Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông dược. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông dược. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Ngứa da trong mùa lạnh

Ngứa da trong mùa lạnh

Càng gãi càng ngứa. Gãi tới sần sùi, gãi rách da, chảy máu, ít ngày sau đóng vẩy hay làm mủ và lây sang chỗ da lành chung quanh. Mất ngủ vì gãi ngứa ban đêm. Sáng dậy mệt mỏi; tới sở làm ngủ gục; gây tai nạn trên đường. Da dẻ đang mịn màng hóa mốc meo, khô sượng; mắc cở bị bắt gặp “gẩy đờn” ngay tại đám đông… Trên đây là một vài trong những khó chịu do Chứng Ngứa Ngoài Da gây ra.

Nếu da ngứa bắt đầu từ “mùa lạnh”, thì 90% hy vọng có thể dập tắt với những cách chữa trị đơn giản, ít tốn tiền.

Chức năng sinh học của da

Da giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng:

· Da che chở chống xâm nhập của vi-sinh-vật gây bịnh, nhờ cấu trúc và các chất acid hữu cơ do da tiết ra.

· Da bài tiết mồ hôi, thải các chất biến dưỡng dư thừa, tương tự như sự bài tiết nước tiểu tiến hành trong thận.

· Da “thở” giúp mất bớt nước. Da điều chỉnh thân nhiệt qua hệ thống các mạch máu và thần kinh ở da.

· Da làm dịu những bực tức, buồn phiền trong cuộc sống xã hội.

· Da góp phần biểu lộ niềm vui, tiếp nhận dẫn truyền cảm giác săn sóc, vuốt ve, đem cảm quan hạnh phúc cho con người trong đời sống.

· Da báo cho óc biết nguy cơ đe dọa hóa học (acid, chua, mặn) hay vật-lý (phỏng lửa, gai nhọn, mồi thuốc lá đang cháy, dẫn lối trong đêm tránh vấp té) tàn phá sự vẹn toàn của cơ thể.

Ngoài những hữu dụng kể trên, da còn nhiều chức năng khác nữa.

Khi da dở chứng

Da tiết ra những chất acid hữu cơ (organic acids, trong đó có oleanic acid, một acid hữu cơ quan trọng) lẫn trong mồ hôi. Những acid hữu cơ này giữ cho da nhờn, giúp da mềm, bền bỉ, chống sự xâm nhập của vi-sinh-vật như vi-khuẩn, nấm, ký-sinh-trùng, bụi bậm chứa độc tố, v.v… không chui nổi qua da mà vô người chúng ta.

Mùa lạnh vì không khí khô, nhà đốt máy sưởi, đôi khi có thêm một vài bịnh khác nữa (chẳng hạn dị ứng, suy-giáp-trạng-tuyến)…, nên làm da bốc hơi mau và khô. Bao lâu các chất acid hữu cơ do da tiết ra vẫn còn đủ để giữ cho da trơn, mềm, nhờn và toàn vẹn thì chúng ta còn ăn ngon ngủ yên. Song tới một mức độ lạnh và khô nào đó, nhất là những người mới tới chưa quen chịu lạnh, lại hốt hoảng, mất bình tĩnh, tự tay “bẻ gẫy” cơ-năng bảo vệ an toàn của da, sẽ mở màn cho da ngứa.

Khi cơ năng điều chỉnh chạm giới hạn an toàn của cơ-thể, da không căng dãn thêm, không tiết thêm được mồ hôi thì cơ-thể bắt đầu đầu hàng “kẻ thù”. Lớp da ngoài cùng (biểu bì, epiderm) ngày càng mỏng, mất đàn hồi và nứt nẻ. Sự rạn nứt ở da được báo về hệ-thần-kinh. Trung-tâm thần-kinh bèn đối phó điều chỉnh lại bằng một “huấn lệnh” gãi để giải tỏa nạn ngứa. Gãi cho đã ngứa, nhưng gãi làm da rách thêm. Da rách thêm, tín hiệu báo về não bộ là “ngứa thêm”. Cứ thế mà gãi, càng gãi lại càng ngứa. Gãi lên gãi xuống, nên dân gian mới đặt tên tật hay gãi là “gẩy đờn”. Đờn gẩy rách da, mở cửa cho vi-sinh-vật xâm nhập. Da mưng mủ, có khi nóng sốt, tính tình bẳn gắt, quơ quào tìm thuốc chữa. Càng uống thuốc ngứa mua ngoài tiệm càng làm da khô, ngứa càng hung, gãi càng mạnh.

Vòng lẩn quẩn tái diễn tồi tệ. Rồi chứng ngứa da có thể đưa dẫn tới bịnh khác ngoài da.

Chữa và tránh chứng ngứa da trong mùa lạnh

1. Giữ cho da nhờn, bằng cách mặc ấm, giữ hơi nước da “thở” ra ở lại dưới áo, giúp da ẩm và mềm.

2. Tránh nước nóng vào mùa lạnh: trước khi tắm, lấy tay thử nước, đủ ấm là được. Đừng xài nước nóng quá trong mùa lạnh. Mùa hè, muốn nóng bao nhiêu xài mặc sức.

3. Chỉ xát xà-bông vô những nơi thật cần xà-bông, chỗ phải có xà-bông mới sạch và hết mùi hôi. Ngoài ra, tránh xà-bông trên mặt ngoài như vai, đùi, bụng, lưng, tay chân, v.v…

4. Lựa loại xà-bông mềm và yếu. Tránh các hiệu xà-bông cứng và mạnh cho mùa lạnh. Mùa hè, xà-bông khô, mạnh; nước nóng bao nhiêu tùy thích.

5. Từ phòng tắm bước ra chớ vội lau khô. Mua sẵn dầu paraffin (vaseline bất cứ hiệu gì) đổ vô lòng bàn tay, thoa đều thật nhiều khắp người. Mặc áo lại cho ấm và kín.

6. Trong ngày, hạn chế tối thiểu số lần rửa tay chân bằng nước nóng và xà-bông. Cực chẳng đã hãy xài nước nóng và xà-bông. Rửa xong, tay còn ướt nước, thoa một lớp mỏng emolient lotion hay cream (bất cứ hiệu nào loại nào dễ mua). Xong, giữ da ấm và kín, tránh khô.

7. Ngủ cho đủ giờ. Ăn cho đủ no và ngon, thoải mái với các đồ ăn thịt, cá, mè, đậu phọng tùy sở thích và nhu-cầu. Cần đưa cả nhà thoát ra khỏi lối suy nghĩ sai lầm gán tội “phong hay nhiệt” cho đồ biển tôm, cá, bò, gà. Lối suy nghĩ nhảm nhí đó làm cho dân tộc ta không ngẩng mặt nổi với đời mấy ngàn năm qua.

8. Tránh các thứ thuốc ngứa xưa nay người xứ nóng thường xài theo thói quen. Các loại thuốc chống ngứa, chống dị ứng (anti-allergics, anti-histaminics) như phenergan, benadryl làm cho da đã khô càng thêm khô, dễ nứt ra, và ngứa hơn nữa.

9. Cực chẳng đã ban đêm ngứa quá, thì xài tạm những thuốc chống ngứa sẵn có ở nhà, trong lúc chờ điều chỉnh, sửa chữa những cố tật gây khô, nứt da khiến da ngứa mùa lạnh.

Chín bước trên đây giúp chữa và tránh ngứa da trong mùa lạnh. Ít khi ta cần đi khám bác sĩ.

Bạn thực hành ngay ngày hôm nay đi. Hiệu quả sẽ chứng nghiệm trong vòng vài ba ngày tới.

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Các nguyên nhân gây rụng tóc

Rất nhiều thuốc (như chống đông máu, ức chế u, trị Parkinson, chống động kinh…) có thể gây rụng tóc. Vì vậy, để chẩn đoán nguyên nhân, bác sĩ thường tìm hiểu xem trước đó bệnh nhân có uống thuốc gì không .

Bệnh rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Nó có thể xuất hiện sau khi bị ốm nặng (sốt rét, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết…), sau sẩy thai, sinh đẻ, sau chấn thương lớn, mất máu. Thường tóc thưa đều, hơi khô, xơ xác, khi cơ thể hồi phục nó sẽ mọc lại.

Các yếu tố cơ lý hóa (uốn tóc bằng lược, sức nóng, nhuộm, uốn tóc bằng hóa chất, chải tóc quá nhiều bằng lược cứng, căng kéo xoắn bện quá chặt…) cũng làm sợi tóc bị biến dạng, gãy rụng.

Trong rụng tóc pelade, vùng da đầu có một hay nhiều đám rụng tóc hình tròn, đường kính vài cm, da nhẵn trắng trông giống như sẹo, có khi các đám liên kết thành dải, vằn vèo “thể rắn bò”, một số trường hợp có thể rụng nhẵn toàn bộ da đầu, thậm chí rụng cả lông mày, lông nách, lông mi. Loại này thường liên quan yếu tố căng thẳng thần kinh.

Rụng tóc do nấm (chủng microsporum, trichophyton) khá phổ biến, thường gặp ở trẻ em lứa tuổi học đường, lây từ người sang người do dùng chung lược, mũ hoặc lây từ súc vật (chó, mèo) sang người do ôm, bế. Biểu hiện là da đầu có đám mảng viêm đỏ, có vảy trắng, tóc bị phạt gãy, chân tóc còn lại cách da đầu từ vài mm đến 1-2 cm hoặc chỉ còn chấm đen, có khi chân tóc được bao bởi lớp vảy trắng như bị “nhúng trong bột”. Có thể xác định bằng soi nấm, cấy nấm, điều trị bằng bôi kem nizoral, uống ketoconazol.

Bệnh rụng tóc da dầu (còn gọi rụng tóc liên quan androgen hay chứng hói tiến triển) thường do di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu, làm nang tóc giảm kích thước, dần dần teo và rụng. Loại này gặp ở nam nhiều hơn nữ, nam 30-40 tuổi trở lên, nữ xuất hiện muộn hơn (40% bị ở tuổi 60-70). Đầu tiên, tóc rụng thưa dần ở phía trước trán, tạo thành hình lượn sóng chữ M, sau rụng đến vùng giữa đỉnh đầu và dần dần hói hoàn toàn phía trên (trán và đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương hai bên và gáy vẫn còn tóc. Điều trị bằng xịt dung dịch minoxidil và tốt nhất là cấy tóc (hair transplantation). Lấy từng khóm tóc nhỏ vùng thái dương, gáy chẩm của người đó cấy lên vùng rụng tóc.

Rụng tóc do tật nhổ tóc hay gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam. Họ thường nhổ tóc vùng trán phía trước và hai bên thái dương làm tóc nham nhở không đều, chỗ mọc tốt xen kẽ chỗ thưa. Có khi bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, có cảm giác thúc giục không thể cưỡng lại và chỉ nhẹ nhõm sau khi nhổ tóc.

Người bị giang mai giai đoạn 2 (3 tháng sau khi nhiễm bệnh trở đi) cũng bị rụng tóc kiểu “rừng thưa”, tóc rụng nham nhở không đều hai bên thái dương như gián nhấm. Điều trị khỏi bệnh giang mai, tóc sẽ mọc lại.

Bệnh rụng tóc chuỗi hạt (monilethrix) liên quan đến yếu tố di truyền, gặp cả ở nam và nữ, thường xuất hiện từ nhỏ hoặc tuổi thiếu niên. Thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày phình to ra một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc, tóc bị gãy đứt đoạn. Da dầu, tóc thưa bị gãy, rụng trông như hói, da đầu phủ đầy tóc ngắn, dày sừng nang lông nên trông xù xì, thô ráp.

Rụng tóc còn là hậu quả của các bệnh da khác có đám tổn thương ở đầu. Các tổn thương này có quá trình viêm, tạo mủ, tạo sẹo, teo da… gây nên rụng tóc vùng đó, như lupút đỏ mạn dạng đĩa, viêm nang lông trụi tóc, nấm tóc loại kerion, xơ cứng bì khu trú, bệnh muxin nang lông, ung thư tế bào đáy…

Rụng tóc do nhiều nguyên nhân gây nên. Do đó, khi bị rụng tóc, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để xác định thể bệnh và có cách điều trị đúng đắn nhất.

BS Bùi Khánh Duy, Sức Khỏe & Đời Sống

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona là gì?

Bệnh zona, theo từ chuyên môn là Herpes zoster, là mẫn đỏ da gây ra do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu. Vi-rút gây bệnh này có tên là Varicella zoster. Sau khi bị bệnh thuỷ đậu, vi-rút sống trong dây thần kinh, nguyên nhân tại sao vẫn chưa có lời giải đáp.

Trong một số hoàn cảnh nào đó như xúc động, stress, suy giảm miễn dịch ( AIDS , hoá trị liệu ) hay ung thư, vi rút sẽ hoạt động trở lại gây bệnh zona. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, nguyên nhân hoạt động trở lại của virút vẫn chưa có căn cứ. Vi rút này gây ra bệnh thuỷ đậu và bệnh zona, không giống với virút gây mụn nước ở cơ quan sinh dục và ở miệng.

Bệnh zona khởi phát và tiến triển như thế nào?

Trước khi thấy được những mẫn đỏ, bệnh nhân có thể có cảm giác đau rát và nhạy cảm vùng da trước đó vài ngày đến 1 tuần. Bệnh zona khởi đầu là những mụn rộp (mụn nước) trên nền da màu đỏ, những mụn nước mới tiếp tục hình thành từ 3-5 ngày. Mụn nước này thường đi theo đường dây thần kinh của tuỷ sống.

Toàn bộ dây thần kinh liên quan có thể bị, hay những vùng khác không có liên quan đến phân bố dây thần kinh cũng có thể bị. Thường thì bệnh zona chỉ ăn theo một dây thần kinh, hiếm khi bị nhiều hơn một dây thần kinh.

Cuối cùng thì các mụn nước này vỡ ra và bắt đầu chảy nước, bề mặt bên trên khô đi và hoá sẹo. Quá trình này có thể kéo dài 3-4 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh đến khi khỏi. Thỉnh thoảng, đau vẫn còn mặc dù không bao giờ nhìn thấy mụn nước, làm dễ lầm lẫn với nguyên nhân đau tại chỗ.

Bệnh zona có lây không ?

Vâng. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác.

Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa.

Điều trị zona như thế nào ? Tôi sẽ chăm sóc sức khoẻ của mình như thế nào ?

Có một số cách điều trị zona. Thuốc kháng vi-rút như acyclovir (Zovirax) hay famciclovir (Famvir) có thể làm rút ngắn thời gian bị mẫn đỏ da, nếu bắt đầu dùng sớm trong vòng 48 giờ khi xuất hiện mẫn đỏ. Phối hợp thêm thuốc nhóm steroid cũng có thể hạn chế và rút ngắn thời gian bị đau do zona. Tuy nhiên, lợi ích của 2 loại thuốc này vẫn còn hạn chế.

Ngoài thuốc kháng vi-rút, thuốc giảm đau cũng cần thiết để kiểm soát triệu chứng . Vùng da bị bệnh cần phải được giữ sạch sẽ và khô ráo. Người bệnh vẫn có thể được tắm rữa, kỳ cọ bằng xà phòng và nước nơi bị zona mà không bị cấm. Dung dịch aluminum acetate (Burows hay Domeboro”s, có bán ở nhà thuốc) có thể được sử dụng giúp làm khô bề mặt da bị zona và nơi rĩ dịch.

Biến chứng của bệnh zona là gì?

Thường thì bệnh zona được chữa khỏi, và bệnh zona cũng có một số vấn đề. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau.

Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này.

Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế.

Đau dây thần kinh sau bệnh zona là gì ? Và cần phải làm gì khi bị như vậy?

Đau dây thần kinh sau zona là đau khu trú ở vùng có liên quan đến bệnh zona, cơn đau này có thể kéo dài cả tháng.

Biến chứng thường gặp nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau bệnh zona Đau dây thần kinh sau zona thường kéo dài cả tháng, thậm chí ngay sau khi bệnh zona đã khỏi mà đau thì vẫn còn. Ở những người trên 50 tuổi, bị zona lần đầu, thường bệnh zona gây đau nhiều hơn, người bệnh dễ bị suy sụp hơn. Rõ ràng là điều trị zona bằng steroid và thuốc kháng vi-rút có thể rút ngắn thời gian và tai biến đau dây thần kinh sau zona. Tuy nhiên, chỉ giảm đi đôi chút.

Đau dây thần kinh sau zona có thể được điều trị bằng nhiều loại thuốc như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng amitriptyline (Elavil), và các thuốc khác như thuốc chống động kinh gabapentin (Neurontin), carbamazipine (Tegretol), được dùng để giảm đau dây thần kinh do zona.

Cuối cùng, kem capsaicin (Zostrix), là một chất được chiết xuất từ trái ớt, có thể được dùng để thoa lên vùng da bị zona để làm giảm đau, sau khi các mụn nước đã khô. Châm cứu và kích thích điện thần kinh vùng da bị bệnh cũng giúp ích được cho vài bệnh nhân. Lidocain dạng dán da cũng có thể giúp giảm đau dây thần kinh do zona.

Việc chọn lựa thuốc nào là tốt nhất cho bạn, cần phải thảo luận với thầy thuốc của bạn.

Tóm lược bệnh zona

Bệnh zona do vi-rút cùng loại với virút gây bệnh thuỷ đậu, bệnh lây sang người mà người đó trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh zona còn được gọi là Herpes zoster, bệnh này không liên quan gì đến bệnh nhiễm herpes sinh dục.

Bệnh zona có thể gây đau kéo dài, ngay cả sau khi hết mẫn đỏ da.

Steroids và thuốc kháng virút có thể giúp ngăn ngừa đau lâu dài sau nhiễm zona, nếu bắt đầu điều trị trong vòng 2 ngày đầu sau khi xuất hiện mẫn đỏ da.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Suy thận cấp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Suy thận cấp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Suy thận cấp (STC) là tình trạng giảm mức lọc cầu thận một cách đột ngột và nhanh chóng, xuất hiện trong vòng từvài giờđến vài ngày, dẫn đến tình trạng rối loạn nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan và tích tụcác sản phẩm chuyển hóa trong cơthể.

Tình trạng này thường được phát hiện trên lâm sàng khi có tăng các chất chứa nitơ(urê, creatinin) và hoặc có biểu hiện thiểu niệu hay vô niệu.

Cho đến nay các nhà Thận học trên thế giới chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về tiêu chuẩn chẩn đoán suy thận cấp và thường dựa trên tốc độ gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh so với nồng độ creatinin nền (baseline) của chính bệnh nhân đó để chẩn đoán suy thận cấp.

Suy thận cấp được đặt ra khi:

- Tốc độ gia tăng creatinin huyết thanh > 42,5mmol/l trong vòng 24 đến 48 giờ so với creatinin nền nếu nồng độ creatinin nền của bệnh nhân < 221mmol/l hoặc:

- Tốc độ gia tăng creatinin huyết thanh >20% trong vòng 24 đến 48 giờ so với creatinin nền nếu nồng độ creatimn nền của bệnh nhân > 221mmol/l

Trên thực tế lâm sàng không phải bao giờ chúng ta cũng biết được chính xác nồng độ creatinin máu của bệnh nhân khi chưa có suy thận cấp (creatinin nền) vì vậy phần lớn các nhà lâm sàng thường dựa trên tốc độ gia tăng của creatinin huyết thanh trong một khoảng thời gian cụ thể để chẩn đoán suy thận cấp như sau:

- Khi tốc độ gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh > 45mmol/l trong vòng 24-48 giờ.

Bên cạnh dựa vào sự gia tăng nồng độ creatinin huyết thanh người thầy thuốc cần phải dựa vào các biểu hiện lâm sàng khác như: tác nhân gây bệnh, sự xuất hiện đột ngột của các triệu chứng như đái ít vô hiệu để đưa ra chẩn đoán và xử trí kịp thời đối với các trường hợp nghi ngờ suy thận cấp.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY SUY THẬN CẤP

Suy thận cấp do nhiều nguyên nhân, cho nên khó có thể diễn giải cơ chế bệnh sinh một cách đơn thuần. Nói chung có thể có 5 yếu tố đóng góp vào cơ chế sinh bệnh trong suy thận cấp như sau(xem sơ đồ 1):

1. Khuyếch tán trở lại của dịch lọc cầu thận khi đi qua ống thận do màng tế bào ống thận bị hủy hoại.

2. Tắc ống thận do xác tế bào, do sắc tố, hoặc các sản phẩm protein

3. Tăng áp lực ở tổ chức kẽ của thận do phù nề

4. Giảm sút dòng máu hiệu dụng ở vỏ thận dẫn đến giảm mức lọc cầu thận một cách cấp tính.

5. Thay đổi tính thấm của màng đáy mao quản cầu thận

Tất cả những yếu tố đó đều góp phần ít nhiều dẫn đến vô niệu. Yếu tố nào chính, yếu tố nào phụ là tuỳ theo bệnh nguyên và diễn biến của quá trình bệnh lý.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA SUY THẬN CẤP:

1. Các dấu hiệu lâm sàng

Đa số các trường hợp suy thận cấp khởi phát với dấu hiệu thiểu niệu (<400ml/24h), nhưng một số trường hợp nước tiểu vẫn >1l/24h (thể còn bảo tồn nước tiểu).

Ngoài ra tuỳ theo nguyên nhân dẫn đến suy thận cấp mà biểu hiện lâm sàng có thể khác nhau:

Suy thận cấp do nguyên nhân trước thận:

Thường thấy các triệu chứng mất nước như:

- Mạch nhanh, hạ HA tư thế, tụt HA

- Da, niêm mạc khô; giảm độ chun giãn da, tĩnh mạch cổ xẹp

- Số lượng nước tiểu giảm dần

Suy thận cấp do nguyên nhân tại thận:

Có thể thấy một hoặc một số dấu hiệu sau:

- Các yếu tố nguy cơ: sốc kéo dài, dùng thuốc độc cho thận, thuốc cản quang; tiêu cơ vân, tan máu

- Nước tiểu có màu đỏ hoặc thẫm màu do đái ra máu trong viêm cầu thận cấp v.v…

- Đau vùng thắt lưng do sỏi thận, niệu quản.

- Thiểu niệu, phù, tăng huyết áp…

- Sốt đau cơ và ngứa, nổi ban sẩn sau dùng thuốc.

Suy thận cấp thể hoại tử ống thận cấp

Thuộc nhóm suy thận cấp tại thận nhưng có thể được tách thành một thể lâm sàng riêng biệt.

Suy thận cấp do nguyên nhân sau thận

Thường thấy dấu hiệu tắc nghẽn đường tiết niệu như:

- Cơn đau quặn thận hoặc đau hố lưng hoặc các điểm niệu quản

- Thận to do ứ nước, ứ mủ.

- Các triệu chứng của bàng quang: đau tức vùng bàng quang, đái buốt, đái dắt…

- Thiểu niệu, vô niệu rõ.

- Thăm trực tràng có thể thấy tuyến tiền hệt to đi kèm với các rối loạn tiểu tiện trước đó.

Chức năng thận thường phục hồi nhanh sau khi giải quyết được nguyên nhân tắc nghẽn như lấy sỏi, cắt bỏ tiền liệt tuyến…

2. Các biểu hiện cận lâm sàng

- Trong tất cả các trường hợp suy thận cấp đều thấy urê, creatinin máu tăng dần hàng ngày, có thể tăng rất nhanh trong vòng vài giờ.

- Kali máu sẽ tăng dần nếu như suy thận cấp không được can thiệp kịp thời và hiệu quả.

- Thiếu máu khi bị mất máu nặng hoặc tan máu trong lòng mạch ồ ạt.

- Ngoài ra có thể thấy: giảm calci máu, đôi khi tăng calci máu, tăng phospho máu, nhiễm toan chuyển hóa biểu hiện bằng giảm dự trữ kiềm, tăng khoảng trống anion…

3. Một số thăm dò cận lâm sàng giúp chẩn đoán nguyên nhân

3.1. Xét nghiệm nước tiểu

- Bình thường hoặc có ít hồng cầu hoặc bạch cầu gặp trong: suy thận do nguyên nhân trước thận, tắc động mạch thận, viêm mạch trước cầu thận, hội chứng tan máu có tăng urê máu hoặc gặp trong hội chứng huyết khối vi mạch có phát ban và giảm tiểu cầu, các nguyên nhân gây suy thận cấp sau thận như sỏi thận, sỏi niệu quản…

- Các loại tinh thể có gặp: do tăng urate cấp tính, do ngộ độc acyclovir, sulfonamid, các thuốc cản quang dùng đường tĩnh mạch.

- Có trụ hạt trong hoại tử ống thận cấp, gợi ý thiếu máu thận và ngộ độc.

- Protein niệu vết hoặc âm tính gợi ý nguyên nhân trước hoặc sau thận, protein mếu trên 1g/ngày và thoặc trụ hồng cầu: gợi ý bệnh lý cầu thận.

- Trụ bạch cầu: nhiễm khuẩn nhu mô thận như viêm thận bể thận cấp, viêm cầu thận thể xuất tiết.

- Bạch cầu ưa acid: viêm tổ chức ống kẽ thận dị ứng do kháng sinh, do thuốc giảm đau chống viêm non-steroids, bệnh lý nghẽn mạch do xơ vữa mạch hoặc một vài hình thái viêm cầu thận cấp.

- Hemoglobin mếu và myoglobin niệu: gợi ý tan máu hoặc tiêu cơ vân.

3.2. Xét nghiệm máu

Khi có tăng nhanh kèm, phosphat, acid uric máu và creatinine kinase (CK), creatinin máu tăng nhiều hơn urê máu gợi ý tiêu cơ vân.

- Thiếu máu nặng khi không có xuất huyết gợi ý tan máu, đa u tủy xương, bệnh vi mạch do huyết khối (thrombotic microangiopathy).

- Tăng bạch cầu ái toan máu gợi ý viêm thận kẽ do dị ứng, hoặc viêm nút quanh động mạch.

3.3. Chẩn đoán hình ảnh

- Chụp X.quang hệ tiết niệu không chuẩn bị phát hiện sỏi cản quang;

- Chụp hệ tiết niệu có tiêm thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch hoặc chụp bể thận – niệu quản ngược xuôi dòng phát hiện vị trí tắc nghẽn gây nên suy thận cấp tuy nhiên chỉ tiến hành khi thật cần thiết và suy thận mức độ nhẹ hoặc ở cơ sở có khả năng lọc máu ngoài thận vì thuốc cản quang đường tĩnh mạch sẽ làm nặng thêm tình trạng suy thận.

- Xạ hình thận khi có chống chỉ định dùng thuốc cản quang đường tĩnh mạch, và đặc biệt là suy thận cấp do sỏi trước khi phẫu thuật lấy sỏi nhằm đánh giá chức năng thận có sỏi và thận không có sỏi.

- Siêu âm: xác định kích thước thận, các dấu hiệu gián tiếp của sỏi hoặc nguyên nhân tắc nghẽn khác, cụ thể là loại trừ nguyên nhân suy thận cấp sau thận.

- Siêu âm Doppler mạch thận có thể xác định nguyên nhân gây suy thận cấp là do mạch máu: huyết khối động, tĩnh mạch thận, tình trạng tưới máu nhu mô thận cũng như sức cản mạch máu trong thận.

- Chụp CT scanner, chụp cộng hưởng từ có thể khẳng định chẩn đoán dễ dàng hơn trong một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây suy thận cấp.

3.4. Sinh thiết thận

Chỉ định trong một số trường hợp suy thận cấp do viêm cầu thận, nghi ngờ bệnh hệ thống gây tổn thương thận thứ phát nhằm mục đích:

+ Đánh giá mức độ tổn thương cầu thận.

+ Tổn thương ống kẽ thận và phân loại tổn thương cầu thận.

+ Khi các biện pháp khác chưa làm rõ chấn đoán, sinh thiết thận còn giúp ích cho lựa chọn biện pháp điều trị và tiên lượng.

4. Diễn biến lâm sàng

Suy thận cấp thể điển hình thường tiến triển qua 4 giai đoạn.

Hoại tử ống thận cấp gây suy thận cấp là một thể điển hình.

4.1. Giai đoạn khởi phát

Khởi phát, trong vòng 24h, là giai đoạn tấn công của tác nhân gây bệnh. Diễn biến tùy theo từng nguyên nhân. Ở bệnh nhân ngộ độc thì diễn biến nhanh có thể dẫn tới vô niệu ngay thường có số lượng nước tiểu giảm; nếu can thiệp kịp thời có thể tránh được chuyển sang giai đoạn 2.

4.2. Giai đoạn đái ít – vô niệu

Vô niệu có thể diễn biến từ từ, bênh nhân đái ít dần rồi vô niệu, nhưng vô niệu cũng có thể xảy ra đột ngột, nhất là trong trường hợp ngộ độc hoặc nguyên nhân cơ giới. Đái ít, vô niệu có thể kéo dài 1-2 ngày, có khi 1- 6 tuần, trung bình 7-14 ngày bệnh nhân sẽ đái trở lại.

- Có thể có phù

- Urê, creatinin tăng nhanh, rối loạn nước điện giải, tăng K+ máu

- Toan chuyển hóa

- Acid uric máu tăng

- Các biểu hiện tim mạch, hô hấp, thần kinh, tiêu hóa…của hội chứng urê máu cao.

Khi tốc độ tăng urê, creatinin máu càng nhanh thì tiên lượng càng nặng. Urê máu tăng phụ thuộc vào mức độ vô niệu, phụ thuộc vào chế độ ăn nhiều protid, phụ thuộc vào quá trình giáng hóa protid trong cơ thể. Creatin máu, sản phẩm giáng hóa cuối cùng của creatinin (có chủ yếu trong cơ), không phụ thuộc vào chế độ ăn, nên nó phản ánh chức năng thận chính xác hơn urê. Khi nồng độ urê tăng trên 8 mmol/24 giờ hoặc creatinin tăng trên 90mmol/l/24giờ thì tiên lượng rất xấu.

4.3. Giai đoạn đái trở lại

- Kéo dài trung bình khoảng 5-7 ngày

- Có lại nước tiểu, bắt đầu 200-300ml/24h, có thể đái 4-5lít/24h

- Vẫn có các nguy cơ cao: tăng urê, creatinin; đái nhiều, mất nước, mất điện giải (K+ máu hạ, Na+ máu hạ).

4.4. Giai đoạn hồi phục:

- Tùy theo nguyên nhân gây suy thận cấp thời gian hồi phục có thể kéo dài rất khác nhau, trung bình khoảng 4 tuần.

- Các rối loạn về sinh hóa dần trở về bình thường: urê, creatinin máu giảm dần. Urê, creatinin niệu tăng dần. Tuy nhiên khả năng cô đặc nước tiểu của ống thận có khi hàng năm mới hồi phục hoàn toàn. Mức lọc cầu thận hồi phục nhanh hơn, thường sau 2 tháng có thể trở về bình thường.

III. CHẨN ĐOÁN SUY THẬN CẤP

1. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định dựa vào:

- Có nguyên nhân cấp tính dẫn đến như uống mật cá trắm, ngộ độc kali loại nặng, ỉa chảy mất nước, viêm cầu thận cấp…

+ Xuất hiện: thiểu niệu, vô niệu

+ Urê, creatinin máu tăng nhanh trong vòng vài giờ đến vài ngày (xem phần định nghĩa suy thận cấp)

+ K+ máu tăng dần.

+ Có thể rối loạn thăng bằng kiềm toan đi kèm, thường gặp là toan chuyển hóa.

2. Chẩn đoán phân biệt

2.1. Một số trường hợp có tăng creatinin hoặc urê máu mà không có suy thận cấp

2.1.1. Tăng urê do

- Tăng quá nhiều lượng protein vào cơ thể: qua ăn, uống, truyền nhiều acid amin

- Xuất huyết đường tiêu hóa

- Tăng quá trình giáng hóa

- Đang dùng corticoid

- Đang dùng tetracyclin

2.1.2 Tăng nồng độ creatinin máu do:

- Tăng giải phóng từ cơ

- Giảm bài tiết ở ống lượn gần do dùng cimetidin, trimethoprim…

2.2. Suy thận cấp với đợt cấp của suy thận mạn

- Có nghĩa là suy thận cấp xảy ra trên nền bệnh nhân đã có suy thận mạn từ trước đó.

- Cần chú ý chẩn đoán phân biệt bởi vì chúng ta có thể chỉ định nhầm cho bệnh nhân suy thận mạn ở mức độ nhẹ hoặc trung bình lựa chọn phương pháp điều trị thay thế thận suy mà trên thực tế có thể chỉ cần điều trị bảo tồn.

Trong suy thận mạn:

- Tiền sử có bệnh thận – tiết niệu.

- Creatinin và urê huyết thanh tăng từ trước nếu đã được chẩn đoán và theo dõi.

- Thiếu máu tương ứng với mức độ suy thận.

- Tăng huyết áp, suy tim: thường nặng hơn trên bệnh nhân suy thận mạn.

- Siêu âm có thể thấy hai thận teo nhỏ, nhu mô thận tăng độ cản âm (phản ánh mức độ xơ của nhu mô thận) nếu do viêm cầu thận mạn, hoặc thấy các nguyên nhân gây suy thận mạn khác như: thận đa nang, sỏi thận…

Đợt cấp của suy thận mạn:

- Có các nguyên nhân làm nặng thêm mức độ suy thận như: dùng các thuốc độc cho thận, dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc hoạt chất, mất nước do nôn, ỉa chảy, nhiễm trùng toàn thân hoặc các ổ nhiễm trùng tại thận, tắc nghẽn sau thận đột ngột.

- Suy thận nặng nhưng thiếu máu không nặng nếu nguyên nhân gây suy thận cấp không do mất máu và bệnh nhân không dùng thuốc kích thích tăng sinh hồng cầu trước đó.

- Trên siêu âm: kích thước và tính chất nhu mô thận không tương xứng với mức độ suy thận, suy thận nặng nhưng thận không teo và cản âm nhiều nếu nguyên nhân gây suy thận mạn là viêm cầu thận mạn.

- Loại trừ các nguyên nhân thuận lợi gây suy giảm chức năng thận thì mức độ suy thận sẽ giảm đi nhưng không bao giờ trở về bình thường.

2.3. Phân biệt thể lâm sàng

Suy thận cấp do nguyên nhân trước thận với suy thận cấp do nguyên nhân tại thận gây hoại tử ống thận cấp (Bảng trang 418).

3. Chẩn đoán nguyên nhân

Suy thận cấp do rất nhiều nguyên nhân gây nên, có các nguyên nhân trước thận, tại thận và sau thận. Có thể tóm tắt bằng sơ đồ dưới đây:

Một số chỉ số phân biệt suy thận cấp do nguyên nhân trước thận

với suy thận cấp do nguyên nhân tại thận gây hoại tử ống thận cấp

Chỉ số chẩn đoán Nguyên nhân trước thận Tại thận
Phân số thải Na < 1 > 1
Na niệu < 10 > 20
Ucre/Pure > 40 < 20
Uure/Pure > 8 < 3
Tỷ trọng nước tiểu > 1.018 < 1.012
Áp lực thẩm thấu niệu > 500 mOsm/kg nước <250 mOsm/kg nước
Pure/Pcre > 20 < 10-15
Chỉ số suy thận < 1 > 1

 

- Ucre = Nồng độ creatinin niệu

- Uure =  Nồng độ urê niệu

- Pcre = Nồng độ creatinin huyết thanh

- Pure = Nồng độ urê huyết thanh

- Chỉ số suy thận = Na niệu / Ucre/ Pcre

- Phân số lọc cầu thận =

3.1. Suy thận cấp trước thận (chiếm khoảng 55-60% tổng số ca suy thận cấp)

- Sốc giảm thể tích: mất nước, mất máu.

- Sốc tim.

- Sốc nhiễm khuẩn.

- Sốc quá mẫn.

- Các nguyên nhân gây giảm khối lượng tuần hoàn khác như: hội chứng thận hư, xơ gan, thiểu dưỡng… gây giảm protid máu và đặc biệt là albumin máu thiếu trầm trọng.

3.2. Suy thận cấp tại thận (chiếm khoảng 35-40% tổng số ca suy thận cấp)

3.2.1. Các bệnh lý cầu thận cấp : chiếm khoảng 3- 12% bệnh nhân suy thận cấp.

Bệnh cầu thận nguyên phát: suy thận cấp có thể là biến chứng của viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu.

Bệnh cầu thận thứ phát:

- Viêm cầu thận lupus trong những đợt tiến triển cấp tính.

- Hội chứng Goodpasture.

- Schonlein – Henoch có tổn thương thận.

3.2.2. Các bệnh ống kẽ thận cấp tính

Các nguyên nhân gây viêm ống kẽ thận cấp tính (còn gọi là hoại tử ống thận cấp):

- Nhiễm độc: tetrachlorua carbon, glycol, mật cá trắm, thuốc nam có chứa…

- Thuốc: kháng sinh aminosid, cephalosporin, cyclosporin A…

- Các thuốc khác: chống viêm giảm đau không steroid (Glafenin, paracetamol…), lithium, lợi tiểu nhóm thiazid, các thuốc chống ung thư , các thuốc cản quang có iod…

- Tan máu cấp tính: do truyền nhầm nhóm máu ABO, nhiễm virus, sốt rét ác tính, một số thuốc gây tan máu: quinin, rifampycin, chống viêm giảm đau.

- Tiêu cơ vân cấp tính do: chấn thương cơ, thiếu máu cơ, hôn urê kéo dài, co giật, nghiện heroin, lạm dụng thuốc chống động kinh…

- Các tình trạng sốc: lúc đầu là suy thận cấp chức năng, sau có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp.

- Các nguyên nhân gây viêm kẽ thận cấp tính:

+ Do nhiễm trùng: nhiễm trùng huyết, bệnh do Leptospira, bệnh do Salmonella, viêm thận bể thận cấp.

+ Nguyên nhân thông qua cơ chế miễn dịch dị ứng: kháng sinh: b lactamin, cephalosporin, rifampycin, sulfamid… Một thuốc khác như kháng viêm không steroid, thuốc giảm đau, lợi tiểu thiazid, thuốc chống co giật, alloprinol, cimetidin…

- Rối loạn chuyển hóa: tăng acid uric máu.

- Một số nguyên nhân khác: đa u tủy xương (myeloma), u bạch huyết (lymphoma)…

3.2.3. Các bệnh lý mạch máu tổn thương thận

- Cryoglobulin huyết.

- Viêm nút quanh động mạch.

- Viêm mạch dị ứng.

- Bệnh u hạt Wegner.

- Bệnh Takayasu.

- Chấn thương thận.

- Tắc mạch thận…

3.3. Suy thận cấp sau thận (chiếm khoảng dưới 5% tổng số ca suy thận cấp)

Gồm các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường dẫn niệu:

- Sỏi bể thận, niệu quản.

- U chèn ép, tắc đường bài niệu.

- Nguyên nhân do viêm xơ, chít hẹp: lao thận – tiết niệu, giang mai.

- Xơ hóa sau phúc mạc…

4. Chẩn đoán biến chứng

4.1. Tim mạch

Tình trạng thừa dịch nặng cùng với tăng huyết áp có thể gây phù phổi cấp, suy tim, phù não,… trong giai đoạn thiểu niệu /vô niệu. Trong giai đoạn này cũng thường gặp tình trạng tăng kali máu gây rối loạn nhịp tim, nếu nặng có thể gây ngừng tim. Có thể có tràn dịch màng tim, viêm màng ngoài tim, nhồi máu cơ tim.

4.2. Thần kinh

- Hội chứng tăng urê máu không chỉ gặp trong giai đoạn thiểu niệu /vô niệu mà vẫn có thể thấy ở giai đoạn bệnh nhân đái trở lại hoặc đái nhiều gây rối loạn thần kinh cơ, có thể co giật, hôn mê.

4.3. Tiêu hóa

Viêm loét dạ dày ruột, viêm tụy cấp, xuất huyết đường tiêu hóa đây là một biến chứng rất nặng và làm tăng nguy cơ tử vong.

4.4. Chuyển  hoá

- Bệnh nhân rất dễ bị mất nước và rối loạn điện giải như tăng calci máu, tăng phospho, tăng acid uric, tăng magie máu. Giảm kali, natri máu trong giai đoạn đái nhiều và có thể tử vong nếu không được điều trị đúng và theo dõi chặt chẽ.

- Giảm chuyển hóa insulin, tăng hormon cận giáp và giảm hormon tuyến giáp T3-T4

- Suy dinh dưỡng

4.5. Nhiễm trùng

- Bội nhiễm phổi, đường tiết niệu, vết thương ngoài da, nhiễm khuẩn huyết.

IV. MỘT SỐ THỂ LÂM SÀNG CỦA SUY THẬN CẤP

1. Suy thận cấp trên quan đến quá trình mang thai và sinh đẻ

Các yếu tố tại thận đóng vai trò chủ yếu gây nên tình trạng suy thận cấp bao gồm:

+ Sản giật và tiền sản giật, thiếu máu do mất máu, rau bong non, tắc mạch ối, suy thận sau phá thai…

+ Suy thận cấp sau đẻ có thể do hội chứng tan máu, huyết khối vi mạch và giảm tiểu cầu… Có thể gặp suy thận cấp sau thận do tắc nghẽn niệu quản bởi tử cung to và gây viêm thận bể thận cấp có suy thận cấp.

2. Suy thận cấp trong một số bệnh lý về gan (hội chứng gan thận)

Xảy ra ở các bệnh nhân có bệnh lý gan ở giai đoạn nặng, nguyên nhân được cho là do co mạch và giảm tưới máu thận gây suy thận cấp trước thận. Giảm albumin máu cũng là một yếu tố góp phần làm nặng tình trạng suy thận.

- Một vài trường hợp có thể do mất khối lượng tuần hoàn thực sự do chảy máu đường tiêu hóa, lạm dụng lợi tiểu. Suy thận cấp trong hội chứng gan thận thì nồng độ urê và creatinin máu không phản ánh trung thực mức độ suy thận. Urê và creatinin máu không tăng quá nhiều mặc dù suy thận rất nặng bởi vì có sự giảm sản sinh urê và creatinin.

- Cần phân biệt hội chứng gan thận với tình trạng tổn thương thận do độc chất ở bệnh nhân đã có suy giảm chức năng gan như viêm gan, viêm tổ chức kẽ thận do thuốc hoặc vi khuẩn hoặc các tình trạng viêm mạch có tổn thương gan.

3. Suy thận cấp và các bệnh lý phổi (hội chứng thận phổi)

- Điển hình là hội chứng Goodpasture, bệnh u hạt Weneger và một vài tình trạng viêm mạch khác. Sự có mặt của các kháng thể như: kháng thể kháng màng đáy cầu thận, kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính hoặc giảm bổ thể trong máu giúp chẩn đoán xác định.

- Một vài trường hợp suy thận cấp trước thận có thể gặp ở những bệnh nhân có tăng khối lượng tuần hoàn và phù phổi, hoặc bệnh phổi nặng gây giảm cung lượng tim và gây suy thận cấp trước thận.

4. Suy thận cấp do tiêu cơ vân (Rhabdomyolysis)

- Hay gặp trên lâm sàng, đây là suy thận cấp tại thận do myoglobin. Có tăng cao creatine phosphokinase, phosphate, acid ưric, kali và creatinin máu. Điều đặc trưng ở đây là creatinin máu tăng rất nhanh so với các thể lâm sàng khác của suy thận cấp. Tỷ lệ urê /creatinin máu thường <10 và tăng kali máu thường gặp và xuất hiện sớm.

- Triệu chứng của hạ calci máu cũng rất hay gặp do tình trạng tăng phospho máu và lắng đọng calci ở cơ, calci máu sẽ tăng trở lại ở giai đoạn hồi phục. Về điều trị chú ý khi đã có nước tiểu cần tăng lượng dịch truyền và kiềm hóa nước tiểu nhằm mục đích hòa loãng và làm tăng đào thải sắc tố cơ.

5. Suy thận cấp trong hội chứng thận hư

Một số nguyên nhân gây suy thận cấp trước thận: giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng do dùng lợi tiểu, do albumin máu thấp, do thoát dịch ra ngoài khoảng kẽ gây nên tình trạng cô đặc máu. Do vậy cần bù lại áp lực keo đóng một vai trò quan trọng trong quá trình điều trị suy thận cấp.

- Suy thận cấp tại thận có thể do: biểu hiện của bệnh cầu thận nguyên phát, viêm thận kẽ do thuốc chống viêm non-steroids, rifampin, interferon alfa dùng thuốc nam độc cho thận, do tắc tĩnh, động mạch thận, phù nặng tổ chức kẽ…

- Đa số các trường hợp suy thận cấp trong hội chứng thận hư chức năng thận được phục hồi tốt sau khi điều trị bằng corticoid, lợi tiểu và bù albumin.

V. ĐIỀU TRỊ SUY THẬN CẤP

Để điều trị hiệu quả và đem lại tiên lượng tốt cần chẩn đoán kịp thời suy thận cấp ở giai đoạn còn sớm. Các chỉ số urê và creatinin máu và thể tích nước tiểu đôi khì không phải là dấu hiệu chỉ điểm tốt về tình trạng suy thận cấp, cần chú ý đến các chỉ số về sinh hóa, chuyển hóa và phân tích nước tiểu để chẩn đoán nguyên nhân và phân biệt.

1. Nguyên tắc điều trị

- Nhanh chóng loại bỏ ngay các nguyên nhân có thể gây suy thận (trước thận, sau thận, thuốc): ngừng sử dụng các thuốc độc cho thận hoặc gây dị ứng.

- Cố gắng hồi phục số lượng nước tiểu.

- Điều trị bảo tồn: cân bằng nguồn nước, điện giải, nguồn nitơ (protid, acid amin) vào và ra, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, điều chỉnh thuốc điều trị, theo dõi chặt chẽ bệnh nhân ngăn ngừa và phát hiện xử trí kịp thời các biến chứng.

- Điều trị phù hợp với từng giai đoạn của bệnh, lựa chọn đúng thời điểm và đúng phương pháp điều trị thay thế thận suy hoặc kịp thời chuyển bệnh nhân đến nơi có đủ điều kiện chẩn đoán và điều trị.

2. Điều trị cụ thể

2.1. Suy thận cấp trước thận

- Khi có dấu hiệu mất nước nhất máu cần bù thể tích tuần hoàn (truyền tĩnh mạch NaCl 0,9%; dung dịch keo, plasma, albumin, máu)

- Nếu không thiếu dịch và có nguy cơ tụt HA có thể dùng thuốc vận mạch và chuyển bệnh nhân đến cơ sở có đủ trang bị theo dõi và điều trị các tình trạng sốc.

2.2. Suy thận cấp sau thận

- Loại bỏ tắc nghẽn (phối hợp điều trị triệu chứng): nếu có cầu bàng quang cần đặt ống thông tiểu và tìm nguyên nhân gây tắc đường tiết niệu thấp (tại cổ bàng quang, tuyến tiền liệt, niệu đạo). Trường hợp có tắc đường tiết niệu cao (tại niệu quản, bể thận) cần xem xét chỉ định phẫu thuật (lấy khối u, sỏi) hoặc tán sỏi khi có chỉ định. Có thể phải đặt dẫn lưu bể thận màng quang tạm thời.

- Nếu bệnh nhân đái nhiều sau khi nguyên nhân gây tắc đã được giải quyết gây mất nước điện giải nhiều cần bù nước và điện giải.

2.3. Suy thận cấp tại thận (thực tổn)

Đối với suy thận cấp thực tổn cần điều trị nguyên nhân gây tổn thương thận phối hợp điều trị triệu chứng và hỗ trợ và theo dõi tiến triển của suy thận cấp.

2.3.1. Giai đoạn đái ít vô niệu

Mục đích cơ bản của điều trị trong giai đoạn này là:

- Giảm cân bằng nội môi.

- Hạn chế tăng kali máu.

- Hạn chế tăng nitrơ phi protein máu.

Nước:

- Ở bệnh nhân vô niệu đảm bảo cân bằng âm, nghĩa là vào ít hơn ra.

- Cần lưu ý đến lượng nước mất do nôn, ỉa chảy. Phải tính lượng nước sinh ra do chuyển hóa (vào khoảng 300 ml mỗi ngày). Lượng nước mất qua mồ hôi, hơi thở khoảng 600 ml/ 24giờ.

Lợi tiểu: nhóm furosemid, lợi tiểu quai nhằm đào thải nước và điện giải, đặc biệt là kali, chỉ định khi không có nguyên nhân tắc nghẽn sau thận.

- Liều dùng: phải dò liều, có thể cho 200-500mg/24 giờ hoặc hơn tuỳ vào mức độ đáp ứng bài niệu. Liều khởi đầu thường là 40-80 mg. Liều cao 1000mg/24 giờ có thể được chỉ định. Chú ý về tác dụng gây độc đối với thính giác của dùng liều cao furosemid.

Có thể dùng dopamin liều dùng 1-3mg/kg/phút truyền tĩnh mạch có tác dụng lợi tiểu (tuy nhiên chưa có bằng chứng rõ ràng về tác dụng làm giảm thời gian suy thận).

Khi có tăng kali máu

- Giai đoạn suy thận cấp thực thể phải đảm bảo cân bằng nước điện giải, đặc biệt là tình trạng tăng kali máu. Lựa chọn một hay nhiều biện pháp điều trị hạ kali máu dựa vào mức độ nặng, nhẹ của tình trạng tăng kali máu.

- Hạn chế đưa kali vào: rau quả nhiều kali, thuốc, dịch truyền có kali

- Loại bỏ các ổ hoại tử, chống nhiễm khuẩn.

Các biện pháp có thể điều trị tăng kali máu trong tình huống cấp cứu bao gồm:

- Calci (gluconat hoặc clorua) cần dùng ngay khi có những biểu hiện rối loạn tim mạch nặng (mạch chậm, QRS giãn rộng…) 0,5-2g tiêm TM chậm trong 5-10 phút, tác dụng nhanh nhưng ngắn. Có thể tiêm nhắc lại 30 phút/ lần tiêu dùng phụ thuộc vào nồng độ kali máu.

- Glucose ưu trương (20%, 30%, 50%) 250-500ml kết hợp với Insulin 10 – 20ui truyền TM: bắt đầu tác dụng sau 15 – 30 phút, giảm kali máu 0,5 – 1,5mmol/lít.

- Truyền natribicarbonat: khi có một lượng nước tiểu nhất định (300- 500ml/24giờ) thì việc truyền dịch sẽ dễ dàng hơn: Có thể truyền natri bicarbonat 1,4% hoặc 4,2% hoặc tiêm tĩnh mạch natri bicarbonat 8,4% nếu muốn hạn chế lượng nước đưa vào. Bù natri bicarbonat giúp cải thiện tình trạng toan máu, qua đó ion K không đi từ trong tế bào ra ngoài tế bào. Dùng liều 1mEq/kg, truyền TM chậm (tác dụng rõ trong trường hợp nhiễm toan).

- Resin trao đổi ion uống: polystyrene sulfonate (Kayexalate), Resin calcio, cứ 15g uống phối hợp với sorbitol có thể giảm được 0,5mmol/l. Có thể pha trong dung dịch đẳng trương 100ml thụt hậu môn, tác dụng kém hơn đường uống áp dụng cho một số trường hợp bệnh nhân không có khả năng uống hoặc nôn nhiều. Thuốc sẽ tác dụng sau khoảng 1 giờ.

- Tiếp tục dùng lợi tiểu trong trường hợp bệnh nhân còn đái được, không có tắc đường tiết niệu và không giảm thể tích tuần hoàn

- Lọc máu: thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng khi tăng kali máu dai dẳng không hoặc kém đáp ứng với các biện pháp nêu trên

Điều trị các rối loạn điện giải khác:

- Natri và clo: natri máu hạ do ứ nước. Tốt nhất là hạn chế nước. Khi kali máu hạ nhiều, bệnh nhân có buồn nôn, cần phải bù natri.

- Calci máu: ít khi có hạ calci máu. Nếu có xuất hiện têtani do calci máu thấp thì cho calci gluconat hoặc calci clorua.

Hạn chế tăng nitơ phi protein máu: chủ yếu là hạn chế tăng urê máu:

- Chế độ ăn: giảm đạm 0,4g/kg/24giờ, đủ calo ít nhất 35kcal/kg trọng lượng cơ thể, đủ vitamin.

- Loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn, tránh dùng kháng sinh gây độc cho thận (ví dụ nhóm aminoglycosid), điều chỉnh liều dùng theo mức độ cầu thận cũng như tình trạng nhiễm trùng và đường thải trừ của thuốc.

Điều trị tăng huyết áp:

- Tăng huyết áp thường do thừa thể tích tuần hoàn hoặc do bệnh lý cầu thận: kết hợp lọc máu, lợi tiểu với các nhóm thuốc hạ áp. Khi dùng các nhóm thuốc hạ áp, chú ý chọn lựa tuỳ theo nguyên nhân suy thận.

- Khi có tăng kali máu không dùng các thuốc nhóm ức chế men chuyển, các tác nhân kháng thụ thể angiotensin và các thuốc chẹn bêta giao cảm, vì các thuốc này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tăng kali máu.

Chỉ định lọc máu:

Cần chỉ định lọc máu sớm khi có một trong các dấu hiệu sau:

- Tăng kali máu dai dẳng không giảm bằng các biện pháp điều trị nội khoa hoặc kali máu > 6,5mmol/l.

- Có toan chuyển hóa nặng không cải thiện bằng các phương pháp kiềm hóa.

- Thừa dịch (hypervolemia) đe dọa các biến chứng tim mạch.

- Có những biểu hiện não (encelophathy) như rối loạn tâm thần do hội chứng urê máu cao, viêm ngoại tâm mạc.

2.3.2. Xử trí trong giai đoạn đái trở lại

- Ở giai đoạn này, tuy đái nhiều nhưng chức năng thận chưa hồi phục. Những ngày đầu đái nhiều urê và creatinin máu vẫn còn tăng. Đái nhiều có thể gây mất nước, mất điện giải.

- Cần tiếp tục hạn chế protid trong thức ăn, chỉ tăng protid khi urê máu đã giảm tới mức an toàn (< 10 mmol/1). Chỉ cho rau quả khi không còn nguy cơ tăng kali máu.

- Truyền dịch hoặc uống để chống mất nước và mất điện giải.

+ Trong những trường hợp đái nhiều vừa phải, chỉ cần bù bằng uống oresol (2-2,51/24 giờ).

+ Khi nước tiểu >3 lít, nên bù bằng đường truyền tĩnh mạch. Lượng truyền tuỳ theo lượng nước tiểu.

+ Tuy nhiên nếu sau 5-7 ngày vẫn đái nhiều nên hạn chế lượng dịch truyền và theo dõi tình trạng bệnh nhân, lượng nước tiểu 24 giờ để có thái độ bù dịch thích hợp vì thận đã có thể bắt đầu hồi phục chức năng cô đặc.

- Cần theo dõi sát điện giải máu, đặc biệt là natri và kali máu.

2.3.3. Xử trí trong giai đoạn phục hồi

- Sức khỏe bệnh nhân được phục hồi dần. Khi urê máu trở về bình thường thì cần tăng protid trong khẩu phần ăn và đảm bảo đủ calo và vitamin.

- Cần chú ý tới công tác chăm sóc điều dưỡng ngay từ đầu để chống loét, chống bội nhiễm do nằm lâu. Trung bình sau 4 tuần điều trị thì chức năng thận bắt đầu phục hồi tốt và bệnh nhân có thể xuất viện.

- Theo dõi định kỳ hàng tháng cho đến khi chức năng thận hồi phục hoàn toàn. Đối với các bệnh có thể trở thành mạn tính (bệnh cầu thận, bệnh kẽ thận do thuốc hay nhiễm trùng) cần khám định kỳ cho bệnh nhân lâu dài.

- Tiếp tục điều trị nguyên nhân: tắc nghẽn, bệnh cầu thận nguyên phát, bệnh hệ thống (lupus, myelome…)

3. Các phương pháp điều trị thay thế thận trong suy thận cấp

- Các kỹ thuật lọc máu liên tục dùng để loại bỏ dịch và các độc chất hoà tan, nhất là những bệnh nhân suy thận cấp do ngộ độc mà có tình trạng huyết động không ổn định, tăng dị hóa nhiều.

- Lọc máu ngắt quãng hàng ngày có thể sử dụng thay thế cho lọc máu liên tục đối với các bệnh nhân tăng dị hóa có tình trạng huyết động tương đối ổn định.

- Lọc máu ngắt quãng thường quy có tác dụng loại bỏ dịch và các độc chất hoà tan, được chỉ định cho những bệnh nhân không có tình trạng rối loạn về huyết động và giúp chuẩn bị cho các phẫu thuật giải quyết nguyên nhân suy thận cấp sau thận.

- Lọc màng bụng cấp có thể áp dụng cho các trường hợp suy thận cấp do ngộ độc, có tình trạng huyết động không ổn định, suy tim nặng, và nhất là áp dụng cho các cơ sở không có điều kiện lọc máu.

- Siêu lọc chậm có thể áp dụng cho các bệnh nhân có tình trạng thừa dịch là chủ yếu mà không có rối loạn về chuyển hóa nhiều.

- Lọc huyết tương (Plasma exchange) áp dụng cho các bệnh nhân có nhiễm trùng, nhiễm độc, hoặc một số bệnh tự miễn gây nên suy thận cấp, có tác dụng loại bỏ các phức hợp kháng nguyên kháng thể, các kháng thể lưu hành trong máu, các cytokin và các chất trung gian hóa học.

4. Dinh dưỡng cho bệnh nhân suy thận cấp

- Ưu tiên dinh dưỡng đường miệng nếu bệnh nhân có thể tự ăn và uống được hoặc bệnh nhân không có tình trạng nôn nhiều. Tùy theo từng trường hợp cụ thể và ở từng giai đoạn của suy thận cấp sẽ áp dụng chế độ ăn khác nhau. Tuy nhiên cần cung cấp một chế độ ăn như sau:

- Hạn chế lượng muối đưa vào nên hạn chế ở mức 2 – 4g Na/ngày bao gồm cả lượng muối trong dịch truyền.

- Cung cấp đủ năng lượng: 30 – 50 Kcal/kg/ngày

- Hạn chế tối đa lượng kali thường < 40 mEq/ngày

- Protein < 0,6g/kg/ngày

- Lipid 2 – 2,5g /kg/ngày

- Carbonhydrate: 100g/ngày

- Trong trường hợp lọc máu thì không cần phải hạn chế dinh dưỡng, đặc biệt khi áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục

VI. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA THẬN SAU SUY THẬN CẤP

Tổn thương của cầu thận, ống kẽ thận phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân gây suy thận cấp và xử trí, các tổn thương về cấu trúc và chức năng có thể bao gồm:

1. Những thay đổi của cầu thận

- Dày màng đáy mao quản cầu thận

- Cầu thận có thể bị hyaline hóa hoặc xơ hóa

- Giảm mức lọc cầu thận

- Tăng lọc ở cầu thận bởi các cầu thận lành

- Giảm độ thanh thải inulin

- Tăng nồng độ creatinin máu

- Giảm độ thanh thải urê

- Tăng phân số lọc

2. Những thay đổi của ống- kẽ thận

- Teo ống thận

- Xơ hóa kẽ thận

- Giảm bài tiết phenolsulfonphtalein

- Giảm khả năng cô đặc nước tiểu

3. Một vài biến đổi khác

- Protein niệu kéo dài

- Giảm kích thước thận

- Suy thận cấp tiếp tục tiến triển nặng hơn

- Tiến triển đến suy thận mạn tính trong một số ít trường hợp

VII. TIÊN LƯỢNG

Từ những năm 1960 đến nay, tiên lượng đã có nhiều thay đổi tốt hơn, nhờ có sự đóng góp của các kỹ thuật hồi sức hiện đại. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong còn cao, ở những trung tâm có lọc máu bằng thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng, tỷ lệ tử vong vẫn còn 20 – 40%, tuỳ theo từng nhóm bệnh nhân. Đối với những bệnh nhân suy thận cấp sau mổ lớn, chấn thương nặng, bỏng nặng, nhiễm trùng tử cung sau đẻ, ngộ độc kali loại nặng, tiên lượng rất xấu.

Nguyên nhân gây tử vong có thể do bệnh chính, do nhiễm khuẩn, hội chứng urê máu cao, kali máu cao. Tiên lượng còn phụ thuộc vào bệnh chính, kỹ thuật hồi sức, công tác hộ lý và các biện pháp đề phòng bội nhiễm nhất là bội nhiễm phổi và nhiễm khuẩn từ các vết thương, vết loét.

VIII. DỰ PHÒNG

- Hạn chế tối đa việc sử dụng các thuốc có thể gây độc cho thận, điều chỉnh liều lượng căn cứ vào mức lọc cầu thận

- Duy trì đủ thể tích tuần hoàn, gây tăng bài niệu trong một số trường hợp cụ thể (như phẫu thuật tim, chấn thương nặng, tiêu cơ vân, tan máu trong mạch, dùng các thuốc cản quang nhất là cản quang đường tĩnh mạch…).

- Hồi sức tích cực cho các bệnh nhâm chấn thương, bù đủ dịch sớm để đề phòng suy thận cấp trước thận.

- Giải quyết ngay các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường dẫn niệu khi được phát hiện nhằm ngăn ngừa biến chứng suy thận cấp.

IX. KẾT LUẬN

- Suy thận cấp là một hội chứng nặng nhưng có thể hồi phục. Cần phát hiện sớm suy thận cấp cũng như nguyên nhân gây suy thận cấp.

- Chẩn đoán chủ yếu dựa vào đái ít vô niệu, urê máu, kali máu tăng cao dần.

- Theo dõi lượng nước tiểu liên tục hàng giờ và các diễn biến lâm sàng và xét nghiệm khác phải đánh giá hàng ngày thậm chí hàng giờ như: creatinin, urê, kali máu, tình trạng thăng bằng kiềm toan.

- Xử trí phải tuỳ theo nguyên nhân và giai đoạn, theo dõi và xử trí kịp thời các biến loạn trên bệnh nhân có thể được cứu sống hoàn toàn.

- Những trường hợp urê, kali tăng ít và đáp ứng với điều trị thì không cần lọc máu. Nếu urê máu tăng nhanh, kali máu cao hoặc có các biến chứng nặng khác thì cần lọc máu kịp thời nhằm đưa bệnh nhân nhanh chóng khỏi tình trạng nguy kịch góp phần giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân suy thận cấp.

 

 

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là khi vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang hay thận và sinh sôi nẩy nở rồi gây nhiễm khuẩn cho nước tiểu, cuối cùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến từng cơ quan của hệ tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ.

Bất cứ một phần nào trong hệ tiết niệu đều có thể bị nhiễm khuẩn, kể từ thận, niệu quản cho đến bàng quang và niệu đạo.  Nhiễm khuẩn niệu đạo hay gặp ở phụ nữ vì niệu đạo nữ ngắn hơn nam lại gần với trực tràng và âm đạo là những vị trí dễ có vi khuẩn. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi (NCT) thì gặp nhiều khó khăn hơn do sức đề kháng của NCT ngày một suy giảm. Đường tiết niệu bao gồm hai quả thận, hai niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Mỗi khi bị viêm một trong các bộ phận đó thì có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ đường tiết niệu, nhất là ảnh hưởng đến thận. Đối với NCT, việc phát hiện sớm bệnh viêm đường tiết niệu cũng nhưthực hiện một số biện pháp phòng bệnh là hết sức cần thiết.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Về căn nguyên gây nhiễm khuẩn cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu là do vi khuẩn. Một số vi khuẩn thường gặp gây nhiễm trùng đường tiết niệu như E.coli, Proteus, Enterobacter, S. sprophyticus, S. epidermidis, N. gonorrheae, C. trachomatis, Mycoplasma… Trong các căn nguyên vi khuẩn này thì chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là E.coli, thứ đến là Proteus, S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). Ngoài ra người ta còn gặp một số NCT bị viêm đường tiết niệu do vi nấm.

Nguyên do bị nhiễm trùng đường tiết niệu khá phong phú. Ở những phụ nữ mới lập gia đình, có đến 50% bị nhiễm trùng đường tiết niệu thông qua quan hệ tình dục vào những lần đầu tiên do bạn đời không vệ sinh sạch sẽ. Tuy nhiên, thật ra mầm bệnh đã có sẵn ở phần âm hộ, vì đây là nơi gần hậu môn. Khi giao hợp, mầm bệnh được tạo điều kiện thuận lợi để đi vào niệu đạo.

Một nguyên do khác gặp phải ở phụ nữ mãn kinh. Do bị khô màng nhầy vì thiếu hụt estrogen, vi khuẩn dễ dàng lấn chiếm. Các tác nhân gây viêm sẽ phát triển nhanh hơn do khan hiếm Doderlein ở vùng âm hộ, mà đây là vũ khí chống lại các mầm bệnh.

Ở những phụ nữ phải ngâm mình trong môi trường ẩm ướt lâu dài và thiếu ý thức vệ sinh, việc nhiễm trùng đường tiết niệu là điều dễ hiểu. Ngoài ra, còn một nguyên do khác ở những người bị táo bón lâu ngày, thức ăn di chuyển chậm qua ruột làm gây ứ đọng trong vùng hậu môn và âm hộ.

Đối với người cao tuổi, do sức đề kháng ngày một giảm, thường mắc chứng sa sút trí tuệ (ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hoà của thần kinh trung ương), đi tiểu không kiểm soát được nên dễ bị viêm đường tiết niệu ngược dòng. người cao tuổi có thể gặp nhiễm khuẩn đường tiết niệu cả phần trên (thận) và cả phần dưới (niệu quản, bàng quang và niệu đạo). Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người cao tuổi. Nguyên nhân có thể từ nội tại (nội sinh) và cũng gặp nguyên nhân bên ngoài đưa đến (ngoại sinh). Nguyên nhân nội sinh gây nhiễm khuẩn đường tiểu ở người cao tuổi nhưsỏi đường tiết niệu, một số trường hợp do cản trở dòng chảy của nước tiểu, lâu dần nước tiểu bị nhiễm vi sinh vật gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu nhưmột số bệnh của tiền liệt tuyến, bệnh đái tháo đường, chấn thương cột sống, nằm lâu do bại liệt hoặc do bất động bởi cố định xương bị gãy (gãy xương đùi hoặc xương chậu hay gặp ở người cao tuổi). Một số nguyên nhân ngoại sinh gây nên viêm đường tiết niệu nhưnong niệu đạo, mổ lấy sỏi hoặc mổ u xơtiền liệt tuyến bị bội nhiễm, viêm tiền liệt tuyến đưa đến viêm đường tiết niệu.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Một số triệu chứng hay gặp viêm đường tiết niệu ở người cao tuổinhư đau lưng. Đau lưng có thể âm ỉ và xuất hiện từng lúc nhưng có khi đau thành cơn rõ rệt, nhất là những lúc có bưng bê hoặc xách, mang vật nặng. Nhiều trường hợp có sốt và rét run (tuy nhiên ở người cao tuổicó sức đề kháng kém thì sốt nhẹ hoặc không sốt mà chỉ thấy ớn lạnh), đi tiểu nhiều lần, tiểu khó (buồn đi tiểu nhưng không tiểu được) và có thể tiểu đau, buốt. Màu của nước tiểu có thể đục, có thể màu hồng (đái ra máu đại thể). Nếu viêm đường tiết niệu do có vật cản như sỏi đường tiết niệu  thì thường kèm theo đau lưng hoặc có cơn đau quặn thận có thể bị đái dắt, đái buốt… Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu, ngoài các triệu chứng lâm sàng cần làm các xét nghiệm có liên quan như siêu âm, chụp Xquang, xét nghiệm nước tiểu tìm căn nguyên vi khuẩn bằng cách cấy nước tiểu đúng thường quy mới hy vọng tìm ra căn nguyên gây nhiễm khuẩn.

Bi ến chứng của nhiễm khuẩn đường tiếu niệu:

Viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi nếu không phát hiện và điều trị tốt có thể đưa đến một số biến chứng rất nguy hiểm nhưviêm thận, bể thận cấp tính có thể đưa đến suy thận, áp-xe quanh thận. Viêm đường tiết niệu cũng có thể đưa đến nhiễm khuẩn huyết là một bệnh cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng của người cao tuổi.

III. ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU:

Tuỳ theo vị trí nhiễm khuẩn thấp hay cao (viêm thận – bể thận), mức độ nặng hay nhẹ, tính chất cấp tính hay mạn tính và chủng vi khuẩn gây bệnh mà có những biện pháp điều trị khác nhau. Nguyên tắc chung là lựa chọn kháng sinh thích hợp, tốt nhất là dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (tức là sau khi cấy nước tiểu hoặc máu thấy vi khuẩn gây bệnh thì đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với một số thuốc kháng sinh, từ đó lựa chọn kháng sinh nhạy cảm nhất, dễ hấp thu, ít tác dụng phụ nhất, sẵn có và cân nhắc cả về vấn đề kinh tế); điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ khác.

Trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu thấp thường dùng kháng sinh đường uống kết hợp với thuốc sát khuẩn tại chỗ. Các kháng sinh thường dùng có tác dụng tốt trong nhiễm khuẩn tiết niệu thấp hiện nay như nhóm quinolon: peflacin 400mg uống 2 viên/ngày chia hai lần hoặc ciprofloxacin 500mg uống 2 viên/ngày chia hai lần. Lưu ý không sử dụng quinolon cho phụ nữ có thai, đang cho con bú và trẻ em dưới 16 tuổi vì thuốc ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ do gây tổn thương sụn khớp. Các nhóm kháng sinh khác như cephalosporin (cefuroxim 500mg uống 2 viên/ngày chia hai), beta lactam (ampicillin) cũng có tác dụng tốt. Một kháng sinh thông thường, rẻ tiền, khá thông dụng hiện nay là co-trimoxazon (Biseptol, viên 480mg, uống 4 viên/ngày chia hai) cũng có tác dụng trong một số trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu nhẹ, tuy nhiên tỷ lệ vi khuẩn kháng kháng sinh này hiện nay khá cao. Thời gian sử dụng kháng sinh tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ chuyên khoa, căn cứ từng trường hợp cụ thể mà có thể dùng liều duy nhất hay dùng kéo dài 3 – 10 ngày hay kéo dài hơn. Hiện nay hay dùng kháng sinh kết hợp với một số hoá chất như nitrofurantoin, Mictasol bleu… là những thuốc đào thải gần như nguyên vẹn qua đường tiểu nên có tác dụng sát khuẩn tại chỗ.

Trường hợp viêm thận – bể thận cấp hay đợt cấp của viêm thận – bể thận mạn cần dùng kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao và nên phối hợp ít nhất hai kháng sinh. Thời gian dùng kháng sinh cũng dài hơn trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu thấp, ít nhất cũng dùng trong 14 ngày. Lựa chọn thuốc tốt nhất theo kháng sinh đồ, tuy nhiên do kháng sinh đồ cho kết quả muộn hoặc cấy không mọc vi khuẩn nên cần cho kháng sinh sớm theo kinh nghiệm, dựa vào vi khuẩn hay gặp, tuổi mắc bệnh, các bệnh lý kèm theo… Các thuốc có thể dùng như quinolon (ciprofloxacin 500mg, 2 lọ/ngày truyền tĩnh mạch) kết hợp Augmentin 500mg uống 2.000mg/ngày; hoặc cephalosporin (ceftriaxon 1g, 2lọ/ngày tiêm tĩnh mạch) kết hợp hoặc thuốc nhóm quinolon uống hay truyền tĩnh mạch – hoặc kết hợp thuốc aminosid (amikacin 500mg, 2 lọ/ngày) tiêm bắp hoặc pha truyền tĩnh mạch một lần trong ngày.

Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác trong bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu bao gồm uống nhiều nước thường trên 1,5 lít/ngày, hạ sốt giảm đau, nâng cao thể trạng. Điều trị các yếu tố thuận lợi như điều trị sỏi tiết niệu (uống thuốc tan sỏi, tán sỏi qua siêu âm, phẫu thuật lấy sỏi…), điều trị u phì đại lành tính tiền liệt tuyến, điều trị các dị dạng đường niệu, điều trị các bệnh kèm theo. Điều trị các biến chứng của bệnh như suy thận, thiếu máu, tăng huyết áp

Tóm lại nhiễm khuẩn tiết niệu là một bệnh khá thường gặp ở nam giới, nếu phát hiện sớm, điều trị tích cực có thể khỏi hẳn không để lại di chứng, có thể dẫn đến suy thận mạn tính là bệnh có tiên lượng xấu.

Phòng b nh nhi ễm khuẩn đường tiếu niệu:

Để phòng bệnh và tránh bệnh lặp lại sau khi điều trị, cần có thói quen uống nhiều nước (2 lít/ngày) để rửa sạch bàng quang, đào thải các thành phần có hại, tránh sự tăng sinh của mầm bệnh. Nên ăn nhiều loại trái cây nhưcam, chanh, bưởi thường xuyên. Các loại trái cây này làm nước tiểu bị chua, trong môi trường acid vi khuẩn khó phát triển. Khi mắc tiểu, không được nín nhịn mà phải đi ngay, thậm chí không cần chờ đến cảm giác mắc tiểu mới đi mà canh chừng 2 đến 3 giờ là phải tự đi tiểu. Nước tiểu càng ứ đọng thì mầm bệnh càng có cơhội phát triển.

Sau mỗi lần giao hợp, các chị em nên đi tiểu ngay và vệ sinh sạch sẽ vùng cửa mình để loại bỏ các vi khuẩn được đưa vào niệu đạo và bàng quang. Mỗi ngày phải vệ sinh vùng kín một lần, khi rửa nên thực hiện từ trước ra sau, tránh mang vi khuẩn có sẵn ở âm hộ và hậu môn vào đường tiểu. Trong chu kỳ kinh nguyệt, chị em phải thay băng thường xuyên dù máu có ít hay nhiều. Mọi ứ đọng sẽ là nguyên nhân cho mầm bệnh phát triển và tấn công bàng quang.

U nang tuyến tụy

U nang tuyến tụy

Có thể có u nang tuyến tụy, bao gồm u nang giả, nhưng trải nghiệm không có triệu chứng . U nang tụy thường được phát hiện khi kiểm tra hình ảnh của bụng được thực hiện vì lý do khác

Định nghĩa

U nang tuyến tụy là bất thường, túi giống như chất lỏng trên hoặc bên trong tuyến tụy. Mặc dù nó có thể được báo động để tìm hiểu có một u nang tụy, những tin tức tốt lành nhất u nang tuyến tụy là không được ung thư và nhiều người thậm chí không gây ra triệu chứng.

Trong thực tế, nhiều u nang tuyến tụy không phải là u nang ở tất cả. Gọi là pseudocysts, những túi chất lỏng (lành tính) không phải ung thư không được lót bằng các loại tế bào được tìm thấy trong các u nang thực sự, nhưng thay vào đó, với mô viêm hoặc sẹo.

Nhưng vì một số u nang tuyến tụy có thể là ung thư, bác sĩ có thể muốn có một mẫu chất dịch u nang tuyến tụy để xác định xem tế bào ung thư có mặt. Nếu u nang được hoặc có thể trở thành ung thư, điều trị bao gồm phẫu thuật cắt bỏ.

Các triệu chứng

Có thể có u nang tuyến tụy, bao gồm u nang giả, nhưng trải nghiệm không có triệu chứng. U nang tụy thường được phát hiện khi kiểm tra hình ảnh của bụng được thực hiện vì lý do khác. Khi dấu hiệu hoặc triệu chứng xảy ra, chúng thường bao gồm:

Liên tục đau bụng, mà có thể lan tới lưng.

Một khối có thể cảm thấy ở bụng trên, nơi vị trí tuyến tụy.

Buồn nôn và ói mửa.

Đến gặp bác sĩ khi

U nang có thể bị nhiễm trùng, nên gặp bác sĩ nếu đang sốt và đau bụng liên tục.

U nang vỡ là một cấp cứu y tế. Khi vỡ u nang, dịch phát hành có thể làm hỏng các mạch máu gần đó và gây chảy máu nặng. Nó cũng có thể gây nhiễm trùng ổ bụng (viêm phúc mạc). Tìm kiếm sự điều trị y tế khẩn cấp nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng của chảy máu bên trong, bao gồm:

Bất tỉnh.

Cơn đau nặng.

Giảm ý thức.

Yếu và nhịp tim đập nhanh.

Nôn ra máu.

Nguyên nhân

Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân của một u nang tụy đặc biệt là chưa biết. Gen đột biến có thể dẫn đến u ung thư. Một số u nang có liên quan với căn bệnh hiếm gặp – chẳng hạn như bệnh von Hippel-Lindau, là một rối loạn di truyền có thể ảnh hưởng đến não, võng mạc, tuyến thượng thận, thận và tuyến tụy.

U nang thường theo sau một cơn viêm tụy, một tình trạng đau đớn, trong đó các enzym tiêu hóa của tuyến tụy sớm trở thành hoạt động và tiêu hóa một số các tuyến tụy của chính nó. U nang cũng có thể là do chấn thương bụng, chẳng hạn như trong một tai nạn xe hơi.

Yếu tố nguy cơ

Sử dụng rượu nặng và sỏi mật là yếu tố nguy cơ viêm tụy, viêm tụy và là một yếu tố nguy cơ u nang – loại phổ biến nhất của u nang tuyến tụy.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

U nang tụy được chẩn đoán thường xuyên hơn so với trong quá khứ, nhưng không phải vì có nhiều người hơn. Thay vào đó, cải thiện hình ảnh công nghệ đã có những u nang tụy dễ dàng hơn để tìm kiếm. Trong thực tế, nhiều u nang tuyến tụy được tìm thấy trong quá trình quét bụng cho các vấn đề khác.

Thách thức lớn nhất của quá trình chẩn đoán được xác định liệu các u nang tụy là ung thư hay không. Các xét nghiệm sau đây thường được sử dụng để giúp chẩn đoán và để giúp kế hoạch điều trị:

Lịch sử y tế. Một lịch sử trước đó của viêm tụy hoặc chấn thương vùng bụng thường là dấu hiệu của một pseudocyst.

CT scan. CT scan tuyến tụy kết hợp một loạt các X-quang từ góc độ khác nhau để cung cấp cho bác sĩ thông tin chi tiết về cấu trúc của một u nang tụy. Nó đôi khi có thể giúp phân biệt u nang ung thư từ những người không phải ung thư.

MRI quét. MRI quét, trong đó sử dụng một từ trường và sóng vô tuyến để tạo ra hình ảnh, có thể làm nổi bật các chi tiết tinh tế của một cấu trúc nang tụy, bao gồm cả xem có bất kỳ thành phần vững chắc đến u nang.

Siêu âm nội soi. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu siêu âm nội soi để hình dung các nang và để có được dịch từ u nang để phân tích. Trong nghiên cứu này, một ống mỏng, linh hoạt (nội soi) được truyền qua miệng và vào dạ dày và ruột non trên. Nội soi này được trang bị với một đầu dò siêu âm nhỏ được sử dụng để có được hình ảnh của các u nang, và với một cây kim để có được chất dịch từ u nang.

Đánh giá u nang nước. Chất lỏng được lấy từ một u nang được kiểm tra trong phòng thí nghiệm các dấu hiệu có thể có của bệnh ung thư. Một trong những dấu hiệu, hoặc đánh dấu, là một chất gọi là kháng nguyên carcinoembryonic (CEA). Nồng độ CEA trong mẫu chất lỏng gợi ý của bệnh ung thư.

Trong một số trường hợp, các đặc điểm và vị trí của các u nang trong tuyến tụy – cùng với tuổi và giới tính có thể giúp bác sĩ xác định loại u nang có.

Huyết thanh u nang tuyến (Cystadenoma). Sự tăng trưởng này có thể trở thành đủ lớn để di dời các cơ quan gần đó, gây ra các triệu chứng như đau bụng và cảm giác sung mãn. cystadenomas huyết thanh thường xuyên xảy ra nhất ở phụ nữ trung niên và hiếm khi trở thành ung thư.

Mucinous cystadenoma. Đây là loại u nang thường được đặt trong cơ thể hoặc đuôi của tụy và thường xảy ra ở phụ nữ trung niên. Đó là tiền ung thư và có thể đã ung thư khi phát hiện ra. U nang lớn hơn có nhiều khả năng là ung thư.

Mucinous ống dãn. Phổ biến ở nam giới, loại u nang bao gồm các phân đoạn ductal giãn, thường là trong đầu của tuyến tụy. Còn được gọi là một khối u nhú mucinous intraductal, loại hình này tăng trưởng thường là tiền ung thư hoặc ung thư.

Khối u mao nang. Một khối u nhú nang – còn được biết đến như là một khối u nang nhú, hay và pseudopapillary khối u rắn – xảy ra thường xuyên nhất ở phụ nữ trẻ và thường nằm trong cơ thể hoặc đuôi của tụy. Nó thường ung thư.

Nang tế bào khối u rắn. Đây là loại khối u tuyến tụy chủ yếu là rắn nhưng có thể có như các thành phần u nang. Nó có thể bị nhầm lẫn với các u nang tụy khác.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị khác nhau tùy thuộc vào loại u nang và cho dù nó gây ra triệu chứng. Đôi khi, không điều trị là cần thiết.

Cảnh giác chờ đợi

Một u nang lành tính – ngay cả lớn, có thể ở không cần điều trị miễn là nó không làm phiền.

Bởi vì một cystadenoma huyết thanh như vậy rất hiếm khi phát triển thành ung thư, nó cũng có thể theo dõi, trừ khi nó gây ra triệu chứng hoặc phóng to. Bác sĩ có thể muốn theo kích thước của nó theo thời gian bằng cách quét lặp lại kiểm tra, đặc biệt là nếu một u nang tiền ung thư không thể được loại trừ.

Thoát nước

Một u nang gây ra các triệu chứng khó chịu hoặc phát triển lớn hơn có thể được lấy bằng kim, thường với việc sử dụng một đèn nội soi, một ống nhỏ, linh hoạt đi qua miệng đến dạ dày và ruột non. Nội soi có thể được trang bị với một cây kim để lấy nước từ các u nang.

Phẫu thuật

U nang mở rộng hoặc cystadenoma huyết thanh gây ra đau hoặc các triệu chứng khác có thể được phẫu thuật cắt bỏ. Tuy nhiên, một u nang loại bỏ có thể tái phát nếu có viêm tụy đang diễn ra.

Điều trị cho hầu hết các loại tổn thương ở tuyến tụy thường là phẫu thuật cắt bỏ, vì nguy cơ ung thư. Phẫu thuật là rất hiệu quả, với rất ít cơ hội tái phát.

Phòng chống

Cách tốt nhất để tránh u nang là để tránh viêm tụy, mà thường do sỏi mật hoặc sử dụng nhiều rượu. Nếu viêm tụy là do lạm dụng rượu, kiêng rượu có thể làm giảm nguy cơ. Nếu sỏi mật đang gây viêm tụy, có thể cần phải loại bỏ túi mật.

Theo Dieutri.vn

U đại tràng

U đại tràng

U đại tràng! Chảy máu trực tràng, máu trong phân, táo bón hay tiêu chảy, đau hoặc tắc nghẽn…Đi khám nếu: Đau bụng, máu trong phân, một sữ thay đổi thói quen ruột kéo dài hơn 1 tuần…Nên kiểm tra sàng lọc u độ tuổi 50 hoặc lớn hơn…

Định nghĩa

Một polip đại tràng là một cụm nhỏ các tế bào hình thức trên lớp lót của ruột kết. Mặc dù hầu hết các khối u đại tràng là vô hại, một số trở thành ung thư theo thời gian.

Bất cứ ai cũng có thể phát triển khối u đại tràng. Nhưng đang có nguy cơ cao hơn nếu đang 50 tuổi trở lên, thừa cân hoặc người hút thuốc , chế độ ăn uống chất béo thấp sợi, hoặc có một lịch sử cá nhân hay gia đình của các khối u đại tràng hay ung thư ruột kết.

Thông thường, khối u đại tràng không gây ra triệu chứng . Đó là lý do tại sao các chuyên gia khuyên nên kiểm tra thường xuyên. Khối u đại tràng được tìm thấy trong giai đoạn đầu thường có thể được gỡ bỏ một cách an toàn và hoàn toàn. Chiếu giúp ngăn ngừa ung thư ruột kết, một căn bệnh phổ biến mà thường gây tử vong khi nó được tìm thấy trong các giai đoạn sau.

Các triệu chứng

Khối u khoảng từ nhỏ hơn một hạt đậu cho đến cỡ quả bóng golf. Khối u nhỏ không có khả năng gây ra vấn đề. Có thể không biết cho đến khi tìm thấy nó trong một cuộc kiểm tra ruột. Đôi khi, tuy nhiên, có thể có các dấu hiệu và triệu chứng như:

Chảy máu trực tràng. Có thể nhận thấy máu đỏ tươi trên giấy vệ sinh sau khi đi tiêu. Mặc dù điều này có thể là một dấu hiệu của khối u đại tràng hay ung thư ruột già, trực tràng chảy máu có thể chỉ ra các điều kiện khác, chẳng hạn như trĩ hay vết nứt của trẻ vị thành niên ở hậu môn. Nên thảo luận về bất cứ chảy máu trực tràng với bác sĩ.

Máu trong phân. Máu có thể hiển thị như là vệt đỏ trong phân hoặc đi tiêu đen xuất hiện. Tuy nhiên, một sự thay đổi về màu sắc không phải luôn luôn chỉ ra một vấn đề, bổ sung sắt và một số thuốc chống tiêu chảy có thể làm cho phân có màu đen, trong khi củ cải đỏ và cam thảo có thể biến phân có màu đỏ.

Táo bón, tiêu chảy, thu hẹp phân. Mặc dù sự thay đổi trong thói quen ruột kéo dài lâu hơn một tuần có thể chỉ ra sự hiện diện của một polip đại tràng lớn, nó cũng có thể do một số điều kiện khác.

Đau hoặc tắc nghẽn. Đôi khi một polip đại tràng lớn có thể cản trở một phần ruột, dẫn đến đau bụng, buồn nôn, nôn và táo bón nặng.

Đi khám bác sĩ nếu nhận thấy các triệu chứng sau đây

Đau bụng.

Máu trong phân.

Một sự thay đổi trong thói quen ruột  kéo dài lâu hơn một tuần.

Nên được kiểm tra thường xuyên cho khối u nếu

Đang độ tuổi 50 hoặc lớn hơn.

Có yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư ruột kết, trong một số trường hợp, cá nhân có nguy cơ cao nên bắt đầu kiểm tra thường xuyên sớm hơn nhiều so với tuổi 50.

Nguyên nhân

Đường tiêu hóa trải dài từ miệng đến hậu môn. Khi thực phẩm đi dọc theo hành lang 9 mét, chất dinh dưỡng được chia thành một hình thức có thể được hấp thụ bởi cơ thể và được sử dụng để xây dựng các tế bào và sản xuất năng lượng.

Phần cuối cùng của đường tiêu hóa là một ống dài được gọi là ruột già. Đại tràng là trên 1 – 2 mét của ruột già, trực tràng chiếm thấp hơn 20 – 25 cm. Chức năng chính của ruột kết là hấp thụ nước, muối và các khoáng chất khác từ đại tràng. Chất thải tới cửa trực tràng cho đến khi nó loại bỏ khỏi cơ thể.

Tại sao hình thành khối u

Đa số các khối u không phải là ung thư (ác tính). Tuy nhiên, giống như hầu hết ung thư, khối u là kết quả của sự tăng trưởng tế bào bất thường. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và phân chia một cách có trật tự, một quá trình kiểm soát bởi hai nhóm lớn các gien. Đột biến trong bất kỳ của những gen này có thể gây ra các tế bào tiếp tục phân chia tế bào mới ngay cả khi không cần thiết. Trong ruột già và trực tràng, điều này không được kiểm soát tăng trưởng có thể gây ra khối u hình thành. Sau một thời gian dài, một số trong những khối u có thể trở thành ác tính.

Bướu thịt có thể phát triển bất cứ nơi nào trong ruột già. Chúng có thể nhỏ hoặc lớn và bằng phẳng (không cuống) hoặc hình nấm và được gắn vào một thân. Khối u nhỏ và hình nấm ít có khả năng trở thành ác tính hơn những khối lớn. Nhìn chung, các polip lớn hơn là khả năng lớn hơn của bệnh ung thư.

Có ba loại chính của khối u đại tràng

Adenomatous. Khoảng hai phần ba của tất cả các khối u thuộc thể loại này. Mặc dù chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ của những khối u thực sự trở thành ung thư, khối u ác tính gần như tất cả adenomatous.

Hyperplastic. Hầu hết các khối u còn lại là hyperplastic. Các khối u thường xảy ra nhất trong đại tràng và trực tràng. Thông thường ít hơn 5 mm kích thước, rất hiếm khi ác tính.

Viêm. Những bướu thịt có thể theo một dạng của viêm loét đại tràng hay bệnh Crohn của ruột kết. Mặc dù chính nó là khối u không phải là một mối đe dọa lớn, có viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn của ruột kết tổng thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết.

Yếu tố nguy cơ

Một số yếu tố có thể góp phần vào sự hình thành của khối u ruột kết và ung thư ruột kết. Chúng bao gồm:

Tuổi. Phần lớn những người bị ung thư ruột kết là 50 tuổi trở lên. Nguy cơ ngày càng tăng thường bắt đầu ở tuổi 40.

Viêm đường ruột. Lâu dài bệnh viêm ruột kết, chẳng hạn như viêm loét đại tràng và bệnh Crohn, có thể làm tăng nguy cơ.

Lịch sử gia đình. Có nhiều khả năng phát triển khối u đại tràng hay ung thư nếu có cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con. Nếu nhiều thành viên gia đình có, nguy cơ còn lớn.

Trong một số trường hợp kết nối này không phải là cha truyền con nối hoặc di truyền. Ví dụ, bệnh ung thư trong cùng một gia đình có thể chia sẻ kết quả từ tiếp xúc với một chất gây ung thư (carcinogen) trong môi trường hoặc từ chế độ ăn tương tự hoặc các yếu tố lối sống.

Hút thuốc lá và rượu. Hút thuốc làm tăng nguy cơ đáng kể của khối u ruột kết và ung thư ruột kết. Người hút thuốc, 20 phần trăm nhiều khả năng phát triển ung thư ruột kết hơn là người không hút thuốc. Uống rượu, đặc biệt là bia vượt quá cũng làm cho nó nhiều khả năng sẽ phát triển các khối u đại tràng. Nếu hút thuốc và uống rượu, nguy cơ tăng nhiều hơn.

Một lối sống ít vận động. Nếu không hoạt động, đang có nhiều khả năng phát triển ung thư ruột kết. Điều này có thể bởi vì khi không hoạt động, thời gian chất thải ở lại trong ruột già dài hơn.

Trọng lượng. Thừa cân hoặc béo phì có liên quan đến tăng nguy cơ một số loại ung thư, bao gồm cả ung thư ruột kết.

Chủng tộc. Nếu là màu đen hoặc một người Do Thái, có nguy cơ cao phát triển ung thư ruột kết.

Thừa kế gene đột biến. Một yếu tố nguy cơ khối u đại tràng là đột biến di truyền. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh ung thư ruột kết là kết quả của đột biến gen. Một số các bệnh ung thư được NST thường chi phối, có nghĩa là cần phải kế thừa chỉ có một gene khiếm khuyết từ hoặc một trong cha mẹ . Nếu bố hoặc mẹ có gen đột biến, có cơ hội 50 phần trăm của kế thừa đột biến. Mặc dù kế thừa một gen khiếm khuyết làm tăng nguy cơ rất nhiều, không phải tất cả mọi người với gen đột biến phát triển bệnh ung thư.

Gia đình adenomatous polyposis (FAP). Đây là một rối loạn di truyền hiếm gặp gây ra phát triển hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các khối u trong màng của ruột già trong những năm đầu tuổi thiếu niên. Nếu không được điều trị, nguy cơ phát triển ung thư ruột già gần như 100 phần trăm, thường là trước tuổi 40. Các tin tức đáng khích lệ về FAP là trong một số trường hợp, thử nghiệm di truyền có thể giúp xác định xem đang có nguy cơ của bệnh. Những người có FAP cũng có nguy cơ bị ung thư ruột non, đặc biệt là ở tá tràng.

Hội chứng Gardner. Hội chứng này ít gặp hơn là một biến thể của FAP. Tình trạng này gây ra khối u phát triển trong suốt ruột già và ruột non. Cũng có thể phát triển các khối u noncancerous ở các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm cả da  (u nang bã nhờn và lipomas), xương và bụng.

MYH – liên polyposis (MAP). Điều này được thừa hưởng tình trạng cũng tương tự như FAP. Những người có khối u thường phát triển MAP nhiều adenomatous và ung thư ruột già ở độ tuổi trẻ, chẳng hạn như ở độ tuổi 20. Đây là một căn bệnh mới được phát hiện. Thử nghiệm di truyền có thể giúp xác định xem đang có nguy cơ bị MAP, bị gây ra bởi đột biến ở gen MYH.

Hội chứng Lynch. Điều kiện này, còn gọi là ung thư đại trực tràng di truyền nonpolyposis (HNPCC) là hình thức phổ biến nhất của ung thư đại tràng di truyền. Những người có hội chứng Lynch có xu hướng phát triển các khối u đại tràng tương đối ít, nhưng những khối u có thể nhanh chóng trở thành ác tính. Hoặc, những người có hội chứng Lynch có thể có khối u ở các cơ quan khác, bao gồm vú, dạ dày, ruột, đường tiết niệu và buồng trứng cũng như trong ruột kết.

Hội chứng Peutz – Jeghers (PJS). Tình trạng di truyền này thường bắt đầu với tàn nhang phát triển trên khắp cơ thể, bao gồm cả môi, nướu răng và bàn chân. Sau đó, khối u lành tính phát triển trong ruột. Những khối u có thể trở thành ác tính, vì vậy những người có điều kiện này có làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết.

Các biến chứng

Một số khối u có thể trở thành ung thư (ác tính), có nghĩa là có thể phát triển ung thư ruột kết. Các khối u trước đó được loại bỏ, nó ít có khả năng sẽ trở thành ác tính.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Gần như tất cả bệnh ung thư ruột kết phát triển từ khối u, nhưng các khối u phát triển chậm, thường là trong khoảng thời gian của năm. Xét nghiệm sàng lọc đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện khối u trước khi chúng trở thành ung thư. Các xét nghiệm này cũng có thể giúp tìm ung thư đại trực tràng ở giai đoạn đầu, khi có một cơ hội tốt của phục hồi. Khi giai đoạn đầu bệnh ung thư được tìm thấy và gỡ bỏ trong quá trình kiểm tra thường xuyên, tỷ lệ sống sót năm năm có thể cao tới 90 phần trăm.

Một số phương pháp sàng lọc tồn tại, mỗi với lợi ích và rủi ro riêng của nó. Hãy chắc chắn để thảo luận về những việc này với bác sĩ:

Tìm máu trong phân. Thử nghiệm này không xâm lấn tìm máu trong một mẫu phân. Nó có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ. Điều quan trọng là làm theo hướng dẫn cẩn thận, bởi vì chế độ ăn uống và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến kết quả. Trả lại kit thử nghiệm cho một phòng thí nghiệm, văn phòng của bác sĩ để được kiểm tra.

Rủi ro và lợi ích. Mặc dù thử nghiệm này là tương đối dễ dàng, nó được thiết kế để tầm soát ung thư, không phải cho bướu thịt. Một vấn đề là hầu hết khối u không chảy máu, cũng không loại trừ tất cả các bệnh ung thư. Điều này có thể dẫn đến một kết quả xét nghiệm âm tính, ngay cả khi có thể có một polip hoặc ung thư. Mặt khác, nếu máu xuất hiện trong phân, nó có thể là kết quả của tình trạng trĩ hoặc một đường ruột khác hơn là ung thư. Đối với những lý do này, nhiều bác sĩ khuyên nên kiểm tra các phương pháp khác thay vì các xét nghiệm tìm máu trong phân. Ngoài ra, ngay cả khi xét nghiệm là âm tính, nếu đã thấy máu trong nhà vệ sinh, giấy vệ sinh hoặc phân, sẽ cần phải đi thử nghiệm thêm nữa.

Soi đại trang sigmoid (Sigmoidoscopy). Trong thử nghiệm này, bác sĩ  sử dụng một mảnh dẻ, ánh sáng ống để kiểm tra trực tràng và sigmoid – khoảng 61 cm của ruột già. Gần một nửa của tất cả các bệnh ung thư ruột kết được tìm thấy trong khu vực này.

Rủi ro và lợi ích. Sigmoidoscopy chỉ nhìn vào cuối cùng của ruột già, và kiểm tra này không phát hiện khối u ở nơi khác trong ruột già. Nó thường kết hợp với một thuốc xổ bari tốt hình dung toàn bộ đại tràng, hoặc bác sĩ có thể khuyên nên thực hiện một nội soi thay thế. Sigmoidoscopy có thể có một chút khó chịu. Ngoài ra, có một rủi ro nhẹ của thủng ruột kết, nhưng những rủi ro ít hơn là nội soi.

Thuốc xổ bari

Thử nghiệm này cho phép chẩn đoán của bác sĩ để đánh giá toàn bộ ruột với X- quang. Bari, một chất nhuộm màu tương phản, được đưa vào ruột  dưới dạng thuốc xổ. Các điểm vào và áo lót của ruột, tạo ra một hình bóng rõ ràng của trực tràng, ruột già và đôi khi một phần nhỏ của ruột non. Khí cũng có thể được thêm vào để cung cấp độ tương phản tốt hơn trên X- quang.

Rủi ro và lợi ích. Bởi vì bari thuốc xổ có một tỷ lệ cao hơn bỏ lỡ cho khối u đại tràng, nó gần như không đáng tin cậy như một số xét nghiệm khác. Nó cũng không cho phép bác sĩ để có một sinh thiết trong suốt quá trình để xác định xem polip được ung thư. Thử nghiệm này có thể hơi khó chịu vì barium và không khí trướng ruột lên. Còn có một rủi ro nhẹ là thủng thành ruột kết.

Soi ruột già

Soi ruột già là tương tự như sigmoidoscopy. Tuy nhiên, các dụng cụ được sử dụng là một ống mảnh dẻ dài gắn với một máy quay video và màn hình, cho phép bác sĩ xem toàn bộ đại tràng và trực tràng.

Rủi ro và lợi ích. Thủ tục này là thử nghiệm nhạy cảm nhất đối với khối u trực tràng và ung thư trực tràng. Phát hiện khối u tốt hơn là một thuốc xổ bari X – quang. Nếu bất kỳ khối u được tìm thấy trong kiểm tra, bác sĩ có thể loại bỏ chúng ngay lập tức hoặc lấy mẫu mô (sinh thiết) để phân tích. Để chuẩn bị cho kiểm tra, làm theo hướng dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống và dùng thuốc nhuận tràng để làm sạch đường ruột. Có khả năng nhận được một thuốc an thần nhẹ để làm cho thoải mái hơn. Những rủi ro của nội soi chẩn đoán bao gồm xuất huyết và thủng thành đại tràng. Các biến chứng có nhiều khả năng xảy ra khi khối u được loại bỏ.

Máy vi tính tomographic colonography (CTC)

Cũng được gọi là nội soi, thử nghiệm này bao gồm một máy vi tính chụp cắt lớp quét, một X – quang có độ nhạy cao của ruột già. Sử dụng hình ảnh máy tính, bác sĩ xem mỗi một phần của ruột già và trực tràng mà không thật sự diễn ra bên trong cơ thể. Trước khi quét, làm sạch phân, nhưng các nhà nghiên cứu đang xem xét liệu quét có thể được thực hiện thành công mà không có sự chuẩn bị làm sạch ruột.

Rủi ro và lợi ích. Công nghệ này mới có thể làm cho đại tràng kiểm tra an toàn hơn, thoải mái hơn và ít xâm lấn. Nó có thể được thực hiện nhanh hơn và không cần giảm đau. Tuy nhiên, nó có thể không chính xác như nội soi thông thường. Một số nghiên cứu đã cho thấy nó có hiệu quả, nhưng không có đủ dữ liệu để làm một so sánh tốt giữa CTC và nội soi. Ngoài ra, phương pháp này không cho phép bác sĩ để loại bỏ khối u hoặc lấy mẫu mô. Nếu bác sĩ thấy khối u hay muốn mô mẫu, sẽ cần một nội soi.

Xét nghiệm DNA trong phân

Phương pháp tiếp cận mới này có thể phát hiện tế bào ung thư đã đổ ra trong phân. Các tế bào ác tính đã thay đổi DNA và kiểm tra này có thể phát hiện những đột biến DNA (đánh dấu) cho một số loại khối u ung thư và khối u tiền ung thư. Nghiên cứu đang được tiến hành để tăng tính chính xác và xác định mức độ thường xuyên cần được thực hiện.

Rủi ro và lợi ích. Thử nghiệm này được thiết kế chủ yếu để phát hiện ung thư ruột kết. Nó có sẵn nhưng đã không được xác nhận.

Thử nghiệm di truyền

Nếu có một lịch sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng, có thể là một ứng cử viên để thử nghiệm di truyền. Xét nghiệm máu này có thể giúp xác định xem đang ở tăng nguy cơ ung thư đại tràng hoặc trực tràng.

Rủi ro và lợi ích. thử nghiệm di truyền không phải không có nhược điểm. Các kết quả có thể mơ hồ, và sự hiện diện của một gen khiếm khuyết không có nghĩa là sẽ phát triển ung thư. Biết có một khuynh hướng di truyền có thể cảnh báo về sự cần thiết phải kiểm tra thường xuyên.

Phương pháp điều trị và thuốc

Mặc dù một số loại khối u đại tràng đến nay nhiều khả năng trở thành ác tính hơn những loại khác, một nghiên cứu bệnh học thường phải xem xét mô polip dưới kính hiển vi để xác định xem nó có khả năng ung thư. Vì lý do đó, bác sĩ có thể loại bỏ tất cả các khối u phát hiện trong một cuộc kiểm tra ruột.

Phần lớn của khối u có thể được loại bỏ trong quá trình nội soi hoặc sigmoidoscopy bởi snaring chúng với một vòng dây điện, đồng thời cắt thân cây của các polip và đốt để ngăn ngừa chảy máu. Một số khối u nhỏ có thể được đốt cháy với một dòng điện. Các rủi ro của loại bỏ polip (polypectomy) bao gồm chảy máu và thủng của ruột kết.

Khối u quá lớn không thể đạt được một cách an toàn thường được phẫu thuật cắt bỏ, thường là bằng cách sử dụng kỹ thuật nội soi. Điều này có nghĩa bác sĩ phẫu thuật thực hiện các hoạt động thông qua một vài vết mổ nhỏ ở thành bụng, bằng cách sử dụng dụng cụ với máy ảnh mà hiển thị ruột già trên một màn hình video. Phẫu thuật nội soi có thể nhanh hơn và ít đau hơn thực hiện phẫu thuật truyền thống bằng cách sử dụng duy nhất một vết mổ lớn. Một khi các phần ruột già chứa các polip được lấy ra, các polip không thể tái diễn, nhưng có cơ hội phát triển của khối u mới trong các khu vực khác của ruột già trong tương lai. Vì lý do đó, theo dõi chăm sóc là vô cùng quan trọng.

Một số trung tâm y tế chuyên ngành thực hiện sự giải phẩu màng nhầy nội soi (EMR) để loại bỏ khối u lớn hơn với colonoscope. Đối với kỹ thuật này một chất lỏng, như nước muối được tiêm dưới polip để nâng cao và cô lập các polip từ mô xung quanh. Điều này làm cho nó dễ dàng hơn để loại bỏ một polip lớn. Với thủ thuật này có thể tránh được phẫu thuật, nhưng tỷ lệ biến chứng có thể cao hơn.

Trong trường hợp hiếm gặp, hội chứng di truyền, ví dụ như gia đình adenomatous polyposis (FAP), bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện một hoạt động để loại bỏ toàn bộ đại tràng và trực tràng. Sau đó, trong một thủ tục được gọi là hai mạch tiếp hợp với nhau thành túi hậu môn, một túi được xây dựng từ cuối ruột non gắn trực tiếp vào hậu môn. Điều này cho phép trục xuất chất thải thông thường, mặc dù có thể có một số đi tiêu chảy.

Phòng chống

Rất có thể làm giảm nguy cơ bị khối u ruột kết và ung thư trực tràng bằng cách kiểm tra thường xuyên và bằng cách làm thay đổi nhất định trong chế độ ăn uống và lối sống. Những gợi ý sau đây có thể giúp giảm nguy cơ khối u ruột kết và ung thư trực tràng:

Chú ý đến canxi. Canxi đáng kể có thể bảo vệ chống lại các khối u ruột kết và ung thư, ngay cả khi đã có họ trước đây. Nguồn thức ăn tốt của canxi bao gồm thức ăn loại chất béo hoặc sữa ít chất béo và các sản phẩm sữa khác, bông cải xanh, cải xoăn và đóng hộp cá hồi với xương. Vitamin D, trong đó trợ giúp sự hấp thu canxi cũng xuất hiện để giúp giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nhận được vitamin D từ thực phẩm như các sản phẩm sữa vitamin D tăng cường chất, gan, lòng đỏ trứng và cá. Ánh sáng mặt trời cũng chuyển đổi một hóa chất trong da thành một hình thức sử dụng của vitamin này. Nếu không uống sữa hoặc tránh ánh nắng mặt trời, có thể xem xét việc cả vitamin D và bổ sung một lượng canxi.

Bao gồm nhiều trái cây, rau và ngũ cốc trong chế độ ăn uống. Những loại thực phẩm có nhiều chất xơ có thể cắt giảm nguy cơ phát triển khối u đại tràng. Trái cây và rau quả cũng chứa chất chống oxy hóa có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Hội Ung Thư Mỹ khuyến nghị nên ăn ít nhất là năm phần trái cây và rau mỗi ngày. Hãy tìm trái cây và rau quả màu vàng và màu xanh lá hoặc màu cam đậm như chard, bok choy, rau bina, dưa đỏ, xoài, bí butternut acorn và khoai lang cũng như các loại rau cải bắp, bao gồm bông cải xanh, Brussels sprouts và súp lơ. Lycopene, một chất dinh dưỡng được tìm thấy trong cà chua và hoa quả và rau màu đỏ khác, chẳng hạn như dâu tây và ớt chuông đỏ có thể là chống ung thư.

Theo dõi lượng chất béo. Một số loại chất béo có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết, nhưng các loại khác được bảo vệ. Điều quan trọng để hạn chế chất béo bão hòa từ thịt đỏ cũng như chế biến thịt như hotdogs, xúc xích. Các loại thực phẩm có chứa chất béo bão hòa bao gồm toàn sữa, phô mai, kem, dừa và dầu cọ. Giới hạn tổng lượng chất béo  đến ít hơn 35 phần trăm calo hàng ngày, không nhiều hơn 10 phần trăm đến từ chất béo bão hòa. Chất béo lành mạnh như omega – 3 fatty acids trong c , quả óc chó và dầu ôliu có thể bảo vệ khỏi ung thư. Hãy thử để có được phần lớn lượng chất béo  từ các loại thực phẩm.

Hạn chế uống rượu. Tiêu thụ trung bình đến nặng lượng rượu, nhiều hơn một ly một ngày cho phụ nữ và hai dành cho nam giới có thể làm tăng nguy cơ bị khối u ruột kết và ung thư. Uống được coi là chấp nhận 12 – 15 centiliters rượu vang, 35 centiliters của bia hay 1,5 4,5 centiliters rượu 80. Hạn chế rượu tiêu thụ có thể làm giảm nguy cơ , ngay cả khi ung thư ruột kết trong lịc sử gia đình.

Ngưng hút thuốc lá. Hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết và một loạt các bệnh khác. Nói chuyện với bác sĩ về cách để bỏ thuốc lá có thể.

Vận động cơ thể và duy trì một trọng lượng cơ thể khỏe mạnh. Kiểm soát trọng lượng có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Và hoạt động thể chất có thể cắt giảm đáng kể nguy cơ ung thư ruột già. Hội Ung Thư Mỹ khuyến cáo ít nhất 30 phút hoạt động thể chất năm ngày hoặc nhiều hơn một tuần. Bốn mươi lăm phút hoặc nhiều hơn thậm chí còn tốt hơn. Nếu đang thừa cân, mất trọng lượng cho đến khi ở một mức độ lành mạnh và duy trì nó.

Nói chuyện với bác sĩ về aspirin. Các nghiên cứu về vai trò của aspirin trong polip và phòng chống ung thư được trộn lẫn. Một số nghiên cứu cho thấy sử dụng aspirin thường xuyên có thể giảm rủi ro, nhưng những người khác cho thấy không có lợi ích. Aspirin sử dụng có thể làm tăng nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa. Vì vậy, kiểm tra với bác sĩ trước khi bắt đầu bất kỳ chế độ aspirin.

Nói chuyện với bác sĩ về liệu pháp hormone (HT). Nếu là một người phụ nữ qua tuổi mãn kinh, liệu pháp hormone có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nhưng không phải tất cả các ảnh hưởng của HT là tích cực. HT như là một liệu pháp kết hợp estrogen cộng với progestin, có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, chứng mất trí, bệnh tim, đột quỵ và các cục máu đông, do đó nó không thường được sử dụng để ngăn ngừa khối u đại tràng. Thảo luận về các tùy chọn với bác sĩ. Cùng có thể quyết định những gì tốt nhất.

Nếu đang có nguy cơ cao, hãy xem xét các tùy chọn. Nếu đang có nguy cơ bị gia đình adenomatous polyposis (FA ) vì một lịch sử gia đình của bệnh, xem xét việc có tư vấn di truyền. Và nếu đã được chẩn đoán FAP, bắt đầu có các bài kiểm tra thường xuyên nội soi ở lứa tuổi thiếu niên và thảo luận về các tùy chọn với bác sĩ. Bác sĩ có thể khuyên nên có phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ đại tràng khi đang ở độ tuổi 20. Các bác sĩ khuyên những người có nguy cơ bị hội chứng Lynch bắt đầu có colonoscopies thường xuyên ở tuổi 20.

Theo Dieutri.vn