Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông y. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Điều trị bệnh bạch biến

Điều trị bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.

Bệnh bạch biến

Các đốm trắng này thường gặp ở lưng bàn tay, cổ tay, cẳng tay, mặt,cổ, lưng, vùng sinh dục nhưng không bao giờ người ta thấy bạch biến ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, niêm mạc (có lẽ do các vùng này không có lông chăng?)

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân gây bệnh bạch biến hiện nay chưa rõ, người ta cho rằng bệnh bạch biến là một bệnh tự miễn khiến các tế bào sắc tố bị phá hủy. Bệnh bạch biến có tính chất di truyền vì có khoảng 30% người bị bạch biến có người trong gia đình cũng bị bệnh này.

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh bạch biến phát sinh:

- Do stress: căng thẳng tinh thần trong cuộc sống, chấn thương tâm lý (sau tai nạn, sau thảm họa, người thân bị mất…)

- Do tiếp xúc với hóa chất: như phenol, thiol.

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh khác như: bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, thiếu máu ác tính…

Điều trị:

Vì chưa biết nguyên nhân nên hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (cả đông y lẫn tây y) bệnh bạch biến. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:

- Quang hóa trị liệu: dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh sáng như uống hoặc bôi Psoralen + chiếu tia tử ngoại.

- Bôi corticoid để làm giảm miễn dịch tại chỗ da bị bạch biến.

- Nếu các phương pháp trên thất bại người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố.

- Nên có cuộc sống thoải mái, yêu đời, ăn ngủ, làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, tránh những căng thẳng trong cuộc sống. Việc điều trị rất lâu dài nên phải kiên trì, không nóng vội, nên lạc quan tin tưởng vì nếu thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG – Chuyên khoa bác sĩ gia đình, TT Y tế quận I

Ý kiến bạn đọc:

Bạn đọc: Trần Thị Kim Thoa
ĐT: 0986419986
Địa chỉ: P 209 B4 – Tập thể Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội.
Email: suongnguyentieu11246@yahoo.com.vn

Tôi đã đọc về các phương pháp chữa trị căn bệnh bạch biến, và tôi muốn đưa ra bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này:

Trước đây, khi 14 tuổi, tôi cũng đã bị bệnh này, nó ở trên đầu, có cảm giác hơi ngứa, màu da đầu chuyển sang bệch bệch và hơi hồng, tóc chỗ đó bị rụng gần hết. Tôi đã đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, bệnh viện của trường Đại học Y Thái Bình và cả mấy thầy Đông Y nổi tiếng ở vùng đó. Các bác sỹ đều kết luận là bệnh bạch biến và nói có uống thuốc cũng chỉ là thử nghiệm chứ chưa chắc đã khỏi được bệnh. Cho nên lúc đó tôi uống khá nhiều thuốc và chỉ toàn là thuốc bổ, cùng với Hà thủ ô. Khi về nhà, mẹ tôi mới nhớ ra chai thuốc Nam đã ngâm rượu từ lâu và lấy ra dùng. Vì có lần mẹ tôi đã nghe được các thầy lang nói rằng: lấy củ Riềng già, thái  mỏng phơi nắng, và đem sao vàng để nguội, sau đó ngâm với rượu trắng để trong thời gian 2- 3 tháng sau đó lấy ra xát vào da nơi nào bị bạch biến, hoặc lang ben thì sẽ chữa khỏi.

Sau một thời gian uống thuốc và xát nước riềng hàng ngày thì tóc tôi đã mọc trở lại, và bệnh cũng đã khỏi hẳn cho đến nay. Tôi nghĩ rằng, rất có thể phương thuốc dân gian này lại có tác dụng với những bệnh nhân bị bạch biến. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho nhiều người.

Theo Tuổi trẻ

Bệnh da mùa nóng

Bệnh da mùa nóng

Mùa nóng trẻ dễ bị hăm, nhọt, nấm do đổ mồ hôi nhiều vì trẻ bị ủ ấm và mặc tã giấy lâu. Có trẻ nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng máuTrong những ngày gần đây, nhiệt độ cao nhất trong ngày dao động từ 35 o C – 37 o C. Thời tiết nóng nực làm cho cả trè em lẫn người lớn đều rất dễ mắc các bệnh về da, nhất là nhiễm trùng da.

Trẻ nhiễm trùng da do bị ủ ấm

Tại Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 2 TP.HCM, các bác sĩ thường gặp nhất là trẻ bị nhọt và hăm, lở các kẽ da do thời tiết nóng. Bác sĩ Nguyễn Thanh Hương, Trưởng Khoa Nội Tổng hợp, cho biết mặc dù trời nóng, nhưng còn rất nhiều bà mẹ khi thấy con ho, sổ mũi là lại mặc cho con áo trong, áo ngoài, vớ, nón đầy đủ. Trong khi đó, các bé ra mồ hôi nhiều sẽ ngứa ngáy, gãi nhiều, thêm vào đó da trẻ mỏng, mẫn cảm nên dễ bị đỏ, ngứa nhưng các bé chưa tự vệ sinh cá nhân được nên rất dễ nhiễm trùng da. Đầu tiên chỉ là những mụn rôm sảy nhỏ, vết xước trên da hoặc đôi khi chỉ là nốt muỗi đốt nhưng khi bội nhiễm sẽ trở thành nhọt, cụm nhọt nhiều nhất là ở vùng đầu, mặt, cổ.

Các bà mẹ không để ý hoặc cho rằng không sao, nhưng vài ba ngày sau, thấy bé đỏ da toàn thân kèm sốt, sưng hết mặt và toàn thân, thậm chí khi các bà mẹ phát hiện thì các mụn đỏ đã trở thành những mụn mủ sưng tấy ở xung quanh, nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng máu đòi hỏi điều trị khá tốn kém, thời gian chăm sóc rất lâu. Đã có những bệnh nhân bị đa nhọt, viêm mô tế bào ăn sâu vào trong da.

Còn đối với nhũ nhi, các bà mẹ lại hay có thói quen mang tã giấy cho tiện lợi nên bé dễ bị hăm, lở vùng bẹn, bìu, kèm nhiều mụn ở mông, thêm trời nóng kết hợp với phân và nước tiểu sẽ làm da bé bị nhiễm trùng. Trường hợp các bé bị thủy đậu (trái rạ), nhiều bà mẹ còn thói quen cử nước cử gió, bắt bé mặc đồ quá kín nên các nốt phỏng bị bội nhiễm mưng mủ và làm cho bệnh càng nặng hơn… Bác sĩ Nguyễn Thanh Hương khuyên các bà mẹ nên nhớ  vệ sinh da thường xuyên, nhất là sau khi bé tiêu tiểu; không dùng những loại xà bông có độ tẩy cao; trẻ cần được giữ vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng, tắm rửa và thay quần áo. Chú ý lau thật khô, thay tã thường xuyên và không quên thoa phấn cho trẻ.

Đặc biệt khi da bé bị bệnh cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng một loại thuốc bất kỳ nào đó bôi lên da trẻ bởi vì nếu sử dụng không đúng chỉ định, bệnh không bớt mà có thể nặng hơn hoặc có khi làm trẻ bị ngộ độc.

Người lớn dễ bị nấm da và mụn

Còn ở người lớn, theo bác sĩ Trần Ngọc Ánh, Khoa Khám bệnh - BV Da liễu, bệnh da liễu thường gặp vào mùa nóng là nấm (lác đồng tiền), đặc biệt là nấm kẽ tay, kẽ chân ở những người làm việc trong môi trường ẩm, thường xuyên tiếp xúc với nước. Những người mang giày kín suốt ngày, không thay vớ thường xuyên cũng tạo điều kiện cho bệnh nấm chân xuất hiện. Triệu chứng thường thấy là ở bàn chân hoặc gót chân có những mảng da màu đỏ, vết nứt hay những mụn nước. Nếu bệnh nhân phát hiện và điều trị sớm, bệnh sẽ không ảnh hưởng nhiều nhưng nếu tiếp tục tiếp xúc với không khí ẩm có thể bị bội nhiễm làm bàn chân sưng tấy, có mụn mủ, bóng mủ và kèm theo sốt.

Bác sĩ Nguyễn Văn Út, Phòng Khám Da liễu - BV Nguyễn Tri Phương, cũng ghi nhận bệnh nấm kẽ chân thường gặp ở nam, viêm kẽ thường gặp ở các kẽ ngón, đặc biệt kẽ ngón 4 và 5. Tổn thương trên có thể bị bội nhiễm vi khuẩn có mụn mủ, bóng mủ, sưng tấy bàn chân, nổi hạch háng và sốt. Còn nấm bẹn cũng xuất hiện ở nam nhiều nhưng tập trung ở những người thường xuyên  đổ mồ hôi nhiều hay mặc đồ ẩm ướt. Sang thương thường ở nếp gấp hai bên đùi. Từ một bên bẹn, nấm lan sang bên kia lên mông, thắt lưng và bệnh nhân thấy ngứa khi ẩm ướt. Còn nấm thân là những đốm hồng ban, có mụn nước ở rìa, gây ngứa nhiều khi ra nắng hoặc khi ra mồ hôi. Đối với những người đang có mụn, thời tiết nóng cũng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng hơn nếu giữ vệ sinh kém.

Không nên tự ý thoa thuốc

Những bệnh ngoài da không nặng nhưng diễn tiến nhanh trong môi trường ẩm ướt và bội nhiễm nặng do thiếu vệ sinh. Bác sĩ Trần Ngọc Ánh khuyên mọi người cần giữ cơ thể khô, thoáng vào mùa nóng, tránh tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong môi trường ẩm. Nấm được điều trị chủ yếu bằng thuốc, bệnh thường kéo dài đòi hỏi người bệnh cần kiên nhẫn. Bác sĩ Nguyễn Văn Út cũng khuyến cáo khi phát hiện những đốm tổn thương hay những vết ngứa trên da cần đi bác sĩ ngay, không nên gãi sẽ làm vết loét rộng hơn. Khi đó, việc điều trị sẽ kéo dài, có khi hàng tháng trời, chưa kể khi lành vết thương có thể  để lại sẹo. Đặc biệt, những người thường tiếp xúc với ánh nắng mùa nóng thì vết thương càng dễ bị thâm khi lành. Ngoài ra, nên tránh dùng thức ăn kích thích, cay  nóng. khi thấy ngứa, nổi mụn thì không nên tự ý mua thuốc để uống và bôi theo kinh nghiệm bản thân hoặc do bạn bè, người thân mách bảo.

Theo Người lao động

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bệnh tổ đỉa

Bệnh tổ đỉa

1.Chẩn đoán:

- Vị trí: 2 lông bàn tay, lông bàn chân (đầu ngón, mặt dưới, mặt dưới ngón, ria ngón, vòm lòng bàn tay, ô mô cái, ô mô út, vòm lông bàn chân0.

- Tổn thương cơ bản:

Mụn nước sâu, chìm dưới da, như khảm vào da, kích thước 1-2 mm, không tự vỡ.

Mụn nước phân bố rải rác hay thành đmá cụm.

Triệu chứng cơ năng:

- Ngứa nhiều:

- Hay tái phát, thường tái phát vào mùa hè.

- Do ngứa chọc gãi làm xuất hiện mụn mủ, vết chợt, bàn tay chân có khó sưng táy nhiễm khuẩn thứ phát, hạch nách, bẹn sưng ( tổ đỉa nhiễm khuẩn).

2. Thể lâm sàng

- Tổ đỉa thể giản đơn: tổn thương là mụn nước sâu ở vị trí trên.

- Tổ đỉa nhiễm khuẩn: có mụn mủ, chợt loét, sưng viêm tấy.

- Tổ đỉa thể khô: lòng bàn tay chân có đảm đỏ róc vẩy.

3. Chẩn đoán phân biệt

+ Ghẻ:

Vị trí kẽ ngón tay, ngấn cổ tay.

Tổn thương là mụn nước đường hang.

Nhể khêu bắt được cái ghẻ.

Ngứa nhiều về đêm.

Có tính chất lây lan.

+ Eczema bàn tay, bàn chân:

Vị trí thường ở mặt lưng (mu) bàn tay chân.

Đám đỏ, nên có mụn nước nhỏ, nông chi chít, tự vỡ.

Đám tổn thương chợt chảy dịch.

Lâu ngày liken hoá dày cộm.

(tổ đỉa không bào giờ liken hoá).

4. Điều trị

- Tại chỗ:

+ Mụn nước đơn thuần bôi cồn focmolsalicylic 3%.

Mụn mủ, chột bôi thuốc màu(dd tím Metin 1% , dd xanh metilen 1%).

Khi tổn thương khô bỗi mỡ corticoids (Flucinar, synalar)

Toàn thân:

- Nếu có bội nhiễm cho uống một đợt kháng sinh.

- Kháng sinh Histamin tổng hợp: Histalong 10 mg /1 viên /ngày.

- Vitamin c 0,50 2 viên/ ngày hoặc ascorvit 500mg 2ống/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

- Đông y : xông khói thương truật 5 phút ( bàn tay, bàn chân).

Chú ý: Giữa bàn tay bàn chân khô sạch.

Hạn chế xà phòng.

Trách nhiệm ngâm nước nhiều, bẩn, phân gio đất cát.

- Một số trường hợp tổ đỉa căn nguyên do nấm thì cho dùng kháng sinh chống nấm Griseofulvin 0,502 viên / ngày x 30ngày.

- Tổ đỉa là bệnh dị ứng, cơ thể địa dị ứng, tác nhân kích thích là vi khuẩn ( tụ cầu, liên cầu) : hoá chất; một số trường hợp là nấm.

Theo benhhoc.com

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Những ngày qua, tại các phòng khám da liễu của các bệnh viện, bệnh nhân đến khám do sẩn ngứa ngoài da tăng đột biến. Để có cái nhìn toàn diện về căn bệnh ngứa da, chúng tôi xin đăng bài viết của PGS.TS. Bùi Khắc Hậu để bạn đọc tham khảo.

Ngứa da là một triệu chứng thường gặp với nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Khi ngứa, người bệnh sẽ gãi làm xây xước da, chảy máu gây nhiễm trùng mưng mủ hoặc ngứa, gãi tạo thành các nốt sẩn, mụn nước, khi khỏi ngứa thường để lại các nốt thâm, thậm chí để lại các nốt sẹo nhỏ. Nguyên nhân gây nên ngứa có thể ở ngay ngoài da hoặc có thể ở bên trong nội tạng của cơ thể.

Nguyên nhân ở ngoài da:

Bệnh viêm da dị ứng: Trong các bệnh viêm da dị ứng có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có viêm da do tiếp xúc thường hay gặp. Viêm da tiếp xúc là do dị ứng nguyên khi gặp kháng thể gây nên hiện tượng phản ứng biểu hiện là viêm da và gây ngứa, ví dụ viêm da dị ứng ở một số người do đeo quai đồng hồ bằng da hoặc bằng nhựa hoặc viêm quanh thắt lưng quần do giây chun bằng cao su. Cũng có một số người dị ứng với da hoặc cao su nên không đi dép da hoặc dép nhựa được vì hễ mỗi lần đi dép vào là ngứa da vùng tiếp xúc trực tiếp tạo nên phản ứng gây ngứa.

Bệnh mề đay: Mề đay là một bệnh dị ứng da do tiếp xúc với thời tiết lạnh hoặc do ăn, uống với chất hay gây dị ứng ở một số người như tôm, cua, ốc, mắm tôm… Đây là những chất đóng vai trò là dị ứng nguyên khi gặp kháng thể có sẵn trong máu bệnh nhân sẽ gây nên hiện tượng dị ứng. Bệnh mề đay thường xảy ra ngứa đột ngột, dữ dội tại một vùng da nào đó hoặc có khi gần khắp da cơ thể như cánh tay, bụng, đùi, cẳng chân. Đôi khi bệnh mề đay còn xảy ra ở niêm mạc làm sưng mắt, môi, thậm chí gây viêm niêm mạc ruột gây đau bụng, tiêu chảy, viêm, phù thanh quản. Người ta gọi là nổi mề đay vì nổi lên các nốt sẩn, ngứa. Trong bệnh mề đay điển hình nhất là ngứa, người bệnh càng gãi càng ngứa. Các sẩn ngứa to, nhỏ khác nhau đôi khi tạo thành từng mảng. Viền của sẩn ngứa mề đay có màu hồng, trung tâm của sẩn ngứa có màu nhạt hơn.

Bệnh nấm da : Viêm da do nấm là bệnh nói chung, nhưng do nhiều loài nấm khác nhau gây nên (nấm thân, nấm kẽ, nấm móng, nấm tóc…). Mỗi một loài nấm gây bệnh cho da được gọi các tên khác nhau. Bệnh nấm da cũng gây nên ngứa làm cho bệnh nhân rất khó chịu, ví dụ bệnh hắc lào. Bệnh hắc lào là do nấm thân gây nên. Đầu tiên là ngứa vùng bị bệnh, sau đó thấy một vệt màu hơi đỏ, có viền, bờ rõ rệt, trên viền có các mụn nước lấm tấm. Viền này càng ngày càng lan rộng tạo thành nhiều hình vòng cung. Do người bệnh bị ngứa, gãi làm lây lan ra nhiều vùng da khác trên cơ thể. Bệnh hắc lào là bệnh lây từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn tắm, ngủ chung giường, chiếu… Muốn phòng bệnh hắc lào cần vệ sinh cá nhân tốt. Không dùng chung quần áo, chiếu, khăn và không nằm chung giường với người bị bệnh hắc lào. Khi nghi bị bệnh hắc lào nên đi khám để được xác định và điều trị dứt điểm tránh lây lan cho người khác.

Bệnh lang ben : là một bệnh do nấm gây ra và cũng gây ngứa ghê gớm. Bệnh gây ngứa đặc biệt là khi người bệnh ra nhiều mồ hôi nhất là khi trời nắng. Bệnh lang ben hay gặp ở cổ, vai, ngực, bụng, cánh tay. Bệnh lang ben cũng lây lan từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn mặt, ngủ chung giường… Khi bị lang ben rất nên đi khám bệnh để được làm các xét nghiệm xác định nấm và trên cơ sở đó người thầy thuốc sẽ cho thuốc điều trị thích hợp và tư vấn sát với thực tế hơn.

Gầu da đầu : Ở người nhiều gầu thường kèm theo ngứa da đầu. Gầu là hiện tượng viêm da làm bong lớp sừng ở da vùng đầu. Hiện nay có nhiều loại dầu gội đầu khác nhau và tùy thuộc vào da đầu của từng người. Vì vậy khi bị gầu nên chọn loại dầu gội thích hợp với da đầu của mình mới hy vọng làm giảm hoặc hết gầu.

Nguyên nhân từ trong nội tạng của cơ thể.

Dị ứng thuốc: ngày nay hiện tượng dị ứng thuốc là điều làm cho thầy thuốc hết sức quan tâm. Loại thuốc nào cũng có thể gây nên dị ứng tùy từng cơ địa của từng người (để cả thuốc Tây y và đông y ). Khi dị ứng thuốc, ngoài các triệu chứng khác thì ngứa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao.

Bệnh giun sán: Khi mắc bệnh giun, sán thì ngoài rối loạn tiêu hóa có thể có triệu chứng ngứa và nổi mẩn ngoài da. Những trường hợp này người ta ít nghĩ tới chỉ khi đi khám bệnh, xét nghiệm phân mới tìm ra được nguyên nhân và thầy thuốc mới có chỉ định dùng thuốc tẩy giun đúng loại. Song song với việc tẩy giun cần ăn uống hợp vệ sinh, không ăn rau sống và uống nước lã để đề phòng mắc bệnh giun tái phát.

Mắc bệnh tiểu đường (đường máu tăng cao): thường có sụt cân, ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều kèm theo có thể có ngứa da. Do ngứa nên gãi nhiều làm xây xước da gây nhiễm khuẩn. Mắc bệnh tiểu đường cần ăn kiêng một số thực phẩm như đường, các loại nước giải khát có đường, bia, rượu, chuối chín. Nên tập thể dục đều đặn. Cần vệ sinh da thật tốt để tránh nhiễm khuẩn.

Bệnh về gan, mật: Các bệnh về gan mật làm tắc mật làm vàng da và gây ngứa. Khi ngứa mà tìm các loại nguyên nhân chưa xác định được thì cần kiểm tra chức năng và kiểm tra gan, mật để xem có viêm nhiễm, sỏi, u hay không. Viêm gan thì có nhiều nguyên nhân nhưng hay gặp nhất là viêm gan do virut và viêm gan do rượu. Muốn phòng tránh viêm gan do virut (virut viêm gan A,B,C) cần được tiêm phòng. Cần bỏ rượu, đặc biệt khi đã có hiện tượng viêm gan bất kỳ do nguyên nhân gì.

Như vậy, muốn hết bệnh ngứa cần tìm nguyên nhân, khi đã biết chắc chắn nguyên nhân của nó thì việc điều trị sẽ có nhiều thuận lợi cho dù là nguyên nhân bên trong cơ thể hay nguyên nhân ngoài da.

Theo suckhoedoisong.vn

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Trời lạnh, bệnh mày đay hành người

Những ngày qua, khí hậu các tỉnh phía Bắc trở rét, hanh khô kéo dài khiến nhiều người có biểu hiện da khô ráp, nổi sẩn và ngứa.

Bác sĩ Nguyễn Thành, Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Da liễu Quốc gia cho hay, một ngày khoa tiếp nhận trên 15 bệnh nhân đến khám liên quan đến bệnh mày đay – một bệnh thường xảy ra vào những ngày mùa đông hanh khô.

Trên thực tế số người mắc các bệnh về da vào mùa đông rất cao nhưng không phải ai cũng đến viện khám. Đây là bệnh do thời tiết nên có thể tự điều trị tại nhà.

Ngứa khắp người, gãi xước da

”Mỗi lần tắm xong, mặc quần áo vào, nhất là đồ len dạ, cảm giác người nóng ran và ngứa khắp người, những lúc đó chỉ còn cách dùng kem dưỡng ẩm bôi lên mới hy vọng dứt cơn ngứa…”, chị Mai Dung, ở Hoàng Mai, Hà Nội đang ”say sưa” kể về nỗi khổ của mình với đồng nghiệp.

Hoá ra nỗi khổ đó không chỉ riêng của chị Dung mà nhiều người cũng bị trong những ngày qua. Người thì ngứa ở lưng, ở tay, ở chân… thậm chí cả mông.

Còn bàn tay của chị Hương, chủ cửa hàng làm đầu Thu Hương trên phố Cầu Giấy, Hà Nội mấy hôm nay đỏ tấy, khô ráp và ngứa. Công việc hàng ngày đòi hỏi chị phải tiếp xúc nhiều với hoá chất như dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc, hấp tóc… khiến đôi bàn tay bị ”xâm hại”. ”Sử dụng găng tay thì không thật và làm rất chậm nhưng bỏ ra thì bàn tay nứt nẻ hết. Ban ngày động nước nhiều còn đỡ nhưng tối đến nó khô hết lại cảm giác rát bỏng và ngứa hành hạ rất khó chịu. Kem dưỡng ẩm bôi không đỡ vì thời tiết này khô hanh quá lại tiếp xúc với hoá chất quá nhiều”, chị Hương nói.

Tất cả đều có chung biểu hiện lúc đầu là khô da rồi dần dần căng ra gây ngứa. Nếu cố chịu đựng không gãi, sử dụng kem dưỡng ẩm sẽ đỡ. Nhưng khi đã gãi thì vết mẩn đỏ càng lan và gây khó chịu. Tuy nhiên, khi thời tiết ấm, đỡ hanh khô thì tình trạng trên sẽ tự hết.

BS. Nguyễn Thành cho hay, đây là bệnh rất nhiều người mắc phải vào mùa đông, nhất là thời điểm hanh khô. Những bệnh nhân có cơ địa da khô càng dễ phát. Phản ứng của người bệnh khi bị khô da là ngứa, gãi gây xước da.

Cách chữa đơn giản và hiệu quả nhất mà mọi người thường áp dụng là hạn chế sử dụng nước quá nóng, tiếp xúc với hoá chất, đặc biệt nên sử dụng kem dưỡng ẩm.

Khô ráp da còn do bệnh mày đay

Theo BS. Nguyễn Thành, một trong những nguyên nhân bệnh mày đay gia tăng những ngày qua do biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn.

Người bệnh thường có biểu hiện da đỏ, xuất hiện phù nề nhanh nhưng cũng mất nhanh phụ thuộc vào khả năng điều trị.

Bệnh mày đay có 2 thể: cấp tính và mạn tính.

Mày đay cấp tính xảy ra đột ngột và xuất hiện ở bất kỳ vùng da, niêm mạc nào trên cơ thể, biểu hiện các nốt sẩn, phù nề màu hồng hoặc đỏ. Ngứa là triệu chứng điển hình nhất của mày đay. Ngứa rất dữ dội, càng gãi càng ngứa. Có khi gãi chảy máu vẫn không đỡ ngứa. Nốt sẩn ngứa kéo dài vài ba phút đến vài ba giờ rồi lặn. Bệnh có thể biểu hiện ở đường tiêu hóa gây đau quặn bụng, nôn, tiêu chảy, thậm chí xảy ra ở tổ chức não gây phù nề rất nguy hiểm.

Mày đay mạn tính xảy ra khi bệnh xuất hiện kế tiếp nhau nhiều lần hoặc cách quãng, không kể số lượng nốt sẩn nhiều hay ít. Mày đay mạn tính gặp ở nhiều dạng khác nhau như: mày đay thành vòng, thành vạch, mày đay xuất huyết, mày đay mụn nước.

Trong tuần này, khoa khám bệnh đã điều trị cho một bệnh nhân N.T.P. 35 tuổi, ở Hà Nội mắc mày đay mạn tính. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau bụng, nôn. Các cơn đau không liên tục mà theo từng đợt. Sau khi khám và cho thuốc uống thể trạng bệnh nhân đã khá hơn và được xuất viện ngay trong ngày.

BS. Nguyễn Thành cho hay, trường hợp như bệnh nhân này không phải ai cũng gặp. Tuy nhiên, khi bị bệnh mày đay, nên đến khám bác sĩ để được xác định nguyên nhân và có chỉ định thích hợp cho từng loại mày đay.

Những ngày này, khi độ ẩm xuống thấp, thời tiết hanh khô gây khó chịu cho làn da.

BS. Nguyễn Thành có lời khuyên với mọi người, nếu phải ra đường nên dùng khẩu trang, mũ và sử dụng kem dưỡng da trước khi ra đường 1 tiếng đồng hồ. Khi thấy da khô vùng nào có thể dùng kem bôi lên chỗ đó. Nếu người nào có da nhạy cảm không nên tiếp xúc nhiều với hoá chất, nếu buộc phải dùng nên đi găng tay. Với những trường hợp nặng, nên đến khám bác sĩ khi có biểu hiện ngứa.

Theo vietnamnet.vn

Phù

Phù

Phù! Phù sưng các tế bào dưới da, căng hoặc da sáng bóng, võng xuống sau khi ép vài giây…Hãy gặp bác sỹ khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi: Khó thở, đau ngực, phù phổi là bệnh có khả năng đe dọa tính mạng…

Định nghĩa

Phù thũng là sưng phù nề gây ra bởi chất lỏng dư thừa bị mắc kẹt trong các mô của cơ thể. Mặc dù phù có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần của cơ thể, nhưng nó thường được nhận thấy ở bàn tay, cánh tay, bàn chân, mắt cá chân và chân.

Phù nề có thể là kết quả của điều kiện y tế cơ sở, thuốc nhất định hoặc mang thai.

Xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản của phù là chìa khóa để có hiệu quả kiểm soát nó. Các biện pháp tự chăm sóc cùng với thuốc loại bỏ nước thừa thường có hiệu quả có thể điều trị phù nề.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của phù nề bao gồm:

Sưng các tế bào dưới da (dưới mô da).

Căng hoặc da sáng bóng.

Da giữ lại võng xuống sau khi bị ép vài giây.

Tăng kích thước bụng.

Gặp bác sĩ khi

Hãy gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù nề, như sưng phù kéo dài hoặc sáng bóng hoặc da giữ lại võng xuống sau khi bị ép.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phù trong phổi (phù phổi) bao gồm:

Khó thở.

Đau ngực.

Phù phổi là một bệnh có khả năng đe dọa tính mạng. Chẩn đoán và điều trị phù phổi khác với các hình thức phù nề.

Nguyên nhân

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.

Ăn quá nhiều thức ăn mặn.

Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.

Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).

Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).

Chống viêm không steroid (NSAIDs).

Estrogen.

Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.

Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

Suy tim xung huyết.

Xơ gan.

Bệnh thận.

Hội chứng thận hư.

Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).

Huyết khối tĩnh mạch sâu.

Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

Ngày càng sưng đau.

Khó khăn đi bộ.

Độ cứng.

Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.

Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.

Sẹo giữa các lớp của mô.

Xơ các mô.

Giảm lưu thông máu.

Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.

Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu.

Xét nghiệm máu.

Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.

Chụp X – quang.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Theo Dieutri.vn

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận

Viêm đài bể thận! Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Định nghĩa

Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại hình cụ thể của nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu vào niệu đạo hoặc bàng quang và đi lên thận.

Một bệnh thận đòi hỏi phải được chăm sóc y tế . Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng thận vĩnh viễn có thể làm hỏng thận, lây lan đến máu và gây ra nhiễm trùng đe dọa tính mạng.

Nhiễm trùng thận điều trị thường bao gồm thuốc kháng sinh và thường đòi hỏi phải nhập viện.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận có thể bao gồm:

Sốt.

Đau bên (sườn) hoặc háng.

Đau bụng.

Thường xuyên đi tiểu.

Mạnh mẽ, liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Cảm giác nóng hoặc đau khi đi tiểu.

Mủ hoặc máu trong (tiểu máu) nước tiểu.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng. Cũng làm cho một cuộc hẹn nếu đang điều trị cho một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng không được cải thiện.

Nhiễm trùng thận nặng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có triệu chứng nhiễm trùng thận điển hình kết hợp với nước tiểu có máu hay buồn nôn và ói mửa.

Nguyên nhân

Nhiễm trùng thận thường xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu thông qua niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Vi khuẩn từ một bệnh nhiễm trùng ở nơi khác trong cơ thể cũng có thể lan truyền qua máu đến thận. Nhiễm trùng thận là bất thường thông qua tuyến đường này, nhưng nó có thể xảy ra trong một số trường hợp – ví dụ, khi một cơ quan ngoại lai, chẳng hạn như khớp nhân tạo, van tim bị nhiễm bệnh. Hiếm khi kết quả nhiễm trùng sau khi phẫu thuật thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thận bao gồm:

Nữ – giải phẫu. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thận hơn so với nam giới. Một người phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nhiều so một người đàn ông, do đó, vi khuẩn có ít khoảng cách để di chuyển từ bên ngoài cơ thể đến bàng quang. Những nơi gần niệu đạo vào âm đạo và hậu môn cũng tạo ra nhiều cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. Một khi một bệnh nhiễm trùng trong bàng quang có thể lây lan đến thận.

Tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Bất cứ điều gì cản trở dòng chảy của nước tiểu, làm giảm khả năng hoàn toàn trống rỗng bàng quang khi đi tiểu, chẳng hạn như sỏi thận, bất thường cấu trúc trong hệ thống tiết niệu, hoặc ở nam giới, một tuyến tiền liệt mở rộng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận.

Làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều kiện y tế làm suy yếu hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như ung thư, tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch vi rút ở người (HIV), làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Một số thuốc như thuốc dùng để ngăn chặn từ chối của các cơ quan cấy ghép có tác dụng tương tự.

Thiệt hại cho dây thần kinh xung quanh bàng quang. Dây thần kinh hoặc tổn thương tủy sống có thể ngăn chặn các cảm giác của một nhiễm trùng bàng quang, để không biết khi nó tiến tới một bệnh nhiễm trùng thận.

Kéo dài việc sử dụng một ống thông tiểu. Ống thông tiểu là ống dùng để thoát nước tiểu từ bàng quang. Có thể có một ống thông được đặt trong bàng quang  trong và sau khi một số thủ tục phẫu thuật và xét nghiệm chẩn đoán. Một ống thông có thể được sử dụng liên tục.

Một điều kiện mà nguyên nhân nước tiểu chảy không đúng cách. Trong trào ngược bàng quang niệu quản (vesicoureteral), số nhỏ dòng nước tiểu từ bàng quang trở lại lên niệu quản và thận. Những người bị trào ngược vesicoureteral có thể bị nhiễm trùng thận thường xuyên trong thời thơ ấu và có nguy cơ cao mắc bệnh thận trong cả tuổi thơ và tuổi trưởng thành.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh nhiễm trùng thận có thể dẫn đến khả năng biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Suy thận. Một bệnh thận có thể dẫn đến tổn thương thận thường là nguyên nhân gây suy thận mãn tính.

Ngộ độc máu (nhiễm trùng huyết). Thận lọc chất thải khỏi máu và sau đó trở lại trong máu với phần còn lại của cơ thể. Nếu có một nhiễm trùng thận, vi khuẩn có thể lây lan.

Biến chứng mang thai. Phụ nữ phát triển một nhiễm trùng thận trong thai kỳ có thể có tăng nguy cơ mang thai em bé nhẹ cân.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể nghi ngờ có một nhiễm trùng thận dựa trên dấu hiệu và triệu chứng như sốt và đau lưng. Nếu bác sĩ nghi ngờ có mắc bệnh thận, người đó có thể sẽ yêu cầu một mẫu nước tiểu để xác định xem vi khuẩn, máu hoặc mủ trong nước tiểu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Thuốc kháng sinh cho bệnh thận

Kháng sinh là những dòng đầu tiên của việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thận. Những loại thuốc sử dụng và trong bao lâu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe   và các vi khuẩn tìm thấy trong xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng thận bắt đầu rõ ràng thuyên giảm trong vòng một vài ngày điều trị. Nhưng có thể cần phải tiếp tục dùng kháng sinh cho một tuần hoặc lâu hơn. Dùng toàn bộ khóa điều trị của thuốc kháng sinh được đề nghị của bác sĩ để đảm bảo rằng nhiễm trùng là hoàn toàn loại bỏ.

Các bệnh nhiễm trùng thận nặng

Đối với một nhiễm trùng thận nặng, bác sĩ có thể thừa nhận đến bệnh viện . Điều trị ở bệnh viện có thể bao gồm thuốc kháng sinh nhận được thông qua một tĩnh mạch ở cánh tay (tĩnh mạch). Bao lâu sẽ ở lại trong bệnh viện phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng.

Điều trị các bệnh nhiễm trùng thận tái phát

Khi nhiễm trùng thận tái diễn thường xuyên hoặc nhiễm trùng sẽ trở thành mãn tính, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế của một chuyên gia có thể xác định nguyên nhân tiềm ẩn và có khả năng điều trị được.

Nhiễm trùng thận thường xuyên có thể là kết quả của một vấn đề y tế cơ bản, chẳng hạn như là một sự bất thường về cấu trúc. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia thận (nephrologist) hoặc bác sĩ phẫu thuật tiết niệu thẩm định để xác định xem bất thường tiết niệu có thể gây ra nhiễm trùng. Một bất thường cấu trúc có thể cần phải được phẫu thuật sửa chữa.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Để giảm đau hoặc khó chịu khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng thận, cố gắng:

Áp dụng nhiệt. Đặt một miếng đệm nóng trên lưng, bụng hoặc phía bên để làm giảm cảm giác áp lực hoặc đau đớn.

Sử dụng thuốc giảm đau. Đối với sốt hoặc khó chịu, một thuốc giảm đau có chứa acetaminophen (Tylenol…) không aspirin theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc có một toa thuốc bác sĩ cung cấp.

Uống nước. Uống nhiều nước sẽ giúp đỡ để tuôn vi khuẩn ra từ đường tiết niệu. Tránh các loại nước ép cam quýt, cà phê, rượu và nước giải khát có caffein cho đến khi bệnh đã xóa. Những sản phẩm này có thể làm trầm trọng thêm nhu cầu thường xuyên cấp bách để đi tiểu

Phòng chống

Giảm nguy cơ mắc bệnh thận bằng cách thực hiện những bước để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ, đặc biệt có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu nếu họ:

Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Uống nhiều chất lỏng có thể giúp loại bỏ vi khuẩn ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Đi tiểu thường xuyên. Tránh giữ lại khi cảm thấy các yêu cầu để đi tiểu.

Rỗng bàng quang sau khi giao hợp. Đi tiểu càng sớm càng tốt sau khi giao hợp sẽ giúp cho sạch vi khuẩn từ niệu đạo, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.

Lau sạch cẩn thận. Đối với phụ nữ, lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu và sau khi đi tiêu giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong khu vực hậu môn lan sang niệu đạo.

Rửa nhẹ nhàng. Rửa sạch vùng da quanh âm đạo và hậu môn một cách cẩn thận mỗi ngày. Nhưng không sử dụng xà phòng mạnh hoặc rửa mạnh mẽ. Làn da nhạy cảm quanh các khu vực này có thể trở nên bị kích thích.

Tránh sử dụng các sản phẩm phụ nữ ở vùng sinh dục . Sử dụng các sản phẩm nữ tính, chẳng hạn như thuốc xịt khử mùi hoặc douches, trong khu vực bộ phận sinh dục có thể kích thích niệu đạo.

Theo Dieutri.vn

Sỏi thận

Sỏi thận

Sỏi thận! Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Định nghĩa

Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Sỏi thận di chuyển có thể đau đớn. Những đau đớn của sỏi thận thường bắt đầu ở phía sau ngay dưới xương sườn, và chuyển tới bụng dưới và háng. Những cơn đau có thể thay đổi khi di chuyển sỏi thận qua đường tiểu.

Sỏi thận thường không gây tổn thương vĩnh viễn. Ngoài các thuốc giảm đau và uống nhiều nước, điều trị thường không cần thiết. Tuy nhiên, điều trị có thể giúp ngăn ngừa sỏi thận tái phát ở những người có nguy cơ gia tăng.

Các triệu chứng

Sỏi thận có thể có hoặc không thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng cho đến khi nó di chuyển vào niệu quản – ống nối liền thận và bàng quang. Vào thời điểm đó, những dấu hiệu và triệu chứng có thể xảy ra:

Đau dữ dội ở một bên và trở lại, dưới các xương sườn.

Đau lây lan đến vùng bụng dưới và háng.

Đau khi tiểu tiện.

Màu hồng, màu đỏ hoặc nâu – nước tiểu.

Buồn nôn và ói mửa.

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Sốt và ớn lạnh nếu nhiễm trùng hiện tại.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng lo lắng.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu  kinh nghiệm:

Đau quá nghiêm trọng mà không thể ngồi yên hoặc tìm một vị trí thoải mái.

Đau đi kèm với buồn nôn và ói mửa.

Đau kèm theo sốt và ớn lạnh.

Nguyên nhân

Sỏi thận thường không có nguyên nhân xác định duy nhất. Một số yếu tố, thường kết hợp, tạo điều kiện trong đó dễ bị sỏi thận phát triển.

Sỏi thận hình thành khi các thành phần của nước tiểu – khoáng sản và các chất lỏng và axit – đang mất cân bằng. Khi điều này xảy ra, nước tiểu có chứa nhiều chất tạo thành tinh thể, chẳng hạn như canxi, oxalat và acid uric, so với các chất lỏng có thể pha loãng. Đồng thời, nước tiểu có thể bị chất giữ tinh thể dính lại với nhau và trở thành đá. Điều này tạo ra một môi trường trong đó sỏi thận có nhiều khả năng hình thành.

Các loại sỏi thận

Phần lớn sỏi thận chứa các tinh thể nhiều hơn một loại. Các loại sỏi thận bao gồm:

Sỏi canxi. Sỏi thận nhất là đá vôi, thường ở dạng oxalat canxi. mức oxalate cao có thể được tìm thấy trong một số loại trái cây và rau quả, cũng như trong các loại hạt và sô cô la. Gan cũng sản xuất oxalate. Các yếu tố chế độ ăn uống liều cao vitamin D, phẫu thuật đường ruột và các rối loạn chuyển hóa một số khác nhau có thể làm tăng nồng độ canxi hoặc oxalat trong nước tiểu. Sỏi canxi cũng có thể xảy ra ở dạng phosphat canxi.

Sỏi Struvite. Struvite để đáp ứng với một bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như là một nhiễm trùng đường tiết niệu. Struvite có thể phát triển nhanh chóng và trở nên khá lớn.

Sỏi acid uric. Uric acid có thể hình thành ở những người mất nước, những người ăn một chế độ ăn giàu protein và những người có bệnh gút. Một số yếu tố di truyền và rối loạn máu của các mô cũng có thể dẫn đến sỏi acid uric.

Sỏi cystine. Những viên đá này chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của sỏi thận. Chúng hình thành ở những người có rối loạn di truyền là nguyên nhân gây thận bài tiết quá nhiều axit amin nhất định (cystinuria).

Loại khác. Loại hiếm của sỏi thận có thể xảy ra.

Biết loại của sỏi thận giúp hiểu những gì có thể đã gây ra hình thành và có thể cung cấp cho các đầu mối như những gì có thể làm để giảm nguy cơ mắc sỏi thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ sỏi thận đang phát triển bao gồm:

Gia đình hoặc lịch sử cá nhân của sỏi thận. Nếu ai đó trong gia đình có sỏi thận, có nhiều khả năng để phát triển các loại sỏi. Và nếu đã có một hay nhiều sỏi thận, đang có nguy cơ phát triển khác.

Người lớn . Sỏi thận thường gặp ở người lớn 40 tuổi trở lên, mặc dù sỏi thận có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Đàn ông. Đàn ông có nhiều khả năng phát triển sỏi thận.

Mất nước. Không uống đủ nước mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận. Những người sống ở vùng khí hậu ấm áp và những người đổ mồ hôi nhiều có thể cần phải uống nhiều nước hơn so với những người khác.

Một số chế độ ăn. Ăn một chế độ ăn uống protein cao, natri và đường cao có thể làm tăng nguy cơ của một số loại sỏi thận.

Béo phì. Cao chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng kích thước vòng bụng và tăng cân có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận.

Bệnh tiêu hóa và phẫu thuật. Phẫu thuật dạ dày, viêm đường ruột hoặc tiêu chảy mãn tính có thể gây ra những thay đổi trong quá trình tiêu hóa, có ảnh hưởng đến sự hấp thụ của canxi và làm tăng mức độ các chất tạo thành sỏi trong nước tiểu .

Điều kiện y tế khác. Bệnh và điều kiện có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận bao gồm toan ống thận, cystinuria, cường cận giáp và nhiễm trùng đường tiết niệu nhất định.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu bác sĩ  nghi ngờ có sỏi thận, có thể trải qua các xét nghiệm và thủ tục để chẩn đoán tình trạng, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Xét nghiệm máu có thể cho thấy canxi dư thừa hoặc acid uric trong máu. Xét nghiệm máu cho phép bác sĩ để kiểm tra các điều kiện khác về y tế và theo dõi sức khỏe của thận.

Xét nghiệm nước tiểu. Xét nghiệm nước tiểu, chẳng hạn như nước tiểu 24 giờ, có thể cho thấy rằng đang bài tiết quá nhiều khoáng chất hình thành đá hoặc quá ít chất ức chế đá.

Hình ảnh kiểm tra. Xét nghiệm có thể hiển thị hình ảnh sỏi thận ở đường tiết niệu. Hình ảnh chụp cắt lớp kiểm tra có thể bao gồm máy vi tính (CT), hoặc X – ray.

Phân tích sỏi.   Có thể phải đi tiểu thông qua bộ lọc được thiết kế để bắt bất kỳ loại đá vượt qua. Bằng cách đó, bất kỳ loại đá có thể được thu thập cho xét nghiệm. Phân tích trong phòng thí nghiệm sẽ cho biết đắc điểm của sỏi thận. Bác sĩ sử dụng thông tin để xác định nguyên nhân gây sỏi thận và để xây dựng một kế hoạch để ngăn ngừa sỏi thận trong tương lai.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị sỏi thận thay đổi, tùy thuộc vào loại và các nguyên nhân.

Điều trị sỏi nhỏ với các triệu chứng tối thiểu

Phần lớn sỏi thận sẽ không cần điều trị xâm lấn. Có thể vượt qua một hòn sỏi nhỏ bằng cách:

Nước uống. Uống nhiều như 2 – 3 lít (1,9-2,8 lít) mỗi ngày có thể giúp rửa hệ thống tiết niệu.

Thuốc giảm đau. Một hòn đá nhỏ đi qua có thể gây ra một số khó chịu. Để giảm đau nhẹ, bác sĩ có thể khuyên nên dùng giảm đau như ibuprofen (Advil, Motrin…), acetaminophen (Tylenol…) hay naproxen sodium (Aleve).

Điều trị sỏi lớn hơn và gây ra các triệu chứng

Sỏi thận có thể không được xử lý bằng các biện pháp bảo thủ – hoặc vì chúng quá lớn để tự vượt qua hoặc vì gây chảy máu, tổn thương thận hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu liên tục – có thể cần điều trị xâm lấn hơn. Thủ tục bao gồm:

Sử dụng sóng âm để phá vỡ. Một thủ thuật được gọi là tán sỏi ngoài cơ thể, sử dụng sóng âm thanh để tạo ra dao động mạnh được gọi là sóng xung kích, phá vỡ đá thành từng miếng nhỏ mà sau đó được thông qua trong nước tiểu. Thủ tục tạo ra một tiếng động lớn và có thể gây đau vừa phải, vì vậy có thể giảm đau hoặc gây mê để làm cho thoải mái. Các chi tiết cụ thể về thủ tục có thể thay đổi tùy thuộc vào loại thiết bị bác sĩ sử dụng.

Tán sỏi ngoài cơ thể, sóng có thể gây ra máu trong nước tiểu, bầm tím trên lưng hoặc bụng, chảy máu quanh thận và các cơ quan lân cận khác và khó chịu như là các mảnh đá đi qua đường tiết niệu.

Phẫu thuật để loại bỏ đá rất lớn trong thận. Một thủ thuật lấy sỏi thận qua da liên quan đến việc phẫu thuật loại bỏ sỏi thận thông qua một đường rạch nhỏ ở lưng. Phẫu thuật này có thể được đề nghị nếu sóng tán sỏi ngoài cơ thể đã không thành công hoặc nếu đá là rất lớn.

Sử dụng một phạm vi để loại bỏ đá. Để loại bỏ một hòn đá trong niệu quản hay thận, bác sĩ có thể thông qua một ống nhỏ (ureteroscope) được trang bị một máy ảnh thông qua niệu đạo và bàng quang đến niệu quản. Bác sĩ thông qua niệu quản đến đá. Khi đá được đặt, các công cụ đặc biệt có thể bẫy đá hoặc phá vỡ nó thành các phần mà sẽ qua đi trong nước tiểu.

Phẫu thuật tuyến cận giáp . Một số loại đá canxi là do tuyến cận giáp hoạt động quá mức – nằm ở bốn góc của tuyến giáp, ngay dưới quả táo Adam. Khi các tuyến này sản xuất quá nhiều hormone tuyến cận giáp, cơ thể với mức độ canxi có thể trở nên quá cao, dẫn đến sự bài tiết quá nhiều can – xi trong nước tiểu. Điều này đôi khi gây ra bởi một khối u lành tính nhỏ ở một trong bốn tuyến cận giáp. Bác sĩ phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u hoặc các tuyến cận giáp.

Thay thế thuốc

Thay thế thuốc không thể điều trị sỏi thận. Tuy nhiên, khi kết hợp với lời khuyên của bác sĩ, phương pháp điều trị thay thế có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Một số bằng chứng cho thấy các phương pháp điều trị thay thế có thể giúp:

Trà. Uống một tách trà đen hoặc trà xanh mỗi ngày có thể giảm nguy cơ sỏi thận. Một nghiên cứu ở phụ nữ thấy những người uống trà đen có nguy cơ thấp hơn của sỏi thận. Các nghiên cứu đã không được chặt chẽ và chỉ liên quan đến phụ nữ, vì vậy nó không cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng uống trà là hữu ích cho tất cả sỏi thận. Nếu thích uống trà, có thể có một cơ hội tiếp tục uống trà có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Tuy nhiên, trà có chứa hàm lượng oxalate. Vì vậy, nếu nước tiểu có một mức oxalate cao, bác sĩ có thể khuyên không uống trà.

Nước chanh và nước cam . Về mặt lý thuyết, uống nước chanh hoặc nước cam có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận. Mức acid citric trong nước chanh và nước cam có thể làm giảm mức độ canxi trong nước tiểu, dẫn đến ít canxi. Nhưng không có nghiên cứu đã chứng minh lý thuyết này. Nếu thích uống nước pha thêm hương vị chanh hoặc nước cam, có thể thấy rằng điều này sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Nhưng không có đủ bằng chứng cho thấy tất cả mọi người nên cố gắng này.

Phòng chống

Thay đổi lối sống

Có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận nếu:

Uống nước trong cả ngày. Uống nhiều nước hơn trong suốt cả ngày. Đối với những người có tiền sử sỏi thận, các bác sĩ thường khuyên nên khoảng 2,6 lít (2,5 lít) nước tiểu một ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu đo lượng nước tiểu để đảm bảo rằng đang uống đủ nước. Những người sống trong môi trường nóng, khí hậu khô và những người tập thể dục thường xuyên có thể cần phải uống nước nhiều hơn để sản xuất đủ nước tiểu.

Ăn ít thực phẩm giàu oxalat. Nếu có xu hướng hình thành sỏi oxalat canxi, bác sĩ có thể khuyên nên hạn chế các loại thực phẩm giàu oxalat. Chúng bao gồm đại hoàng, củ cải đường, đậu bắp, rau bina, củ cải Thụy Sĩ, khoai tây ngọt, trà, sô cô la và các sản phẩm đậu nành.

Chọn một chế độ ăn ít muối và protein động vật . Giảm lượng muối ăn và chọn các nguồn protein không động vật, chẳng hạn như các loại hạt và đậu. Điều này có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận đang phát triển.

Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, nhưng sử dụng thận trọng với các chất bổ sung canxi. Các canxi trong thực phẩm ăn không có hiệu lực vào nguy cơ bị sỏi thận. Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, trừ khi bác sĩ tư vấn khác. Hãy hỏi bác sĩ trước khi uống bổ sung canxi, tuy nhiên, những loại có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận. Có thể làm giảm rủi ro bằng cách bổ sung các bữa ăn.

Hỏi bác sĩ để được giới thiệu đến một chuyên viên dinh dưỡng có thể giúp lập kế hoạch bữa ăn sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận.

Thuốc men

Thuốc có thể kiểm soát mức độ axit hoặc kiềm trong nước tiểu và có thể hữu ích trong một số loại sỏi. Các loại thuốc bác sĩ kê toa sẽ phụ thuộc vào loại sỏi thận  có:

Sỏi canxi. Để giúp ngăn ngừa sỏi canxi hình thành, bác sĩ có thể kê toa thuốc lợi tiểu thiazide đơn hoặc chứa phosphate.

Sỏi acid uric. Bác sĩ có thể kê toa allopurinol (Zyloprim, Aloprim) để giảm mức acid uric trong máu và nước tiểu và thuốc men để giữ kiềm nước tiểu. Trong một số trường hợp, allopurinol và alkalinizing có thể hòa tan sỏi uric acid.

Sỏi struvite. Để ngăn ngừa sỏi struvite, bác sĩ có thể đề nghị các chiến lược để giữ nước tiểu miễn nhiễm vi khuẩn. Dài hạn sử dụng kháng sinh với liều lượng nhỏ có thể hữu ích để đạt được mục tiêu này.

Sỏi cystine. Cystine có thể khó khăn điều trị. Bác sĩ có thể kê toa cho thuốc nhất định để kiềm hóa nước tiểu hoặc để ràng buộc cystine trong nước tiểu ra ngoài với một lượng nước tiểu rất cao.

Theo Dieutri.vn

Hội chứng thận hư

Hội chứng thận hư

Hội chứng thận hư thường do thiệt hại các cụm của các mạch máu nhỏ trong thận – có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu

Định nghĩa

Hội chứng thận hư là một rối loạn thận gây ra bài tiết quá nhiều protein trong nước tiểu.

Hội chứng thận hư thường do thiệt hại các cụm của các mạch máu nhỏ trong thận – có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu. Khi khỏe mạnh, giữ protein máu không thấm vào nước tiểu và ra khỏi cơ thể. Khi bị hư hỏng, không thực hiện chức năng này có hiệu quả, và protein trong máu có thể bị rò rỉ và dẫn đến phù nề.

Điều trị bao gồm điều trị điều kiện cơ bản đó là gây hội chứng thận hư và dùng thuốc . Hội chứng thận hư có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và các cục máu đông. Bác sĩ có thể giới thiệu các bước để ngăn ngừa những điều này và các biến chứng khác của hội chứng thận hư.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng thận hư bao gồm:

Sưng (phù), đặc biệt xung quanh mắt và trong mắt cá chân và bàn chân.

Bọt trong nước vệ sinh, có thể được gây ra bởi protein dư thừa trong nước tiểu.

Tăng cân do giữ nước dư thừa.

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng lo lắng.

Nguyên nhân

Hội chứng thận hư thường do thiệt hại các cụm của các mạch máu nhỏ – tiểu cầu thận.

Các tiểu cầu lọc máu khi nó đi qua thận, tách những điều cơ thể cầu. Tiểu cầu lành mạnh giữ protein máu (chủ yếu là albumin), cần thiết để duy trì đúng số lượng chất lỏng trong cơ thể. Khi bị hư hỏng, tiểu cầu thận cho phép quá nhiều protein máu rời khỏi cơ thể, dẫn đến hội chứng thận hư.

Nhiều nguyên nhân có thể

Nhiều bệnh và điều kiện có thể gây thiệt hại cầu thận và dẫn đến hội chứng thận hư, bao gồm:

Bệnh thay đổi tối thiểu: Các nguyên nhân phổ biến nhất của hội chứng thận hư ở trẻ em, kết quả chức năng thận rối loạn bất thường, nhưng khi các mô thận được kiểm tra dưới kính hiển vi, nó xuất hiện bình thường hoặc gần như bình thường. Nguyên nhân của chức năng bất thường thường không thể được xác định.

Tiêu phân đoạn glomerulosclerosis. Đặc thù của sẹo rải rác của một số các tiểu cầu thận, điều kiện này có thể do bệnh khác hoặc khiếm khuyết di truyền hay xảy ra không có lý do được biết đến.

Bệnh lí thận màng. Điều rối loạn thận này là kết quả của sự dày lên màng trong tiểu cầu thận. Nguyên nhân chính xác của sự dày lên không biết, nhưng đôi khi kết hợp với các điều kiện y tế khác, chẳng hạn như viêm gan B, sốt rét, bệnh lupus và ung thư .

Bệnh thận tiểu đường. Bệnh tiểu đường có thể dẫn đến tổn thương thận (tiểu đường thận) có ảnh hưởng đến tiểu cầu thận.

Lupus ban đỏ hệ thống. Bệnh viêm mãn tính này có thể dẫn đến tổn thương thận nghiêm trọng.

Amyloidosis. Rối loạn này xảy ra khi các chất được gọi là protein amyloid tích tụ trong cơ quan. Amyloid tích tụ thường ảnh hưởng đến thận, gây tổn hại hệ thống lọc.

Cục máu đông trong tĩnh mạch thận. Huyết khối tĩnh mạch thận, xảy ra khi một cục máu đông tĩnh mạch được kết nối với thận, có thể gây ra hội chứng thận hư.

Suy tim. Một số hình thức của suy tim, ví dụ như viêm màng ngoài tim và suy tim tâm trương nghiêm trọng, có thể gây ra hội chứng thận hư.

Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ hội chứng thận hư bao gồm:

Các điều kiện y tế có thể làm hư thận. Một số bệnh và điều kiện làm tăng nguy cơ phát triển hội chứng thận hư, chẳng hạn như tiểu đường, lupus, amyloidosis, bệnh thay đổi tối thiểu và bệnh thận khác.

Một số thuốc. Ví dụ về các loại thuốc có thể gây ra hội chứng thận hư bao gồm thuốc kháng viêm không steroid và thuốc dùng để chống nhiễm trùng.

Một số bệnh nhiễm trùng. Ví dụ về các bệnh nhiễm trùng làm tăng nguy cơ hội chứng thận hư bao gồm HIV, viêm gan B, viêm gan C và bệnh sốt rét.

Các biến chứng

Biến chứng của hội chứng thận hư có thể bao gồm:

Các cục máu đông. Sự bất lực của các cầu thận để lọc máu đúng cách có thể dẫn đến mất mát protein trong máu giúp ngăn ngừa đông máu. Điều này làm tăng nguy cơ phát triển một cục máu đông (huyết khối) trong tĩnh mạch.

Cholesterol trong máu cao và chất béo trung tính trong máu cao. Khi mức độ của chất đạm albumin trong máu giảm, gan làm nhiều albumin. Đồng thời, gan phát hành nhiều cholesterol và chất béo trung tính.

Nghèo dinh dưỡng . Mất protein máu quá nhiều có thể dẫn đến suy dinh dưỡng. Điều này có thể dẫn đến giảm cân, nhưng nó có thể được ẩn bởi sưng phù.

Cao huyết áp. Thiệt hại về tiểu cầu và kết quả là sự tích tụ các chất thải trong máu (urê huyết) có thể làm tăng huyết áp.

Suy thận cấp tính. Nếu thận bị mất khả năng lọc máu do thiệt hại các tiểu cầu thận, các chất thải có thể xây dựng nhanh chóng trong máu. Nếu điều này xảy ra, có thể cần chạy thận cấp cứu, một phương tiện nhân tạo các loại bỏ chất lỏng và chất thải từ máu, thường với một máy thận nhân tạo (dialyzer).

Suy thận mãn tính. Hội chứng thận hư có thể gây ra thận mất dần chức năng của chúng qua thời gian. Nếu chức năng thận giảm xuống đủ thấp, có thể yêu cầu chạy thận hoặc ghép thận.

Nhiễm trùng. Những người có hội chứng thận hư có tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Các xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán hội chứng thận hư bao gồm:

Xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm nước tiểu có thể tiết lộ những bất thường trong nước tiểu, chẳng hạn như số lượng lớn protein nếu có hội chứng thận hư. Có thể được yêu cầu để thu thập mẫu nước tiểu trong 24 giờ cho một thước đo chính xác của protein trong nước tiểu.

Xét nghiệm máu

Nếu có hội chứng thận hư, xét nghiệm máu có thể hiển thị các mức thấp của protein albumin (hypoalbuminemia) cụ thể và giảm mức độ protein huyết tổng thể. Mất protein trong máu có thể làm tăng cholesterol máu và chất béo trung tính trong máu. Creatinine huyết thanh và urê trong máu cũng có thể được đo để đánh giá chức năng thận tổng thể.

Loại bỏ một mẫu mô thận để thử nghiệm

Bác sĩ có thể đề nghị một thủ tục gọi là sinh thiết thận để loại bỏ một mẫu nhỏ mô thận để thử nghiệm. Trong thời gian làm sinh thiết thận, một cây kim đặc biệt được đưa qua da và vào trong thận. Mô thận được thu thập và gửi đến một phòng thí nghiệm để thử nghiệm.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị hội chứng thận hư liên quan đến việc xử lý các điều kiện y tế cơ sở gây ra hội chứng thận hư.

Bác sĩ cũng có thể khuyên nên dùng thuốc có thể giúp kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng hoặc điều trị các biến chứng của hội chứng thận hư. Thuốc có thể bao gồm:

Thuốc huyết áp

Thuốc được gọi là chất ức chế chuyển đổi angiotensin-enzyme làm giảm huyết áp và cũng làm giảm lượng protein trong nước tiểu phát hành. Thuốc trong thể loại này bao gồm benazepril (Lotensin), captopril (Capoten) và enalapril (Vasotec). Một nhóm các loại thuốc có tác dụng theo cách tương tự được gọi là thuốc chẹn thụ thể angiotensin II và bao gồm losartan (COZAAR) và valsartan (Diovan).

Thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu giúp kiểm soát phù bằng cách tăng chất lỏng đầu ra. Thuốc lợi tiểu bao gồm chlorothiazide, hydrochlorothiazide, furosemide (Lasix) hoặc spironolactone (Aldactone).

Thuốc giảm cholesterol

Các loại thuốc được gọi là statin có thể giúp giảm mức cholesterol. Statins bao gồm atorvastatin (Lipitor), fluvastatin (Lescol), lovastatin (Altoprev, Mevacor), pravastatin (Pravachol), rosuvastatin (Crestor) và simvastatin (Zocor).

Chất làm loãng máu

Thuốc gọi là thuốc chống đông máu giúp giảm khả năng đông và giảm nguy cơ đông máu phát triển. Thuốc chống đông máu heparin hoặc bao gồm warfarin (Coumadin).

Thuốc ức chế hệ thống miễn dịch

Loại thuốc để kiểm soát hệ thống miễn dịch như corticosteroid, có thể làm giảm tình trạng viêm đi kèm với rối loạn thận, như thận màng.

Thuốc kháng sinh

Kháng sinh có thể giúp kiểm soát bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Thay đổi chế độ ăn uống có thể giúp đối phó với hội chứng thận hư. Bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia dinh dưỡng để thảo luận về những gì ăn có thể giúp đối phó với những biến chứng của hội chứng thận hư. Một chuyên viên dinh dưỡng có thể khuyên nên:

Giảm lượng chất béo và cholesterol trong chế độ ăn uống để giúp kiểm soát lượng cholesterol trong máu.

Ăn một chế độ ăn ít muối để giúp kiểm soát sưng phù.

Tăng lượng canxi ăn mỗi ngày kể từ khi với hội chứng thận hư có mức canxi thấp.

Theo Dieutri.vn