong nhiều trường hợp, phụ nữ có thể phòng ngừa (hoặc chữa) chứng són tiểu bằng các thể dục đơn giản làm tăng độ dẻo dai và sức mạnh của các bắp thịt xung quanh ống dẫn tiểu, âm đạo và hậu môn (kegel exercises). Bác sĩ và y tá có thể hướng dẫn để tập các thể dục này một cách hiệu quả.

Giảm cân, tập thể dục bụng, giảm ho, tránh nâng vật nặng quá, bỏ hút thuốc, trị bón cũng có thể giúp phòng són tiểu.

Đi tiểu đều đặn dù chưa cảm thấy “mắc tiểu” cũng có thể giúp phòng chứng són tiểu.

Tóm lại, són tiểu là một chứng thường gặp, cũng là một loại bệnh tật như các loại bệnh tật khác. Ta không nên quá mắc cỡ đến nỗi giấu cả bác sĩ, khiến cho bệnh không được chữa trị đúng mức và vào lúc còn nhẹ. Tùy theo nguyên nhân, có nhiều cách từ (thường là) đơn giản đến phức tạp để trị và phòng són tiểu có hiệu quả. Khi có triệu chứng, nên gặp bác sĩ sớm để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

 

Bệnh thoát vị bẹn: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh thoát vị bẹn: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Thoát vị bẹn là tình trạng một tạng trong ổ bụng rời khỏi vị trí chui qua ống benh xuống bìu, là loại hay gặp trong các loại thoát vị thoát vị thành bụng.

Giải phẫu ống bẹn.

Ống bẹn là một đường hần taio nên bởi cân coe thành bụng trước, ống bẹn dài khoảng 6cm tương ứng với ½ trong của đường nối từ gai mu đến điểm cách gai chậu trước trên 1cm về phía trong.

Có 2 lỗ bẹn:

- Lỗ bẹn nông- lỗ bẹn trong

- Lỗ bẹn sâu – lỗ bạn ngoài

Mặt trong của vùng bẹn co động mạch thượng vị, thường đông mạch rốn và dây treo bàng quang đội lá phúc mạc thành nhô lên và tạo thành ba hố bẹn

- Hố bẹn ngoài: Nơi sảy ra thoát vị chéo ngoài, mà tuyệt đại bộ phận là thoát vị bẩm sinh.

- Hố bẹn giữa: Nơi sảy ra thoát vị trực tiếp.

- Hố bẹn trong: Nơi sảy ra thoát vị chéo trong ( hiếm gặp )

Phân loại thoát vị bẹn:
Theo giải phẫu.
a) Thoát vị chéo ngoài:

- Tạng chui ra ở hố bẹn ngoài vào ống phúc tinh mạc để xuống bìu.

- Tuyệt đại đa số là thoát vị bẩm sinh.

- Túi thoát vị nằm trong bao thớ của thường tinh.

b) Thoát vị trực tiếp.

- Tạng chui ra ở hố bạn giữa,

- Là thoát vi mắc phải ( không bao giờ có thoát vị bẩm sinh ở vị trí này.

- Túi thoát vị nằm ngoài bao thớ của thừng tinh.

c) Thoát vị chéo trong.

- Tạng chui ra ở hố bẹn trong.

- Hiếm gặp

I. NGUYÊN NHÂN GÂY THOÁT VỊ BẸN:

a) Thoát vị bẩm sinh:

- Do con tồn tại ống phúc tinh mạc.

- Luôn là thoát vị chéo ngoài

- Thường gặp trong lâm sàng.

- Hay ở trẻ nhỏ và vị thành niên.

b) Thoát vị mắc phải.

- Do cân cơ thành bụng quá nhẽo, yếu, công thêm tác động tăng áp lực đột ngột – ổ bụng

- Ít gặp, thường gặp ở tuổi già.

- Tạng thoát vị chui ra ở hố bạn giữa, là thoát vị trực tiếp.

- Ít bị nghét vì túi thoát vị hình chỏm, mổ hay tái phát.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH THOÁT VỊ BẸN:

Cơ năng.

Xuất hiện khối phồng vùng bẹn – bìu, to ra khi đi lại, lao đông. Nghỉ ngơi mất có thể tự đẩy lên được. Toàn trạng bình thường.

Thực thể.
a. Khối phồng vùng bẹn khám có những đặc điểm:

- Trên nếp nằn bẹn, chạy theo hướng của ống bẹn.

Khối phồng xuông thấp làm bìu to lên nhưng điểm xuất phất vẫn nằm trên nếp lằn bẹn.

- Khối phồng mềm, không dau, căng to hơn khi rặn, ho.

- Dùng tay đẩy nhẹ nhàng từ từ lên khối phồng mất, khi bn rặn hoặc ho khối phồng xuất hiện theo hướng từ trên xuống dưới từ ngoài vào trong.

- Gõ thấy vang khi khối thoát vị là ruột, gõ đặc tạng thoát vị là mạc nối.

b. Lỗ bạn nông rộng

c. Có cảm giác khối ruột chạm vào đầu ngón tay khi luôn tay vào lỗ bạn nông và bao bệnh nhân ho.

III. CHUẨN ĐOÁN THOÁT VỊ BẸN:

Dựa vào triệu chứng ở trên, nhìn chung chẩn đoán thoát vị bẹn dễ. Những trường hợp khó cần phân biệt với một số bệnh sau:

- Tràn dich màng tinh hoàn:

+ Da bìu căng, có dấu hiệu ba động.

+ Không sờ được mào tinh hoàn, không bấm được màng tinh hoàn.

+ Soi đèn pin ánh sáng xuyên qua khối dịch màu hồng nhạt xung quang, giữa tối.

- Giãn tĩnh mạch thừng tinh:

+ Sờ bìu có cảm giác như sờ vào búi giun dưới tay.

+ Dồn khối phồng lên hết, bịt lỗ bẹn nông, cho bn đứng dậy thả tay thấy khối phồng xuất hiện từ dưới lên (nếu từ trên xuống là trong thoát vị bẹn).

- Tinh hoàn lạc chỗ:

+ Không sờ thấy tinh hoàn cùng bên.

+ Gianh giới rõ, mật đọ chắc ấn đau tức.

*Chẩn đoán phân biết giữa thoát vị chéo ngoài và thoát vị trực tiếp

Thoát vị trực tiếp Thoát vị chéo ngoài
Hay gặp ở người già yếu, thường bị cả hai bên Hay gặp ở trẻ tuổi, vị thành niên
Lỗ thoát vị rộng, khối thoát hình chóp, tạng thoát vị có thể là ruột, mạc nối lớn có thể có manh tràng, bàng bang thâm trí cả niệu quản Lỗ thoát vị hẹp
Khối thoát vị chui ra theo hướng từ trong ra ngoài và từ sau ra trước, khối thoát vị đẩy vào dễ dàng Khối thoát vị theo hướng từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài
Dùng ngón tay luồn vào khối thoát vị có thể sờ được đm thượng vị đập ở phía ngoài
Rất ít bị nghẹt, Sau mổ thường hay tái phát Hay bị nghẹt, mổ tái tao thành bụng tốt ít bị tái phát
Mổ thấy búi thoát vị nằm ngoài bao thớ thừng tinh Khối thoát vị nằm trong bao thớ thừng tinh

IV. BIẾN CHỨNG CỦA THOÁT VỊ BẸN:

Thoát vị bẹn khi không được khắc phục băng các biện pháp thì ngày càng to ra, ảnh hưởng ít nhiều đến đi lại sinh hoạt của người bệnh và có thể gặp các biến chứng nguy hiểm là:

- Bị nghẹt

- Viêm dính tạng thoát vị với bao thoát vị

- Chấn thướng khối thoát vị làm tốn thương các tạng trong khối thoát vị.

V. ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN:

Hai phương pháp là đeo băng và phẫu thuật

Đeo băng.

Phương pháp tạm thời không cho tạng xa xuống thêm và chờ phẫu thuật. Đối với trẻ nhỏ đôi khi đeo băng làm khối thoát vị không xa xuống tạo điều kiện cho ống phúc tinh mạc bị bịt lại, cân cơ phát triển có thể khỏi.

Đối với những trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật ( quá già yếu, suy tim mạch..) thì đeo băng liên tục để tránh thoát vị không lơn hơn và tránh nghẹt.

Phẫu thuật.

Là phương phát triệt để, nhằm hai mục đích:

- Tìm khâu cổ túi và cắt túi thoát vị

+ Khâu túi thoát vị ở lỗ bẹn càng cao càng tốt nhưng không được khâu buộc vào ống dẫn tinh.

+ Cắt túi thoát vị nếu bóc tách dễ. Nếu dích nhiều không bóc được thì lộn mặt trong ra và khâu ôm lấy thừng tinh ( lôn bao thoát vị)

- Tái tạo thành bụng: Là thì quan trọng tránh tái phát về sau.

Có nhiều phương pháp tái tạo thành bụng, thành bụng được tái tạo theo hai bình diện nông và bình diện sâu. Tùy vị trí thừng tinh so với hai bình diện ta có các nhóm phương pháp sau:

+ Thừng tinh nằm trước hai bình diện: Phương pháp Halsteck

+ Thừng tinh nằm giữa hai bình diện: Phương pháp Bassini

+ Thừng tinh nằm sau hai bình diện: Phương pháp Forgue, Kimba-rov-ski …

 

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

Bướu thận: Biểu hiện và cách điều trị

B ướu thận có hai loại:

B ƯỚ U LÀNH

Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma . Các loại bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2 cm đường kính. Những bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối thận có bướu đã cắt.

B ƯỚ U ÁC TÍNH

Ở trẻ em:

·       Có nguồn gốc từ trung phôi bào thận nên được gọi là Nephroblastoma hay bướu Wilm . Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp, sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

Ở người lớn:

Bướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz .

I. GIẢI PHẪU VÀ TIẾN TRIỂN CỦA BƯỚU THẬN:

Bướu thường có đường kính trên 3 cm và nằm một trong hai cực của thận. Khi bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, bể thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng thận hư và rối loạn chức năng gan. Ðôi khi bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày , Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào bướu dạng tế bào ống thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.

·       Ngoài ra thận cũng có thể bị di căn từ một bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là bướu phế quản.

·       Di căn của bướu thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BƯỚU THẬN:

Có tam chứng cổ điển là tiểu máu , đaukhối u .

a/ Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị.

b/ Ðau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn . Có thể đau tức vùng hông hay đau bão thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

c/ Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì thận nằm khá sâu và cao, nhất là thận trái.

·       Khi bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.

·       Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch – tĩnh mạch.

·       Ðôi khi bướu thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.

·       Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân, gan lớn ……..

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH BƯỚU THẬN:

a/ UIV: Hình ảnh biến dạng lệch hướng đài bể thận do một khối u từ chủ mô chèn ép.

b/ Siêu âm: Giúp chẩn đoán khác chính xác, cho cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tùy theo độ xâm lấn. Bướu bên thận phải cần xem thêm tĩnh mạch chủ nếu có những nốt ECHO dầy là có thể có xâm lấn. Ngoài ra, trên siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh động mạch chủ do di căn.

c/ Ðộng mạch thận đồ:

Cho thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu vùng bướu.

d/ CT Scan hay Cavography:

Không những giúp chẩn đoán mà còn giúp đánh giá sự xâm lấn hay bành trướng của bướu đến cơ quan lân cận hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

IV. ĐIỀU TRỊ BƯỚU THẬN:

Chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ trọn thận với lớp mỡ quanh thận và nạo hạch nếu cần.

- Nếu bệnh nhân bị b ướ u lành thì chỉcần mổkhi bướu lớn quá, chảy máu hoặc đau. Mổcắt bỏcảthận hoặc một phần thận có bướu tùy tình hình cụthể.

- Nếu bệnh nhân bị ung thư thận thì phải cắt bỏ toàn bộ thận có bướu càng sớm càng tốt. Việc hóa trị và xạ trị sau đó chỉ có tính cách bổ túc mà thôi.

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Bệnh thận: Bạn thuộc nhóm nguy cơ?

Các vấn đề ở thận chẳng chừa bất kỳ ai. Nguyên nhân có thể xuất phát từ 1 bệnh không liên quan hay do gen.

Nếu bạn trả lời “có” cho bất kỳ câu hỏi nào dưới đây, bạn có thể nằm trong nhóm nguy cơ mắc bệnh thận. Hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu được phát hiện sớm, các vấn đề ở thận sẽ không khó giải quyết.

1. Bạn có bị đái tháo đường không?

Khoảng 30-50% trường hợp suy thận là ở người bị bệnh đái tháo đường.

2. Bạn có bị huyết áp cao mà không thể kiểm soát không?

Khoảng 20-25% trường hợp suy thận là do việc kiểm soát huyết áp chưa tốt.

3. Bạn đã từng bị viêm 1 bên thận hơn 1 lần chưa?

Viêm cầu thận không được điều trị và kiểm soát triệt để có thể gây ra 20% trường hợp suy thận (đặc biệt hay gặp ở các nước đang phát triển).

4. Bạn có bệnh thận bẩm sinh như bệnh lý thận IgA, bệnh lý thận có vách hoặc ung thư thận?

Hãy chú ý hơn tới việc kiểm tra sức khỏe .

5. Bạn đã từng dùng ống thông tiểu?

Hãy cảnh giác với bệnh viêm thận và cần chắc chắn là phải điều trị nhanh và triệt để.

6. Bạn đã từng dùng thuốc kháng viêm cho tình trạng đau, viêm hay sốt mỗi ngày trong vài năm nào đó không?

7. Bạn có thừa cân hay bị huyết áp cao không?

8. Mức cholesterol trong máu có cao không?

9. Bạn có thường xuyên bị hít khói có chì hay thủy ngân không?

Translate from: http://www.health32.com/kidney-disease-are-you-at-risk/

Xử trí sỏi bàng quang

Xử trí sỏi bàng quang

Sỏi bàng quang là một bệnh lý của sỏi đường tiết niệu, ngoài những đặc điểm chung của sỏi ở hệ tiết niệu còn có những đặc điểm riêng. Bệnh thường gặp ở nam giới và liên quan đến sự ứ đọng nước tiểu do có chướng ngại ở cổ bàng quang hay niệu đạo.

Những biểu hiện của sỏi bàng quang

Khi có sỏi trong bàng quang, người bệnh xuất hiện tình trạng đi tiểu ngắt quãng. Đó là  người bệnh đang đi tiểu đột nhiên tia tiểu tắc lại và đau dữ dội vùng hạ vị, dương vật, thay đổi tư thế có thể đái được.

Đái rắt tăng số lần về ban ngày do bệnh nhân đi lại vận động, sỏi lăn trong bàng quang gây kích đi đái, khi nghỉ ngơi số lần đi tiểu giảm. Bệnh nhân mót đái thường xuyên, đái rất nhiều lần, mỗi lần chỉ được một ít, thỉnh thoảng lại tắc đái, càng đái rắt lại càng buốt nhiều, càng buốt bao nhiêu lại càng đái rắt bấy nhiêu, đôi khi có đái máu cuối bãi.

Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện sỏi bàng quang khi dùng ống thông sắt có tiếng chạm sỏi. Hoặc thăm trực tràng có thể sờ thấy sỏi to khi bàng quang hết nước tiểu.

Soi bàng quang sẽ giúp cho thầy thuốc biết được chính xác số lượng, hình dáng, kích thước, màu sắc sỏi, qua đó còn có thể phát hiện được các nguyên nhân của sỏi bàng quang như c hay túi thừa bàng quang.

Chụp Xquang vùng chậu hông thấy có hình sỏi bàng quang. Các xét nghiệm nước tiểu cũng cho chúng ta biết thêm được những thông tin cần thiết như có hồng cầu, bạch cầu trong nước tiểu

Vì sao lại hình thành sỏi trong bàng quang?

Bàng quang nằm ở vùng hạ vị là một túi cơ hình bầu dục lúc căng đầy gồm có vùng đỉnh và vùng đáy. Chức năng của bàng quang bao gồm chứa đựng nước tiểu, kìm được nước tiểu và cho thoát nước tiểu theo ý muốn hoàn toàn và thoải mái. Giọt nước tiểu được bài xuất từ thận qua đường dẫn niệu quản xuống, lưu giữ ở bàng quang trước khi được bài xuất ra ngoài qua niệu đạo.

Sự hình thành sỏi chủ yếu là do hiện tượng ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Có thể chia làm 2 loại:

+ Sỏi từ hệ tiết niệu trên (thận, niệu quản) rơi xuống.

+ Sỏi sinh ra tại bàng quang: Do dị vật như chỉ khâu, mảnh đạn, đầu sonde, do quá trình ứ đọng nước tiểu ở bệnh nhân hẹp niệu đạo, u tiền liệt tuyến, chít hẹp cổ bàng quang, túi thừa bàng quang, túi thừa niệu đạo. Thành phần hóa học của sỏi là calci và amoni magie photphat hoặc photphat calci nếu sỏi bị giữ lại ở bàng quang lâu.

Sỏi bàng quang thường tròn, ít khi xù xì góc cạnh, có loại bé như hạt ngô cũng có loại như quả trứng gà hay nắm tay, thường là một viên đôi khi có nhiều hơn. Sỏi thường nằm ở đáy bàng quang di chuyển theo tư thế bệnh nhân. Sỏi nằm lại trong bàng quang làm niêm mạc bàng quang bị tổn thương viêm đỏ và sưng nề, lâu dần gây viêm loét niêm mạc bàng quang dẫn đến viêm hở ở lớp cơ và lớp mỡ quanh bàng quang. Hậu quả là dung tích bàng quang bị thu nhỏ, sức chứa giảm làm giảm khả năng bài tiết của toàn bộ hệ tiết niệu.

Các biện pháp xử trí

Sỏi bàng quang nhỏ từ đường tiết niệu trên rơi xuống có thể điều trị kháng sinh chống viêm, giảm đau, giãn cơ trơn để bệnh nhân đái ra sỏi. Việc điều trị sỏi bàng quang bằng nội soi đã giúp ích rất nhiều cho việc điều trị những viên sỏi bàng quang không đái ra được hay sỏi kích thước nhỏ hơn 3cm. Có thể sử dụng máy tán sỏi cơ học, máy tán sỏi sử dụng sóng xung thủy điện lực (Urat 1) hay máy tán sỏi bằng sóng siêu âm, laser. Mục đích điều trị của máy tán sỏi là tán sỏi thành mảnh nhỏ để bài xuất ra ngoài. Cũng có thể dùng dụng cụ cơ học để bóp nát sỏi dưới sự giám sát của camera đặt ở đầu ống soi.

Việc điều trị phẫu thuật được chỉ định cho những trường hợp sỏi to – sỏi không thể tán được hay sỏi bàng quang có kèm theo hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến, túi thừa bàng quang. Mổ bàng quang lấy sỏi là phẫu thuật đơn giản, ít tốn thời gian nhưng thời gian hậu phẫu thường kéo dài hơn nhiều so với phương pháp tán sỏi nội soi.

Phòng bệnh sỏi bàng quang là việc làm vô cùng cần thiết, vì nguyên nhân gây bệnh thường là do ứ đọng nước tiểu lâu ngày. Do vậy hằng ngày cần uống đủ nước (1,5 lít/ngày) và tránh thói quen nhịn tiểu. Ngoài ra khi có biểu hiện của rối loạn tiểu tiện (đái rắt, đái buốt hay đái ra máu cuối bãi) nên đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa tiết niệu để phát hiện bệnh sớm và điều trị sớm sẽ mang lại kết quả rất tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những biến chứng không đáng có do bệnh sỏi bàng quang gây ra.

(Theo BS. Nguyễn Quốc Vinh // Báo SK&ĐS)

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường (hay còn gọi là đái tháo đường) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn Insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của Insulin.

Đái tháo đường có thể là một bệnh, cũng có thể là một triệu chứng của bệnh nội tiết khác, trong trường hợp này khi chữa khỏi bệnh chính, đái tháo đường sẽ khỏi hẳn.

Bệnh đái tháo đường xảy ra là do rối loạn chuyển hoá chất đường trong cơ thể. Chuyển hoá đường cung cấp phần lớn năng lượng cho cơ thể hoạt động sống hàng ngày; ở tổ chức cơ, tổ chức thần kinh, não thì nguồn cung cấp năng lượng chính là Glucose. Trong cơ thể người, tuyến nội tiết đảm bảo chủ yếu cho chuyển hoá đường là tuyến tuỵ. Tuyến tuỵ vừa là tuyến nội tiết vừa là tuyến ngoại tiết, Tuỵ nội tiết tiết ra nhiều hóc môn trong đó có Insulin. Hóc môn này do các tế bào Bê ta của các đảo Langerhans tiết ra. Insulin là hóc môn tham gia vào quá trình chuyển hoá glucose, khi thiếu nó thí sinh ra bệnh đái tháo đường.

Các dạng tiểu đường

Tiểu đường týp 1 (trước kia thường được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở trẻ em) đặc trưng bởi thiếu sản sinh insulin. Nếu không cung cấp insulin hằng ngày, tiểu đường týp 1 rất dễ gây tử vong.

Các triệu chứng bao gồm đi tiểu nhiều, khát nước, luôn đói, giảm cân, thay đổi thị lực và mệt mỏi. Những triệu chứng này có thể xảy ra đột ngột.

Tiểu đường týp 2 (tên cũ là tiểu đường không phụ thuộc insulin hoặc tiểu đường khởi phát ở người lớn) là do cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin. Tiểu đường týp 2 chiếm khoảng 90% số trường hợp bị bệnh tiểu đường trên toàn thế giới, và phần lớn là do thừa cân và ít hoạt động thể chất.

Các triệu chứng có thể tương tự như triệu chứng của tiểu đường týp 1, nhưng thường ít rõ ràng hơn. Kết quả là, có thể vài năm sau khi khởi phát, bệnh mới được chẩn đoán, khi đó các biến chứng đã xảy ra.

Cho tới gần đây, thể bệnh tiểu đường này chỉ được thấy ở người lớn, nhưng giờ đây nó cũng xảy ra ở trẻ béo phì.

Tiểu đường thai nghén là tình trạng đường huyết cao được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.

Các triệu chứng của tiểu đường thai nghén tương tự như tiểu đường týp 2. Tiểu đường thai nghén thường được chẩn đoán qua khám sàng lọc trước khi sinh thay vì qua các triệu chứng được kể.

Giảm dung nạp glucose (IGT) và giảm đường huyết lúc đói (IFG) là những tình trạng trung gian chuyển tiếp giữa bình thường và tiểu đường. Người bị IGT hoặc IFG có nguy cơ cao tiến triển thành tiểu đường týp 2, mặc dù không nhất thiểt là sẽ như vậy.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường

Các biểu hiện thường gặp:

* Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
* Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
* Đái nhiều
* Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
* Mồm khô, da khô, mệt mỏi
* Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.

Có thể thấy một số biểu hiện khác như:

* Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
* Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
* Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
* Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
* Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
* Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
* Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.

2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):
Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.

3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):
Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.

4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.

5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy: Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.

Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.

6. Ðau chân (foot problems):
Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.

8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.

9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Tiến triển của bệnh

Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:

Biến chứng cấp tính:

Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

Biến chứng hạ đường huyết máu:

Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…

Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:

Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.

Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị , sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.

Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:

Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…

Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.

Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.

Biến chứng mạn tính

Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:

Bệnh lý mạch máu lớn:

Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.

Tổn thương mạch máu nhỏ:

Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.

Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển

Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác

Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.