Hiển thị các bài đăng có nhãn Thảo dược. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thảo dược. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra lây truyền rất nhanh. Thuỷ đậu có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.


1. Thủy đậu là gì? Nguyên nhân gây bệnh?

Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra rất thường gặp ở trẻ em. Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster. Đa số trẻ em đều đã bị thuỷ đậu trước 15 tuổi, nhiều nhất từ 5 đến 9 tuổi, tuy nhiên bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thuỷ đậu thường nặng hơn khi xảy ra ở người lớn và ở trẻ còn nhỏ. Mùa đông xuân là thời gian các trường hợp thuỷ đậu xảy ra nhiều nhất.

2. Thủy đậu lây lan như thế nào?

Thuỷ đậu lây truyền rất nhanh. Nó rất dễ lây lan giữa các thành viên trong gia đình và giữa các học sinh cùng trường khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước và vết lở trên da người bệnh. Nó còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp. Bệnh nhân có thể truyền bịnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước khô vảy.

3. Triệu chứng và dấu hiệu của thủy đậu?

Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ 10 đến 21 ngày. Thuỷ đậu biểu hiện bằng sốt nhẹ từ một đến 2 ngày, cảm giác mệt mỏi toàn thân, và phát ban (thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh).

Một số rất ít trường hợp, bệnh nhân có thể bị bệnh mà không thấy phát ban. Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu, sau đó phát triển thành mụn nước, vỡ ra thành vết lở, rồi đóng vảy. Thường phát ban đầu tiên ở da đầu, xuống thân mình (nơi ban trổ nhiều nhất), sau cùng xuống đến tay chân. Những phần da nào sẵn bị kích ứng như hăm tã, eczema, cháy nắng v.v. thường bị ban thuỷ đậu tấn công nặng nhất. Ban thuỷ đậu thường rất ngứa.

4. Điều trị thủy đậu ra sao?

- Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn. Có thể dùng Acetaminophen (Tylenol) để giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

- Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.

- Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa. Hãy bàn luận với bác sĩ về các chọn lựa trong điều trị.

- Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.

Sau cùng, đối với một số trường hợp thuỷ đậu có thể dùng Acyclovir. Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh. Thuốc chỉ hiệu quả nếu được dùng sớm, trong thời gian từ 1 đến 2 ngày khi bắt đầu phát ban thuỷ đậu. Acyclovir thường được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh kèm theo nguy hiểm (ví dụ lupus, đái tháo đường, người cao tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch).

5. Các biến chứng có thể xảy ra?

- Thuỷ đậu có thể gây biến chứng. Khi các mụn nước vỡ ra và bị nhiễm trùng có thể gây sẹo xấu, đặc biệt khi bệnh nhân gãi nhiều ở vùng tổn thương.

- Nhiễm trùng da là biến chứng của thuỷ đậu thường gặp nhất ở trẻ em.

- Biến chứng khác thường gặp là tổn thương thần kinh trung ương bao gồm những rối loạn ở tiểu não (rối loạn thất điều tiểu não, chóng mặt, run, rối loạn ngôn ngữ), viêm não (nhức đầu, co giật, rối loạn ý thức), tổn thương thần kinh (liệt thần kinh) và hội chứng Reye (kết hợp tổn thương gan và não khả năng gây tử vong, có thể xảy ra do dùng aspirin ở trẻ em).

- Các biến chứng đặc biệt nặng có thể xảy ra trên bệnh nhân AIDS , lupus, bịnh bạch cầu, và ung thư. Biến chứng còn xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, như các corticoid. Trẻ sơ sinh có mẹ bị thuỷ đậu ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ chịu những nguy cơ cao của bệnh. Nếu mẹ phát bệnh thuỷ đậu 5 ngày trước hoặc 2 ngày sau khi sanh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh có thể lên đến 30%.

6. Thủy đậu có thể phòng ngừa bằng vaccin?

Người đã bị thuỷ đậu sẽ có miễn dịch suốt đời và không bao giờ bị lại. Nhưng nhiều khi về sau, virus có thể bộc phát lên bề mặt trở lại dưới dạng zona (giời leo). Mục tiêu hiện nay của nhiều nước trên thế giới là làm sao tiêm phòng thuỷ đậu cho hầu hết các trẻ em. Chỉ cần tiêm 2 mũi. Mũi đầu tiên tiêm lúc trẻ 1 tuổi và mũi thứ hai (tiêm nhắc lại) lúc 4 tuổi. Đối với người lớn chưa bị thuỷ đậu, có thể tiêm phòng vào bất cứ lúc nào. Phản ứng phụ khi tiêm phòng thuỷ đậu xảy ra không đáng kể. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch, đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH
Tham khảo: Medicine Net

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Làm mờ nốt tàn nhang bằng thảo dược

Cà rốt tươi giã nát, ép lấy nước cốt. Buổi tối trước khi đi ngủ, rửa sạch vùng da có tàn nhang, lấy nước ép cà rốt bôi đều lên; chờ cho khô rồi dùng khăn tay tẩm dầu thực vật xát nhẹ lên. Sáng dậy rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Vị thuốc sơn dược.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng sinh sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.
Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Vì khi cơ thể khỏe mạnh, da hồng hào căng mịn, các nốt tàn nhang sẽ không hiện rõ.

Tàn nhang rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời: Những nốt tàn nhang thường xuất hiện nhiều hơn, sẫm màu hơn – hiện rõ trên mặt da trong những ngày hè nắng gắt. Ngược lại, vào mùa đông ít nắng, tàn nhang thường giảm bớt và có thể lặn đi hoàn toàn. Do đó, để hạn chế tàn nhang, khi ra nắng cần đội mũ rộng vành và mặc áo dài tay, tránh nắng gắt.

Các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch acid trichloracetic, tretinoin… chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ. Vì vậy, việc sử dụng dược thảo thiên nhiên để chữa trị tàn nhang hiện vẫn là phương pháp được ưa chuộng nhất.
Theo Đông y , nguyên nhân dẫn tới tàn nhang chủ yếu là nhân tố di truyền cộng với tác động của phong tà bên ngoài, khiến hỏa khí bị uất kết, đọng lại trong các đường mạch nhỏ (tiểu mạch lạc) ở bì phu (da thịt) mà thành các nốt tàn nhang. Để chữa trị, Đông y thường dùng những bài thuốc sau:

Thuốc uống trong

Chữa tàn nhang ở người trẻ tuổi

Người trẻ tuổi có nhiều tàn nhang chủ yếu do bị phong tà xâm nhập, khiến hỏa uất, kết đọng lại ở các lạc mạch nhỏ trên bì phu. Các nốt tàn nhang có màu thẫm hơn về mùa hạ và nhạt bớt về mùa đông. Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tán hỏa và giải độc dưới đây:

Khương hoạt, phòng phong, xuyên khung, hồng hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, đương quy 8 g, sơn dược (củ mài) 12 g, chi tử (dành dành) 8 g, đông qua nhân (hạt bí đao) 30 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Lục đậu y (vỏ đậu xanh), sơn dược, đông qua nhân mỗi thứ 30 g; khương hoạt, phòng phong, bạch phụ tử, xuyên khung, lăng tiêu hoa mỗi thứ 6 g, sinh địa 12 g, hoàng cầm 12 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa tàn nhang ở người cao tuổi

Người cao tuổi nhiều tàn nhang chủ yếu do thận thủy bị hư tổn. Nốt tàn nhang thường thẫm màu hơn, da khô nháp không tươi, kèm theo các triệu chứng âm hư như hâm hấp sốt về chiều, cảm giác nóng ở lòng bàn chân và bàn tay, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưng đau gối yếu, đầu choáng mắt hoa, miệng khô khát, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế (chìm, nhỏ). Để chữa trị, chủ yếu dùng các bài thuốc có tác dụng tư âm, hạ hỏa dưới đây:

Thục địa 15 g, sinh địa 15 g, ngô thù du, đan bì (sao), phục linh, ba kích thiên, cam thảo mỗi thứ 10 g; sơn dược 30 g, thăng ma, bạch phụ tử, tế tân mỗi thứ 3 g, sắc nước uống mỗi ngày một thang.

Thiên môn đông 1.000 g, thục địa hoàng 500 g. Hai thứ đem sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng ngày uống 2 lần với rượu loãng hoặc nước ấm vào lúc đói, mỗi lần 15-20 g. Đây là một cổ phương, có tên là “Đông địa mỹ dung cao”. Theo sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, nếu sử dụng lâu ngày thứ cao này, các nốt đen trên da sẽ dần biến mất, da mặt tươi như hoa đào. Tuy nhiên, người tiêu hóa kém, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Thuốc bôi ngoài

Kem cà bát – nước chanh : Cà bát trắng 100 g, chanh 10 quả. Cà bát trắng rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn; chanh vắt lấy nước trộn đều với bột cà, tất cả cho vào lọ đậy kín, sau 2 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ lấy bông thấm dung dịch “kem” bôi vào nơi da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ thấy kiến hiệu. Lưu ý: Trong những ngày bôi thuốc, khi đi nắng cần che kín mặt.

Kem lá mướp – lá sen – mật ong : Lá mướp đắng, lá mướp hương, lá sen lượng bằng nhau, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, thêm lượng mật ong thích hợp vào quấy đều để chế thành một thứ cao lỏng, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ, dùng thứ “kem” này bôi lên chỗ da bị tàn nhang, bôi liên tục trong nhiều ngày sẽ có kiến hiệu.

Cao bí đao, mật ong : Bí đao 1 quả (khoảng 500 g), rượu trắng 1.500 ml, nước 1.000 ml, mật ong 500 g. Dùng dao tre (hoặc nứa) gọt bỏ vỏ xanh, cắt bí thành miếng nhỏ, cho vào nồi đất, đun cùng với rượu và nước cho đến khi bí chín nhừ. Bỏ bã, lọc lấy nước cốt, cô nhỏ lửa cho đến khi quánh lại thành cao lỏng, thêm mật ong vào khuấy đều, đun tiếp một lát nữa là được. Chờ cao nguội, cho vào lọ gốm, nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy cao trộn với lòng trắng trứng gà tươi (theo tỷ lệ 1/1), bôi kín chỗ da bị tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên; sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm, hoặc dùng nước vo gạo rửa mặt càng tốt.

Kem hạt mận, lòng trắng trứng gà : Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Tối trước khi đi ngủ lấy 8-10 g bột trộn đều với lòng trắng 1 quả trứng gà; rửa sạch mặt và vùng da bị tàn nhang rồi bôi kem lên. Sáng hôm sau, rửa bằng nước vo gạo đã lên men chua, lại bôi kem lên, xoa nhẹ cho đến lúc da hơi nóng. Làm liên tục vài hôm sẽ thấy các nốt tàn nhang nhạt màu dần. Lưu ý: sách xưa viết dùng thuốc này phải kiêng ra gió.

Bột hắc sửu : Hắc sửu (hạt bìm bìm đen) 100 g phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn. Hàng ngày lấy lòng trắng 1 quả trứng gà tươi, trộn đều với 1 thìa cà phê bột hạt bìm bìm, bôi vào nơi bị tàn nhang liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ nhạt đi và dần dần biến mất.

Kem phục linh – mật ong : Phục linh phơi hoặc sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi ngày tối trước khi đi ngủ lấy một ít bột phục linh trộn đều với mật ong bôi lên chỗ da có tàn nhang, xoa nhẹ cho da nóng lên, sáng dậy rửa sạch bằng nước ấm.

Bạch truật ngâm giấm : Bạch truật 200 g, giấm tốt 500 ml. Bạch truật thái thành lát mỏng, cho vào bình ngâm với giấm trong nửa tháng. Muốn nhanh, có thể tán bạch truật thành bột rồi ngâm trong giấm, hằng ngày lắc bình ngâm 1-2 lần, sau 7 ngày có thể dùng được. Tối trước khi đi ngủ dùng bông thấm dung dịch giấm bôi lên chỗ da bị tàn nhang vài ba lần (khô lại bôi tiếp). Bôi liên tục trong nhiều ngày, các nốt tàn nhang sẽ dần dần biến mất.

Ích mẫu thang (nước sắc cỏ ích mẫu): Lấy khoảng 100 g ích mẫu thảo, sắc lấy nước, lọc bỏ bã. Hằng ngày, dùng nước này rửa mặt vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng lâu ngày da mặt sẽ sáng đẹp, các vết tàn nhang và vết nám dần dần biến hết.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống )

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

Dị tật thận hình móng ngựa hiếm gặp nhưng nguy hiểm

LTS: Mới đây, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật nội soi thận trái cho bệnh nhân Hứa Cẩm Tú, trong quá trình phẫu thuật đã phát hiện chị Tú có dị tật thận hình móng ngựa và phải cắt bỏ 2 thận. Đây là một dị dạng hệ tiết niệu sinh dục rất hiếm gặp, khó chẩn đoán, đồng thời khi phẫu thuật cũng dễ gặp các biến chứng. Để giúp độc giả hiểu thêm về bệnh này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây.

Một dị tật bẩm sinh

Bệnh thận hình móng ngựa là một bệnh mà trong đó hai thận nối với nhau bởi một “eo thận giả” ở giữa tạo nên hình móng ngựa đặc trưng. Về hình dạng bên ngoài, vẫn có hai quả thận hai bên là thận trái và thận phải. Nhưng có một điều thay đổi cấu trúc là hai thận này không nằm tách bạch mỗi bên một quả như người bình thường, mà chúng lại được nối với nhau bởi một thận giả ở giữa. Sở dĩ gọi nó là eo thận giả vì phần nối tiếp này rất bé, bé hơn so với thận chính, và đồng thời nó chỉ là một nhu mô mềm như thịt mà hoàn toàn không có chức năng gì.

Thận móng ngựa trên phim chụp CT scan.

Vì hai thận này nối tiếp với nhau bởi một eo thận giả nên người ta thường gọi nó là hai thận hợp nhất. Nhưng kỳ thực thì hai thận này không hoàn toàn hợp nhất vì nó vẫn có hai bể thận, hai niệu đạo hay nói một cách khác là nó vẫn có hai đường thoát nước tiểu riêng biệt.

Bệnh thận hình móng ngựa là một dị tật bẩm sinh. Qua theo dõi y học, người ta thấy rằng dị tật này hay gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ bị bệnh thận hình móng ngựa cũng giống như các dị tật bẩm sinh khác là khá ít. Chỉ vào khoảng 1/400 – 1/800 mà thôi. Nghĩa là khoảng 400-800 trẻ em sinh ra thì có một trẻ bị bệnh.

Bệnh có nguy hiểm không?

Có thể nói rằng, sự hiện diện thêm một phần “eo thịt” thừa ấy đã không đóng góp gì thêm cho chức năng thận mà nó còn là nguyên nhân gây ra thêm bao tình trạng bệnh tật khác. Điểm lại người ta thấy, nhiều biến chứng mới xuất hiện như thận ứ nước, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ung thư thận. Điều vô cùng đáng lưu tâm là tỷ lệ bị những biến chứng này cao hơn hẳn so với người có hai quả thận tách bạch. Điều này được chứng minh bằng số liệu thống kê.
Có tới 35% người bị bệnh thận hình móng ngựa bị tắc nghẽn đường tiết niệu. Điều này không có gì là quá khó hiểu. Bởi vì sự xuất hiện eo thận giả đã đẩy điểm tiếp nối niệu quản và bể thận ở tít trên cao. Sự định cư bất thường về điểm thoát nước tiểu đã làm cho nước tiểu không được thoát ra toàn bộ. Điểm tiếp nối cao thì rõ ràng là nước tiểu không thể chảy ra hết dẫn đến những hậu quả ứ nước tiểu, nhiễm khuẩn đường tiểu.
Nếu nói về sỏi thận thì có tới 20-60% người bị thận hình móng ngựa mắc phải. Tiếp theo có khoảng 30-40% tỷ lệ bệnh nhân bị thận móng ngựa bị nhiễm khuẩn đường niệu. Tệ hại hơn, 45% ung thư biểu mô thận thuộc các trường hợp dị dạng thận hình móng ngựa. Đó là hậu quả của một loạt sự tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố như sỏi thận, nhiễm khuẩn đường niệu, ứ đọng nước tiểu.

Hình ảnh thận bình thường (bên trái ảnh) và thận móng ngựa (bên phải ảnh).

Có dễ phát hiện không?

Người bị bệnh thận hình móng ngựa không dễ gì tự phát hiện ra bệnh tật của mình. Tức là người bệnh chỉ được phát hiện tình cờ hay được phát hiện khi bệnh đã điển hình. Hiếm có ai phát hiện được ở trong giai đoạn sớm. Đó là bởi vì người bệnh vẫn có hai quả thận hoạt động bình thường. Vẫn bài tiết ra nước tiểu nên ít ai nghĩ rằng mình bị thận hình móng ngựa. Nhưng khi có biến chứng rồi thì đi khám mới vỡ lẽ ra, mình bị dị tật thận từ lúc mới sinh. Người ta có thể phát hiện thận móng ngựa bằng 2 cách: khám lâm sàng bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn tiết niệu như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu máu, sốt dai dẳng… và dựa vào cận lâm sàng như Xquang, siêu âm, CT scan… có hình ảnh hình móng ngựa trên phim.

TS. Trần Các – Chủ nhiệm Khoa Ngoại tiết niệu – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết: Trên lâm sàng, các loại dị dạng thận thường gặp gồm có dị dạng về số lượng (một thận hay nhiều thận), chất lượng (dị dạng phát triển thận, nhu mô thận phát triển không bình thường gọi là thiểu sản thận), dị dạng vị trí (thận lạc chỗ), thận di cư vị trí (chẳng hạn niệu quản không đổ vào bàng quang mà đổ vào âm đạo).
Thận móng ngựa là một dị dạng về hình thái thận. Có thể xác định thận móng ngựa bằng chụp cản quang, chụp CT scan. Ðối với người bệnh có thận móng ngựa, nếu không có bệnh lý kèm theo thì không cần phải điều trị gì. Tuy nhiên trên thực tế, người có thận móng ngựa là hai quả thận dính nhau bởi eo thận nên dễ mắc các bệnh về thận hơn những người bình thường. Tùy theo bệnh lý thận mắc phải mà có những biện pháp điều trị phù hợp.

BS. Yên Lâm Phúc (Học viện Quân y)

Nguồn: Suckhoedoisong

 

Sỏi thận

Sỏi thận

Sỏi thận! Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Định nghĩa

Sỏi thận (lithiasis) hình thành bên trong thận. Sỏi thận được làm bằng muối khoáng và axit. Sỏi thận có nhiều nguyên nhân. Trong kịch bản chung, sỏi thận hình thành khi nước tiểu trở nên tập trung, cho phép các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau.

Sỏi thận di chuyển có thể đau đớn. Những đau đớn của sỏi thận thường bắt đầu ở phía sau ngay dưới xương sườn, và chuyển tới bụng dưới và háng. Những cơn đau có thể thay đổi khi di chuyển sỏi thận qua đường tiểu.

Sỏi thận thường không gây tổn thương vĩnh viễn. Ngoài các thuốc giảm đau và uống nhiều nước, điều trị thường không cần thiết. Tuy nhiên, điều trị có thể giúp ngăn ngừa sỏi thận tái phát ở những người có nguy cơ gia tăng.

Các triệu chứng

Sỏi thận có thể có hoặc không thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng cho đến khi nó di chuyển vào niệu quản – ống nối liền thận và bàng quang. Vào thời điểm đó, những dấu hiệu và triệu chứng có thể xảy ra:

Đau dữ dội ở một bên và trở lại, dưới các xương sườn.

Đau lây lan đến vùng bụng dưới và háng.

Đau khi tiểu tiện.

Màu hồng, màu đỏ hoặc nâu – nước tiểu.

Buồn nôn và ói mửa.

Liên tục yêu cầu để đi tiểu.

Sốt và ớn lạnh nếu nhiễm trùng hiện tại.

Đến gặp bác sĩ khi

Lấy hẹn với bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng lo lắng.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu  kinh nghiệm:

Đau quá nghiêm trọng mà không thể ngồi yên hoặc tìm một vị trí thoải mái.

Đau đi kèm với buồn nôn và ói mửa.

Đau kèm theo sốt và ớn lạnh.

Nguyên nhân

Sỏi thận thường không có nguyên nhân xác định duy nhất. Một số yếu tố, thường kết hợp, tạo điều kiện trong đó dễ bị sỏi thận phát triển.

Sỏi thận hình thành khi các thành phần của nước tiểu – khoáng sản và các chất lỏng và axit – đang mất cân bằng. Khi điều này xảy ra, nước tiểu có chứa nhiều chất tạo thành tinh thể, chẳng hạn như canxi, oxalat và acid uric, so với các chất lỏng có thể pha loãng. Đồng thời, nước tiểu có thể bị chất giữ tinh thể dính lại với nhau và trở thành đá. Điều này tạo ra một môi trường trong đó sỏi thận có nhiều khả năng hình thành.

Các loại sỏi thận

Phần lớn sỏi thận chứa các tinh thể nhiều hơn một loại. Các loại sỏi thận bao gồm:

Sỏi canxi. Sỏi thận nhất là đá vôi, thường ở dạng oxalat canxi. mức oxalate cao có thể được tìm thấy trong một số loại trái cây và rau quả, cũng như trong các loại hạt và sô cô la. Gan cũng sản xuất oxalate. Các yếu tố chế độ ăn uống liều cao vitamin D, phẫu thuật đường ruột và các rối loạn chuyển hóa một số khác nhau có thể làm tăng nồng độ canxi hoặc oxalat trong nước tiểu. Sỏi canxi cũng có thể xảy ra ở dạng phosphat canxi.

Sỏi Struvite. Struvite để đáp ứng với một bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như là một nhiễm trùng đường tiết niệu. Struvite có thể phát triển nhanh chóng và trở nên khá lớn.

Sỏi acid uric. Uric acid có thể hình thành ở những người mất nước, những người ăn một chế độ ăn giàu protein và những người có bệnh gút. Một số yếu tố di truyền và rối loạn máu của các mô cũng có thể dẫn đến sỏi acid uric.

Sỏi cystine. Những viên đá này chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của sỏi thận. Chúng hình thành ở những người có rối loạn di truyền là nguyên nhân gây thận bài tiết quá nhiều axit amin nhất định (cystinuria).

Loại khác. Loại hiếm của sỏi thận có thể xảy ra.

Biết loại của sỏi thận giúp hiểu những gì có thể đã gây ra hình thành và có thể cung cấp cho các đầu mối như những gì có thể làm để giảm nguy cơ mắc sỏi thận.

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ sỏi thận đang phát triển bao gồm:

Gia đình hoặc lịch sử cá nhân của sỏi thận. Nếu ai đó trong gia đình có sỏi thận, có nhiều khả năng để phát triển các loại sỏi. Và nếu đã có một hay nhiều sỏi thận, đang có nguy cơ phát triển khác.

Người lớn . Sỏi thận thường gặp ở người lớn 40 tuổi trở lên, mặc dù sỏi thận có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Đàn ông. Đàn ông có nhiều khả năng phát triển sỏi thận.

Mất nước. Không uống đủ nước mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận. Những người sống ở vùng khí hậu ấm áp và những người đổ mồ hôi nhiều có thể cần phải uống nhiều nước hơn so với những người khác.

Một số chế độ ăn. Ăn một chế độ ăn uống protein cao, natri và đường cao có thể làm tăng nguy cơ của một số loại sỏi thận.

Béo phì. Cao chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng kích thước vòng bụng và tăng cân có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận.

Bệnh tiêu hóa và phẫu thuật. Phẫu thuật dạ dày, viêm đường ruột hoặc tiêu chảy mãn tính có thể gây ra những thay đổi trong quá trình tiêu hóa, có ảnh hưởng đến sự hấp thụ của canxi và làm tăng mức độ các chất tạo thành sỏi trong nước tiểu .

Điều kiện y tế khác. Bệnh và điều kiện có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận bao gồm toan ống thận, cystinuria, cường cận giáp và nhiễm trùng đường tiết niệu nhất định.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu bác sĩ  nghi ngờ có sỏi thận, có thể trải qua các xét nghiệm và thủ tục để chẩn đoán tình trạng, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu. Xét nghiệm máu có thể cho thấy canxi dư thừa hoặc acid uric trong máu. Xét nghiệm máu cho phép bác sĩ để kiểm tra các điều kiện khác về y tế và theo dõi sức khỏe của thận.

Xét nghiệm nước tiểu. Xét nghiệm nước tiểu, chẳng hạn như nước tiểu 24 giờ, có thể cho thấy rằng đang bài tiết quá nhiều khoáng chất hình thành đá hoặc quá ít chất ức chế đá.

Hình ảnh kiểm tra. Xét nghiệm có thể hiển thị hình ảnh sỏi thận ở đường tiết niệu. Hình ảnh chụp cắt lớp kiểm tra có thể bao gồm máy vi tính (CT), hoặc X – ray.

Phân tích sỏi.   Có thể phải đi tiểu thông qua bộ lọc được thiết kế để bắt bất kỳ loại đá vượt qua. Bằng cách đó, bất kỳ loại đá có thể được thu thập cho xét nghiệm. Phân tích trong phòng thí nghiệm sẽ cho biết đắc điểm của sỏi thận. Bác sĩ sử dụng thông tin để xác định nguyên nhân gây sỏi thận và để xây dựng một kế hoạch để ngăn ngừa sỏi thận trong tương lai.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị sỏi thận thay đổi, tùy thuộc vào loại và các nguyên nhân.

Điều trị sỏi nhỏ với các triệu chứng tối thiểu

Phần lớn sỏi thận sẽ không cần điều trị xâm lấn. Có thể vượt qua một hòn sỏi nhỏ bằng cách:

Nước uống. Uống nhiều như 2 – 3 lít (1,9-2,8 lít) mỗi ngày có thể giúp rửa hệ thống tiết niệu.

Thuốc giảm đau. Một hòn đá nhỏ đi qua có thể gây ra một số khó chịu. Để giảm đau nhẹ, bác sĩ có thể khuyên nên dùng giảm đau như ibuprofen (Advil, Motrin…), acetaminophen (Tylenol…) hay naproxen sodium (Aleve).

Điều trị sỏi lớn hơn và gây ra các triệu chứng

Sỏi thận có thể không được xử lý bằng các biện pháp bảo thủ – hoặc vì chúng quá lớn để tự vượt qua hoặc vì gây chảy máu, tổn thương thận hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu liên tục – có thể cần điều trị xâm lấn hơn. Thủ tục bao gồm:

Sử dụng sóng âm để phá vỡ. Một thủ thuật được gọi là tán sỏi ngoài cơ thể, sử dụng sóng âm thanh để tạo ra dao động mạnh được gọi là sóng xung kích, phá vỡ đá thành từng miếng nhỏ mà sau đó được thông qua trong nước tiểu. Thủ tục tạo ra một tiếng động lớn và có thể gây đau vừa phải, vì vậy có thể giảm đau hoặc gây mê để làm cho thoải mái. Các chi tiết cụ thể về thủ tục có thể thay đổi tùy thuộc vào loại thiết bị bác sĩ sử dụng.

Tán sỏi ngoài cơ thể, sóng có thể gây ra máu trong nước tiểu, bầm tím trên lưng hoặc bụng, chảy máu quanh thận và các cơ quan lân cận khác và khó chịu như là các mảnh đá đi qua đường tiết niệu.

Phẫu thuật để loại bỏ đá rất lớn trong thận. Một thủ thuật lấy sỏi thận qua da liên quan đến việc phẫu thuật loại bỏ sỏi thận thông qua một đường rạch nhỏ ở lưng. Phẫu thuật này có thể được đề nghị nếu sóng tán sỏi ngoài cơ thể đã không thành công hoặc nếu đá là rất lớn.

Sử dụng một phạm vi để loại bỏ đá. Để loại bỏ một hòn đá trong niệu quản hay thận, bác sĩ có thể thông qua một ống nhỏ (ureteroscope) được trang bị một máy ảnh thông qua niệu đạo và bàng quang đến niệu quản. Bác sĩ thông qua niệu quản đến đá. Khi đá được đặt, các công cụ đặc biệt có thể bẫy đá hoặc phá vỡ nó thành các phần mà sẽ qua đi trong nước tiểu.

Phẫu thuật tuyến cận giáp . Một số loại đá canxi là do tuyến cận giáp hoạt động quá mức – nằm ở bốn góc của tuyến giáp, ngay dưới quả táo Adam. Khi các tuyến này sản xuất quá nhiều hormone tuyến cận giáp, cơ thể với mức độ canxi có thể trở nên quá cao, dẫn đến sự bài tiết quá nhiều can – xi trong nước tiểu. Điều này đôi khi gây ra bởi một khối u lành tính nhỏ ở một trong bốn tuyến cận giáp. Bác sĩ phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u hoặc các tuyến cận giáp.

Thay thế thuốc

Thay thế thuốc không thể điều trị sỏi thận. Tuy nhiên, khi kết hợp với lời khuyên của bác sĩ, phương pháp điều trị thay thế có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Một số bằng chứng cho thấy các phương pháp điều trị thay thế có thể giúp:

Trà. Uống một tách trà đen hoặc trà xanh mỗi ngày có thể giảm nguy cơ sỏi thận. Một nghiên cứu ở phụ nữ thấy những người uống trà đen có nguy cơ thấp hơn của sỏi thận. Các nghiên cứu đã không được chặt chẽ và chỉ liên quan đến phụ nữ, vì vậy nó không cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng uống trà là hữu ích cho tất cả sỏi thận. Nếu thích uống trà, có thể có một cơ hội tiếp tục uống trà có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Tuy nhiên, trà có chứa hàm lượng oxalate. Vì vậy, nếu nước tiểu có một mức oxalate cao, bác sĩ có thể khuyên không uống trà.

Nước chanh và nước cam . Về mặt lý thuyết, uống nước chanh hoặc nước cam có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận. Mức acid citric trong nước chanh và nước cam có thể làm giảm mức độ canxi trong nước tiểu, dẫn đến ít canxi. Nhưng không có nghiên cứu đã chứng minh lý thuyết này. Nếu thích uống nước pha thêm hương vị chanh hoặc nước cam, có thể thấy rằng điều này sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận. Nhưng không có đủ bằng chứng cho thấy tất cả mọi người nên cố gắng này.

Phòng chống

Thay đổi lối sống

Có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận nếu:

Uống nước trong cả ngày. Uống nhiều nước hơn trong suốt cả ngày. Đối với những người có tiền sử sỏi thận, các bác sĩ thường khuyên nên khoảng 2,6 lít (2,5 lít) nước tiểu một ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu đo lượng nước tiểu để đảm bảo rằng đang uống đủ nước. Những người sống trong môi trường nóng, khí hậu khô và những người tập thể dục thường xuyên có thể cần phải uống nước nhiều hơn để sản xuất đủ nước tiểu.

Ăn ít thực phẩm giàu oxalat. Nếu có xu hướng hình thành sỏi oxalat canxi, bác sĩ có thể khuyên nên hạn chế các loại thực phẩm giàu oxalat. Chúng bao gồm đại hoàng, củ cải đường, đậu bắp, rau bina, củ cải Thụy Sĩ, khoai tây ngọt, trà, sô cô la và các sản phẩm đậu nành.

Chọn một chế độ ăn ít muối và protein động vật . Giảm lượng muối ăn và chọn các nguồn protein không động vật, chẳng hạn như các loại hạt và đậu. Điều này có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận đang phát triển.

Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, nhưng sử dụng thận trọng với các chất bổ sung canxi. Các canxi trong thực phẩm ăn không có hiệu lực vào nguy cơ bị sỏi thận. Tiếp tục ăn thực phẩm giàu canxi, trừ khi bác sĩ tư vấn khác. Hãy hỏi bác sĩ trước khi uống bổ sung canxi, tuy nhiên, những loại có liên quan đến tăng nguy cơ sỏi thận. Có thể làm giảm rủi ro bằng cách bổ sung các bữa ăn.

Hỏi bác sĩ để được giới thiệu đến một chuyên viên dinh dưỡng có thể giúp lập kế hoạch bữa ăn sẽ giúp giảm nguy cơ sỏi thận.

Thuốc men

Thuốc có thể kiểm soát mức độ axit hoặc kiềm trong nước tiểu và có thể hữu ích trong một số loại sỏi. Các loại thuốc bác sĩ kê toa sẽ phụ thuộc vào loại sỏi thận  có:

Sỏi canxi. Để giúp ngăn ngừa sỏi canxi hình thành, bác sĩ có thể kê toa thuốc lợi tiểu thiazide đơn hoặc chứa phosphate.

Sỏi acid uric. Bác sĩ có thể kê toa allopurinol (Zyloprim, Aloprim) để giảm mức acid uric trong máu và nước tiểu và thuốc men để giữ kiềm nước tiểu. Trong một số trường hợp, allopurinol và alkalinizing có thể hòa tan sỏi uric acid.

Sỏi struvite. Để ngăn ngừa sỏi struvite, bác sĩ có thể đề nghị các chiến lược để giữ nước tiểu miễn nhiễm vi khuẩn. Dài hạn sử dụng kháng sinh với liều lượng nhỏ có thể hữu ích để đạt được mục tiêu này.

Sỏi cystine. Cystine có thể khó khăn điều trị. Bác sĩ có thể kê toa cho thuốc nhất định để kiềm hóa nước tiểu hoặc để ràng buộc cystine trong nước tiểu ra ngoài với một lượng nước tiểu rất cao.

Theo Dieutri.vn

Suy thận mãn

Suy thận mãn

Suy thận mạn là hậu quả các bệnh mạn tính của thận gây giảm sút từ từ số lượng Nephron chức năng làm giảm dần mức lọc cầu thận. Khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 50% (60 ml/phút) thì được gọi là suy thận mạn.

Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển mạn tính qua nhiều tháng, năm, hậu quả của sự xơ hóa các Nephron chức năng gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu.

Đặc trưng của suy thận mạn là:

- Có tiền sử bệnh thận tiết niệu kéo dài.
- Mức lọc cầu thận giảm.
- Nitơ phi protein máu tăng cao dần.
- Kết thúc trong hội chứng urê máu cao.

2. Đặc điểm dịch tễ:
Suy thận mạn là một bệnh tương đối phổ biến và hay gặp trong các bệnh thận tiết niệu. Theo thống kê của PGS. Trần Văn Chất và Trần Thị Thịnh (1991-1995) tại Khoa Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai thì suy thận mạn chiếm 40,4% và không thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ. Riêng độ tuổi 16-24 thì thấy nam nhiều hơn nữ. Không thấy có sự khác biệt giữa các vùng, địa dư, lứa tuổi hay gặp là lứa tuổi lao động từ 16-54 tuổi nên ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của cộng đồng.

3. Những yếu tố làm bệnh nặng thêm:
Suy thận mạn là một bệnh kéo dài hàng tháng, hàng năm có những yếu tố làm thúc đẩy quá trình suy thận:
- Cao huyết áp.
- Nhiễm khuẩn, xuất huyết tiêu hóa, mất nước.
- Tắc đường dẫn niệu.
- Ăn quá nhiều protid.
- Dùng thuốc độc với thận.
- Rối loạn nước điện giải: ỉa chảy mất nước, dùng Lasix quá nhiều…
Nên việc làm giảm các yếu tố nguy cơ trên sẽ có ý nghĩa kéo dài quá trình suy thận làm kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
Hầu hết các bệnh mạn tính khởi phát là bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận hay bệnh mạch thận đều có thể dẫn đến suy thận mạn.

1. Bệnh viêm cầu thận mạn: Thường hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 40%.
– Do viêm cầu thận cấp dẫn đến.
- Do viêm cầu thận ở những bệnh nhân có bệnh chuyển hóa, hệ thống.
- Do bệnh cầu thận có hội chứng thận hư.

2. Bệnh viêm thận, bể thận mạn: Chiếm tỷ lệ khoảng 30%.

3. Bệnh viêm thận kẽ:
Thường do dùng thuốc giảm đau lâu dài, hoặc do tăng acid uric, tăng calci máu.

4. Bệnh mạch thận:
- Xơ mạch thận lành tính hoặc ác tính.
- Huyết khối vi mạch thận.
- Viêm nút quanh động mạch.
- Tắc tĩnh mạch thận.

5. Bệnh thận bẩm sinh (di truyền hoặc không di truyền):
- Thận đa nang.
- Loạn sản thận.
- Hội chứng Alport.
- Bệnh thận chuyển hóa.
Qua trên thấy nguyên nhân hay gặp là bệnh viêm cầu thận mạn và viêm thận, bể thận mạn; do đó việc khai thác tiền sử của bệnh nhân và phát hiện hai nguyên nhân nói trên để điều trị sớm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giảm tỷ lệ của bệnh suy thận mạn.

III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA SUY THẬN MẠN
Mặc dù tổn thương khởi phát ở cầu thận, hệ mạch thận hay tổ chức kẽ thận thì các Nephron bị thương tổn nặng cũng sẽ bị loại khỏi vai trò chức năng sinh lý. Chức năng của thận chỉ được đảm bảo nguyên vẹn bởi các Nephron nguyên vẹn còn lại. Khi khối lượng Nephron chức năng bị tổn thương quá nhiều, số còn lại không còn đủ để duy trì sự hằng định của nội môi thì bắt đầu xuất hiện các biến loạn về nước điện giải, về tuần hoàn, về hô hấp, về tiêu hóa, về thần kinh tạo nên hội chứng suy thận mạn.

1. Triệu chứng lâm sàng:

1.1. Phù :
- Suy thận mạn do viêm thận, bể thận thường không có phù. Bệnh nhân thường đái nhiều do tổn thương nặng ở kẽ thận, ở giai đoạn cuối có thể có phù do có kèm cao huyết áp và suy dinh dưỡng , suy tim.
- Ở bệnh nhân suy thận mạn do viêm cầu thận mạn thường là có phù (trừ giai đoạn đái nhiều). Phù ở đây có thể do hậu quả của hội chứng thận hư, do suy tim kết hợp và do các yếu tố nội tiết khác gây giữ muối và giữ nước.

1.2. Thiếu máu :
- Thường gặp, nặng nhẹ tuy theo giai đoạn, suy thận càng nặng thì thiếu máu càng tăng. Đây là một dấu hiệu quý trên lâm sàng để chẩn đoán phân biệt với những trường hợp urê máu cao do các nguyên nhân cấp tính.
- Thiếu máu đa số là bình sắc hình thể kích thước bình thường có khi có hồng cầu to nhỏ không đều. Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán khi đến khám vì thiếu máu.
- Thiếu máu rất khó hồi phục do thận không sản xuất đủ Erythropoietin là yếu tố cần thiết để được hóa tiền hồng cầu.

1.3. Tăng huyết áp :
- Tăng huyết áp thường gặp chiếm khoảng 80% bệnh nhân có tăng huyết áp.
- Cá biệt có bệnh nhân có đợt tăng huyết áp ác tính làm chức năng thận suy sụp nhanh chóng dẫn đến tử vong.

1.4. Suy tim :
Khi xuất hiện thường đã muộn vì thường do giữ muối, nước và tăng huyết áp lâu ngày của quá trình suy thận mạn.

1.5. Viêm ngoại tâm mạc :
Tiếng cọ màng tim là một biểu hiện giai đoạn cuối cùng của suy thận mạn và là dấu hiệu báo hiệu tử vong từ 1-4 ngày nếu không được lọc máu hoặc điều trị tích cực.

1.6. Nôn, ỉa chảy :
Triệu chứng tiêu hóa của suy thận mạn ở giai đoạn đầu thường là chán ăn, ở giai đoạn III trở đi thì có buồn nôn, ỉa chảy. Có khi có xuất huyết tiêu hóa, có loét hoặc không loét.

1.7. Xuất huyết :
- Chảy máu mũi, chảy máu chân răng, chảy máu dưới da là thường gặp.
- Có trường hợp tiểu cầu giảm rất khó cầm máu. Xuất huyết tiêu hóa nếu có thì urê máu sẽ tăng lên rất nhanh.

1.8 . Ngứa :
Là một biểu hiện ngoài da thường gặp do lắng đọng calci trong da. Đây là triệu chứng gợi ý của cường cận giáp trạng thứ phát.

1.9. Chuột rút :
Thường xuất hiện ban đêm có thể là do giảm calci máu.

1.10. Viêm thần kinh ngoại vi :
Tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm. Bệnh nhân có cảm giác rát bỏng ở chân, kiến bò. Các triệu chứng này rất khó điều trị kể cả lọc máu ngoài thận.

1.11. Hôn mê :
- Hôn mê do mê máu tăng cao là biểu hiện lâm sàng cuối cùng của suy thận mạn. Ở giai đoạn tiền hôn mê bệnh nhân có thể có co giật, có rối loạn tâm thần.
- Những triệu chứng lâm sàng rất hay gặp là: phù, thiếu máu, tăng huyết áp, do đó dựa vào các triệu chứng chính này tại tuyến cơ sở có thể chẩn đoán được bệnh suy thận mạn.

2. Biểu hiện cận lâm sàng:

2.1. Mức lọc cầu thận giảm : Càng giảm nhiều suy thận càng nặng.

2.2. Nitơ phi protein tăng cao :
- Urê máu trên 50mg% là bắt đầu tăng.
- Creatinin máu l,5mg% là tăng rõ.
- Acid uric cũng tăng.
- Urê máu phụ thuộc vào chế độ ăn và quá trình giáng hóa của cơ thể (nhiễm khuẩn, xuất huyết, mất máu thường tăng nhanh).
- Urê máu và creatinin máu tăng song song là biểu hiện của suy thận đơn thuần.
- Urê máu tăng nhiều và creatinin máu tăng ít là biểu hiện tăng urê ngoài thận.

2.3. Natri máu thường giảm :
Kali máu bình thường hoặc giảm. Khi kali máu cao có biểu hiện đợt cấp có kèm theo thiểu niệu hoặc vô niệu.

2.4. pH máu giảm :
Suy thận giai đoạn III-IV, pH máu sẽ giảm, dự trữ kiềm giảm.

2.5. Calci máu giảm, Phospho máu tăng :
Có khả năng cường cận giáp trạng thứ phát.

2.6. Protein niệu :
Ở suy thận mạn giai đoạn III-IV bao giờ cũng có nhưng không cao. Nếu là viêm thận bể thận thì chỉ dưới l g/24h, nếu là viêm cầu thận mạn thì khoảng 2 đến 3g/24h.

2.7. Hồng cầu niệu :
Nếu có đái máu thì phải nghĩ đến sỏi tiết niệu trong viêm cầu thận mạn cũng có hồng cầu trong nước tiểu.

2.8. Bạch cầu niệu và vi khuẩn niệu :
Trường hợp suy thận do viêm thận bể thận mạn có khi có đái mủ.

2.9. Trụ niệu :
Có trụ hạt hoặc trụ trong là dấu hiệu của suy thận mạn.

2.10. Urê niệu :
Suy thận càng nặng urê niệu càng thấp, ở giai đoạn cuối chỉ đào thải được 64 g/24h.

2.11. Thể tích nước tiểu :
Giai đoạn đầu nước tiểu nhiều 2-3 lít/24h, đái nhiều về đêm là dấu hiệu của suy thận mạn, suy thận mạn nặng nước tiểu vẫn được 500-800 ml/24h. Có đái ít, vô niệu là có đợt cấp, hoặc là suy thận mạn giai đoạn cuối.

IV. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định:

- Suy thận mạn do bệnh cầu thận :
+ Có tiền sử phù.
+ Phù – cao huyết áp – thiếu máu.
+ Urê máu, creatinin máu cao, mức lọc cầu thận giảm.
+ Protein niệu 2-3 g/24h.

- Suy thận mạn do bệnh viêm thận bể thận mạn :
+ Có tiền sử nhiễm khuẩn tiết niệu.
+ Cao huyết áp – thiếu máu.
+ Urê máu, creatinin máu cao, mức lọc cầu thận giảm.
+ Protein niệu có nhưng ít không quá l g/24h.
+ Bạch cầu niệu bao giờ cũng có, vi khuẩn niệu có thể có hoặc không.
Ở tuyến cơ sở có thể dựa vào các triệu chứng trên để nghĩ đến bệnh nhân bị suy thận mạn và nếu có điều kiện thì làm các xét nghiệm urê máu, creatinin máu để chẩn đoán xác định.

2. Chẩn đoán phân biệt:
- Đợt cấp của suy thận mạn dựa vào:
+ Tiền sử.
+ Tỷ lệ urê máu / creatinin máu > 40.
+ Mức độ thiếu máu tương xứng mức độ suy thận.

3. Chẩn đoán giai đoạn:

Giai đoạn
Suy thận mạn
Mức lọc cầu thận (ml/phút)
Creatinin máu
Lâm sàng
μmol/l
mg/dl
Bình thường 120 70 – 106 0,8 – 1,2 Bình thường
I 60 – 41 < 130 < 1,5 Gần bình thường
II 40 – 21 130 – 299 1,5 – 3,4 Gần bình thường, thiếu máu nhẹ
IIIa 20 – 11 300 – 499 3,5 – 5,9 Chán ăn, thiếu máu vừa
IIIb 10 – 5 500 – 900 6,0 – 1 Chán ăn, thiếu máu nặng, bắt đầu chỉ định lọc máu
IV < 5 > 900 > 10 Hội chứng urê máu cao, lọc máu là bắt buộc.

Dựa vào triệu chứng lâm sàng: thiếu máu và cảm giác ăn ở tuyến cơ sở có thể chẩn đoán sớm được giai đoạn của suy thận mạn để ra quyết định điều trị sớm.

V. ĐIỀU TRỊ
1. Điều trị bảo tồn:

1.1. Chống các yếu tố gây nặng bệnh :
- Cao huyết áp.
- Nhiễm khuẩn (không dùng các thuốc kháng sinh độc với thận).
- Điều chỉnh nước và điện giải.
- Không dùng thuốc độc cho thận.

1.2. Tránh các sai sót thường mắc phải :
- Dùng lợi tiểu không đúng: Dùng Lasix gây mất nước, Hypothiazid gây giảm mức lọc cầu thận.
- Ăn nhạt quá mức kéo dài không cần thiết gây giảm natri máu.
- Dùng thuốc độc cho thận gây giảm mức lọc cầu thận: Gentamycin, Kanamycin…
- Dùng thuốc quá liều so với chức năng thận: Ví dụ: Digitoxin dễ gây loạn nhịp tim ở những bệnh nhân suy thận, mặc dù liều không cao so với người bình thường.

1.3. Điều trị theo giai đoạn :
- Suy thận giai đoạn I và II :
+ Ăn ít đạm hơn bình thường.
+ Điều chỉnh huyết áp: Aldomet 250mg x 2-4 viên/24h, có thể dùng Propranolol, Nifedipin…
+ Ăn nhạt nếu có phù và cao huyết áp.
+ Lợi tiểu nếu có phù và tăng huyết áp.
- Suy thận giai đoạn III :
+ Chế độ ăn là biện pháp chủ đạo để hạn chế mê máu tăng, protid = 0,5kg/24h, đảm bảo vitamin, tăng cầm bằng bột ít đạm. Đảm bảo các acid amin bằng trứng, sữa trong thức ăn. Ở cuối giai đoạn III chỉ nên cho với một người sống: 20g protid đảm bảo 1800 – 2000 calo/24h.
+ Muối: ăn nhạt khi có phù, cao huyết áp.
+ Nước: chỉ uống bằng lượng nước tiểu 24h.
+ Kali: giai đoạn đầu thường không tăng kali máu, ở cuối giai đoạn III có thể tăng kali máu nên hạn chế các rau quả và thức ăn có nhiều kali.
+ Calci: cho vitamin D và calci khi có calci máu giảm.
+ Kiềm: cho khi có toan máu.
+ Trợ tim: không dùng kéo dài, giảm liều lượng khi có suy thận nặng.
+ Chống thiếu máu: có thể truyền máu, khối hồng cầu, cho viên sắt, Erythropoietin
- Suy thận giai đoạn IV :
+ Lọc máu ngoài cơ thể là chỉ định bắt buộc, có điều kiện thì ghép thận.

2. Lọc máu ngoài thận :
- Chỉ định bắt buộc: giai đoạn IV.
- Chỉ định sớm: giai đoạn IIIb.
- Suy thận mạn là một hội chứng diễn biến qua nhiều giai đoạn và kéo dài nhiều năm. Điều trị rất phức tạp và ít kết quả, có nhiều biến chứng nặng nề nên cần phải sớm phát hiện và điều trị sớm các bệnh tiết niệu để phòng dẫn đến suy thận mạn.

Theo benhhoc.com

Nang thận

Nang thận

Bệnh lý nang thận bao gồm 2 nhóm chính. Loại nang thận thường gặp nhất là “nang thận đơn giản” là loại không có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Loại nang thận còn lại được gọi là “nang thận phức tạp”. Thuật ngữ “nang thận phức tạp” dùng để chỉ một nhóm các loại nang có những đặc tính khác nhau khiến các bác sĩ nghi ngờ đến ung thư thận.

“Nang thận đơn giản” là một chẩn đoán có định nghĩa rất rõ ràng phụ thuộc vào phương tiện chẩn đoán hình ảnh nào phát hiện ra nó (siêu âm, CT scan v.v…).
 
Nang thận đơn giản là một khoang hình cầu nằm đâu đó trong thận bên trong chứa đầy dịch. Thành nang rất mỏng và không gồ ghề. Bên trong nang chỉ có dịch và khi được lấy ra thì ta sẽ thấy chất dịch này có màu vàng hoặc trong.
Nang thận đơn giản không có nguy cơ trở thành ung thư và do đó không cần phải lo lắng gì về nó cả.
Thật vậy, ở độ tuổi 50, bạn sẽ có khoảng 50% khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản. Khi tuổi ngày càng lớn hơn, khả năng xuất hiện các nang thận đơn giản sẽ ngày càng cao hơn và kích thước của chúng cũng ngày càng lớn hơn. Nếu bạn trên 50 tuổi và không hề có 1 cái nang thận nào cả thì thật ra bạn đang nằm trong nhóm thiểu số.
Có một loại nang thận đơn giản khác được gọi là nang tăng đậm độ. Nang tăng đậm độ là một loại nang thận đơn giản có máu bên trong. Nang thận tăng đậm độ không phải là một dạng nghi ngờ ung thư thận và nó chỉ là một loại nang thận đơn giản mà thôi.
Phần lớn các nang thận đơn giản được xác định trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh được thực hiện vì một lý do khác. Các nang thận đơn giản không có các biểu hiện gợi ý trên lâm sàng. Thông thường các nang thận đơn giản không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và không gây tổn hại cho cơ thể.
Trong một số ít trường hợp, các nang thận có thể gây ra những triệu chứng như đau hông lưng, nhưng những trường hợp này rất hiếm. Nếu một nang thận được cho là có thể gây đau hoặc gây ra những triệu chứng khác, nó thường có thể được điều trị bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh bằng cách chọc hút và làm xơ hóa nang dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT. Thủ thuật chọc hút được định nghĩa là cách đâm kim xuyên qua da để hút dịch từ trong nang ra ngoài rồi sau đó thực hiện xơ hóa.
Thủ thuật xơ hóa là cách bác sĩ tiêm một chất hóa xơ vào bên trong nang. Thủ thuật chọc hút và xơ hóa các nang thận đơn giản có triệu chứng thường rất hiệu quả mặc dù trong một số trường hợp nang thận có thể xuất hiện trở lại. Ngoài cách theo dõi (nếu nang thận không gây khó chịu quá mức), thủ thuật chọc hút và xơ hóa là cách điều trị ít xâm lấn nhất đối với các nang thận đơn giản có gây triệu chứng.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, nang thận đơn giản có triệu chứng có thể cần phải phẫu thuật nội soi ổ bụng bóc vỏ nang. Khi thực hiện thủ thuật này, bác sĩ sẽ rạch một đường nhỏ ở thành bụng của bạn rồi nhẹ nhàng bơm hơi vào bụng. Nang thận sẽ được định vị và thành nang sẽ được bóc tách ra ngoài để tránh tình trạng nang tái lập trở lại. Thông thường, thủ thuật này được áp dụng để điều trị nang thận đơn giản trong trường hợp cách điều trị bằng chọc hút và xơ hóa thất bại. Thủ thuật này rất hiệu quả và bệnh nhân thường cần phải ở lại trong bệnh viên khoảng 1 đêm.
“Nang thận phức tạp” khác với nang thận đơn giản ở chỗ nang có thể có bờ gồ ghề. Để được xếp vào nhóm nang thận phức tạp, nang phải có một vài chỗ không đồng nhất bên trong. Các chỗ không đồng nhất này có thể xuất hiện ở nhiều biến thể khác nhau. Vách ngăn là các thành bên trong nang. Các vách ngăn này có thể rất mỏng và đều hoặc tương đối dày và thô. Càng có nhiều vách ngăn hoặc vách ngăn càng dày thì càng cho gợi ý nang này có liên quan đến ung thư thận.
Nang cũng có thể bị canxi hóa. Đây là hiện tượng canxi được nhìn thấy bên trong nang. Có thể có rất ít canxi hoặc vết canxi hóa tương đối dày.
Nang thận phức tạp còn có thể có nhu mô bên trong và được tăng tưới máu. Hiện tượng tăng tưới máu có nghĩa là nang thận được cung cấp thêm nhiều máu hơn, hiện tượng này có thể phát hiện ra bằng cách tiêm chất tương phản vào tĩnh mạch rồi sau đó quan sát bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. HIện tượng tăng tương phản bên trong các nang thận phức tạp gợi ý nhiều đến ung thư thận và đòi hỏi cần phải có sự can thiệp điều trị của các bác sĩ niệu khoa.
Nhiều nang thận phức tạp có thể chỉ có ít nguy cơ là hoặc trở thành ung thư thận.
Tuy nhiên, có một số nguy cơ khiến nang thận phức tạp có thể trở thành ung thư thận và do đó nó cần phải được đánh giá bởi một bác sĩ niệu khoa nhiều kinh nghiệm cùng với sự hội chẩn của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Thông thường, các nang thận phức tạp có thể được giải quyết bằng cách theo dõi chủ động để xem nó có thay đổi theo thời gian hay không.
Nguy cơ mà một nang thận phức tạp là, hoặc trở thành, ung thư tùy thuộc vào hình dạng của nó. Có một hệ thống phân độ nang thận dựa trên hình dạng của nó trên CT giúp các bác sĩ tiên đoán được khả năng các nang thận phức tạp trở thành ung thư. Hệ thông phân độ này được gọi là phân độ Bosniak. Phân độ Bosniak cung cấp những tiêu chuẩn để phân độ các nang dựa trên nguy cơ trở thành ung thư thận.

Phân độ Bosniak dành cho các nang thận phức tạp

 NhómI

Các nang thận đơn giản lành tính với thành mỏng như cọng tóc và không có các vách ngăn, không có các điểm canxi hóa, hoặc không có các thành phần đặc bên trong. Nó có đậm độ của nước và không tăng âm khi tiêm chất cản quang.

 NhómII

Nang thận lành tính có thể có một vài vách ngăn mỏng như cọng tóc bên trong. Có các vết canxi hóa đồng nhất ở thành nang hoặc ở các vách ngăn.

 NhómIIF

Các nang này có thể có nhiều vách ngăn mỏng. Có thể thấy những chỗ tăng quang nhỏ ở các vách ngăn hoặc thành nang và có thể có vài chỗ dày chút ít ở vách ngăn hoặc thành nang. Nang có thể có vài vết canxi hóa tạo thành nốt và dày nhưng không có tăng âm khi tiêm cản quang. Không có tăng quang ở thành phần mô mềm của nang.

 NhómIII

Là những tổn thương ở dạng trung gian giữa nang và khối đặc có thành dày không đều hoặc có vách ngăn có bắt thuốc cản quang.

 NhómIV

Những tổn thương này rất giống với các tổn thương nang và có chứa thành phần mô mềm có bắt thuốc cản quang.

Phân độ Bosniak được liệt kê phía trên được thiết lập để giúp bác sĩ tiên đoán được khả năng liên quan đến ung thư thận của các nang thận phức tạp. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm I có khả năng trở thành ung thư thấp hơn 2%. Các nang thận phức tạp thuộc Bosniak nhóm II và II có khả năng trở thành ung thư lần lượt từ 18%% và 33%. Phần lớn các nang thận thuộc Bosniak nhóm IV (khoảng 92%) có liên quan đến ung thư thận.

Bằng cách sử dụng hệ thống phân độ Bosniak, người bệnh có thể hợp tác với bác sĩ niệu khoa để thiết lập kế hoạch điều trị. Kế hoạch điều trị sẽ được kết hợp chặt chẽ tất cả các yếu tố bao gồm tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cũng như nguy cơ ung thư thận kèm theo. Kế hoạch điều trị có nhiều mức độ khác nhau, thay đổi từ thấp nhất là theo dõi tích cực cho đến cao nhất là cắt bỏ thận tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Theo Kidney Cancer Institute (Yhọc.net)

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Dấu hiệu của bệnh thận

Dấu hiệu của bệnh thận

Thận là một trong những căn bệnh gây ra nhiều biến chứng phụ rất cao, do đó phải tìm ra dấu hiệu của bệnh càng sớm càng tốt trước khi quá muộn. Đau thận gây đau vùng hông, lưng, sát gần xương sườn, có thể gây sốt. Ngoài ra, sự thay đổi màu của nước tiểu cũng do bệnh tại thận.

Thận có chức năng lọc máu để thải chất độc tạo ra nước tiểu và tạo ra những nội tiết tố để điều hòa lượng nước tiểu và các ảnh hưởng đến huyết áp . Nước tiểu từ thận tạo ra rẽ theo hai ống dẫn là niệu quản, rồi chảy xuống bàng quang. Nước tiểu đọng lại đó vài tiếng đồng hồ rồi được đưa ra ngoài theo ống niệu đạo. Đối với nam giới, qua đường ống niệu đạo để ra ngoài còn có tinh dịch bao gồm tinh trùng do tinh hoàn sản xuất ra và các dịch của tuyến tiền liệt và túi tinh.

Các dấu hiệu của bệnh

Thông thường các bệnh nhân thường có dấu hiệu đau lưng liền kết luận bị sỏi thận. Tuy nhiên có 98% đau lưng không phải là do bệnh thận mà lại là do bệnh từ cột sống, lưng, thần kinh hoặc bệnh đau toàn thân. Các bệnh nhân bệnh cúm ngoài đau khắp mình thì vùng lưng đau dữ dội hơn. 2% đau lưng do bệnh thận thì chỉ có hơn 1% là do sỏi thận gây ra, còn lại là do viêm thận, bướu thận.

* Đau thận gây đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn có thể kèm theo sốt.

* Đau sỏi thận, sỏi niệu quản gây ra những cơn đau dữ dội, đau từ sau lưng chạy xuống bộ phận sinh dục.

Các triệu chứng của đau lưng:

* Khi bệnh nhân đau ê ẩm, đau xuống chân thì là do đau thần kinh tọa, đau cột sống.

* Đau lưng sát gần xương chậu, đau nhói khi đứng dậy hay khiêng vác đồ nặng, cơn đau có thể lan xuống mông hoặc chân bên, đó cũng là do đau thần kinh tọa.

* Đau lưng do rễ thần kinh cũng thường tăng lên sau khi đi xe đạp hoặc xe máy trên một đoạn đường dài và xóc.

* Đau lưng bình thường do mệt mỏi xuất hiện sau một ngày làm việc mệt nhọc, công việc ngồi một chỗ, ít hoạt động, cảm giác ê ẩm lưng và toàn thân. Để hiểu rõ nguyên nhân của đau lưng, bác sĩ sẽ có những kiểm tra, khám nghiệm thận và cột sống của bệnh nhân. Nếu cần thiết có thể sẽ tiến hành thêm các khám nghiệm khác như siêu âm, chụp X-Quang, thử nước tiểu…

Xem nước tiểu đoán bệnh

Sự thay đổi mầu sắc và độ trong của nước tiểu có thể do ăn uống hoặc do một loại thuốc nào đó gây màu nước tiểu bị thay đổi. Một nguyên nhân khác là do bệnh tại thận vì đây là nơi sản xuất ra nước tiểu, hoặc tại bàng quang – ở nơi chứa nước tiểu. Màu nước tiểu bình thường có màu vàng từ nhạt tới hơi sẫm. Độ vàng tuỳ thuộc vào nồng độ chất mochorome trong nước tiểu. Đây là một chất thoái hóa của hemoglobin. Nếu cơ thể có ít nước cung cấp vào hoặc lao động nhiều mà không uống đủ nước thì nước tiểu có màu vàng sẫm. Có khi màu nước tiểu lại chỉ hơi đục đục, nhất là khi đi tiểu vào buổi sáng. Các hiện tượng này chứng tỏ rằng nước tiểu bị kềm hóa nhẹ nên các tinh thể nhất phát dễ đọng lại. Uống nhiều nước hoặc uống bổ sung 2 viên Chdoramonic vào buổi tối để nước tiểu trong lại. Màu nước tiểu còn có thể bị vẩn đục do nước tiểu có máu. Tốt nhất nên đi khám bác sỹ chuyên khoa, xét nghiệm nước tiểu, cấy nước tiểu, cấy dịch niệu đạo tìm vi trùng, làm siêu âm, chụp Xquang… để tìm ra nguyên nhân gây nên các triệu chứng trên. Sau khi tìm ra các nguyên nhân để từ đó có cách điều trị khác nhau và hiệu quả. Nếu có triệu chứng tiểu buốt, tiểu lắt nhắt, tiểu són là những triệu chứng của bệnh tại bàng quang hay niệu đạo chứ không phải của bệnh do thận. Nguyên nhân thường gặp nhất là viêm bàng quang ở phụ nữ và trẻ em, còn đối với nam giới là viêm niệu đạo, bướu tuyến tiền liệt, nhất là đối với bệnh nhân trên 50 tuổi.

Ảnh hưởng đến sinh lý?

Đôi khi người ta lầm tưởng rằng yếu sinh lý hoặc có bất kỳ những trục trặc nào trong chuyện tình dục đều là do suy thận. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy mà là do mạch máu đến bộ phận sinh dục bị hẹp tắc do thần kinh điều khiển tại chỗ hoặc trên não bị trục trặc. Chính vì vậy mà chẩn đoán và điều trị yếu sinh lý là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Yếu sinh lý gồm các nhóm bệnh sau: rối loạn ham muốn (mất hoặc giảm ham muốn), rối loạn cương, rối loạn xuất tinh (có thể là xuất tinh sớm hoặc không xuất tinh), rối loạn cảm giác (không có khoái cảm hoặc bị đau khi lên đến đỉnh điểm), khả năng thụ thai thấp. Mỗi một nhóm bệnh lại được thành những nhóm nhỏ hơn, tương ứng với những bệnh khác nhau, mỗi bệnh có cách điều trị riêng. Các bệnh do suy thận cũng sẽ được chẩn đoán và điều trị theo kết quả của bác sĩ.

Như vậy, phù thận có thể do thận, bệnh thận cũng ít khi gây đau lưng, còn yếu sinh lý thì hoàn toàn không phải do thận yếu. Nếu không bị phù thì cách phòng bệnh thận tốt nhất hiện nay là uống nhiều nước, đặc biệt là khi làm việc ngoài nắng, trong môi trường nóng nực, tập thể thao, lao động nặng. Nếu trong sinh hoạt hàng ngày, cứ 6-7 tiếng mới thấy buồn đi tiểu và nước tiểu có mầu vàng sẫm thì chắc chắn cơ thể bạn chưa được cung cấp đủ nước. Vì vậy cần uống nhiều nước, ít nhất là 2 lít nước mỗi ngày.

Bùi Tiến Dũng
( Tư vấn tiêu dùng )

Theo_Thanh_Nien

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bệnh bướu bàng quang: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh bướu bàng quang: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bướu bàng quang đứng hàng thứ 4 trong các loại ung thưở nam giới, sau ung thưphổi, tiền liệt tuyến, đại trực tràng 90% trường hợp K bàng quang có dạng carcinoma tế bào chuyển tiếp.
Đối tượng nguy cơ: nam trên 50 tuổi và có thói quen nghiện hút thuốc lá nhiều, lâu ngày hoặc có thời gian tiếp xúc lâu dài với hóa chất nhuộm anilin, các hợp chất amin thơm, các hóa chất trong công nghiệp chế tạo cao su… với thời gian tiếp xúc hoá chất trên 10 năm

Phân loại bướu bang quang:

Đ ộ bi ệt hoá (Grade) đ ộ xâm l ấn (Stage)
- Grade 1 : các tế bào biệt hóa tốt, ít phân bào, ít di căn, độ hoá ác thấp. Ðại thể thường là những bướu có cuống dài, chân hẹp.
- Grade 2 : tế bào biệt hóa vừa, mức độ ác tính trung bình. Ðại thể bướu có cuống ngắn và nông, có khi các nhánh dính vào nhau và bướu có hình nhưbông cải.
- Grade 3 : tế bào biệt hóa kém, mức độ ác tính cao, sớm ăn sâu vào lớp cơbàng quang và sớm di căn hạch, tiên lượng xấu. Ðại thể thường bướu không có cuống mà thâm nhiễm rộng ở lớp cơbàng quang.
+ Stage b ướu nông : chân bướu còn khu trú ở niêm mạc bàng quang
+ Stage b ướu sâu : chân bướu đã xâm lấn đến lớp cơbàng quang hoặc sâu hơn

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BƯỚU BÀNG QUANG:

-  Mắc các bệnh phụkhoa hay viên nhiễm đường tiết liệu

-  Bị táo bón lâu ngày

-  Tiểu tiện quá ít (ít hơn 5 lần mỗi ngày)

-  Sinh hoạt tình dục không an toàn

-  Thường xuyên ngồi lâu

-  Thiếu ngủ, chế độ ăn uống không hợp lý, thường xuyên mệt mỏi và căng thẳng

-  Không giữ ấm cơ thể

-  Ăn nhiều đồ rán và các loại thức ăn có vị cay

-  Mặc quần áo quá chật

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BƯỚU BÀNG QUANG:

Triệu chứng lâm sàng:

- 80% phát hiện muộn
- Đái máu đại thể, tự khỏi dù có hay không có điều trị
- Đái gắt buốt do bướu đã phát triển lớn nên có những vùng bướu bị hoại tử, làm cho có hiện tượng bội nhiễm, trong nước tiểu sẽ có bạch cầu và vi trùng
- Thận ứ nước nếu bướu ăn đến lỗ niệu quản
- Hội chứng thiếu máu do đái máu kéo dài
- Thăm trực tràng: có thể thấy đáy bàng quang bị thâm nhiễm cứng trong thể bướu thâm nhiễm

C ận lâm sàng:

- Siêu âm ngã bụng hoặc trực tràng/ âm đạo
- UIV : phát hiện ra bướu bằng hình ảnh khuyết ở bàng quang.Ngoài ra còn cho thông tin về giải phẫu chức năng của đường tiểu trên.
Khi bướu xâm lấn miệng niệu quản thì có thể thấy hình ảnh giãn nở đài bể thận và niệu quản.
Nên chụp phim ngoài lúc tiểu máu vì có thể nhầm lẫn với máu cục trong bàng quang
- Soi bàng quang và sinh thi ết : xác định kích thước bướu, vị trí bướu, số lượng bướu, hình thể đặc biệt của bướu nhưcó cuống hay không, cuống to hay nhỏ. Ngoài ra khảo sát cả bệnh lý phối hợp ở bàng quang nhưvị trí túi ngách, bướu tiền liệt tuyến và tình trạng giãn nở của bàng quang để có ý niệm về sự thâm nhiễm của bướu. Sinh thiết ở chân của bướu
- CTscan vùng ch ậu : phát hiện trường hợp bướu thâm nhiễm rõ, có thể dùng để truy tìm hạch và tìm các tổn thương do di căn trên các cơquan khác

III. CHUẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH BƯỚU BÀNG QUANG:

Tiểu máu , nếu tự nhiên đi tiểu ra máu thì phải đi khám bác sĩ ngay vì rất có thể bạn bị một ung thư bàng quang. Tuy nhiên, tiểu máu cũng có thể do ung thư thận, hay chỉ là do viêm bàng quang, lao thận, lao bàng quang.

Bệnh nhân sẽ được yêu cầu xét nghiệm nước tiểu để xác định chắc chắn là có tiểu máu (có hồng huyết cầu trong nước tiểu), vì nước tiểu có thể có màu đỏ mà không phải do tiểu máu. Ngoài ra, nước tiểu còn được phân tích xem có tế bào ung thư không.

Siêu âm là một xét nghiệm đơn giản, không gây hại và giúp chẩn đoán sớm bướu bàng quang. Bệnh nhân cần phải uống nước nhiều, nhịn đi tiểu để bàng quang căng to, bác sĩ làm siêu âm sẽ dễ khảo sát bàng quang xem có bướu hay không.

Chụp X quang đường niệu (UIV) là một xét nghiệm cao cấp hơn. Để phân trong ruột không che lấp thận, bàng quang, bệnh nhân cần được súc ruột trước khi chụp, hay được uống thuốc xổ một ngày trước. Ngoài ra, bệnh nhân còn cần nhịn uống nước vài giờ trước khi chụp để nước tiểu cô đặc lại, dễ nhìn thấy thận hơn. Bệnh nhân sẽ được bơm thuốc cản quang vào mạch máu, thuốc này vào máu rồi vào thận và bàng quang, nó giúp thận và bàng quang nổi bật lên trên phim. Thuốc cản quang có thể gây dị ứng chết người, nên nếu bệnh nhân có bị bệnh dị ứng (bị hen suyễn, bị chàm, bị dị ứng kháng sinh.) thì cần phải khai rõ với bác sĩ để bác sĩ định liệu xem có nên tiếp tục chụp phim không, và nếu vẫn tiến hành chụp phim được thì cần chuẩn bị các thuốc chống dị ứng kỹ lưỡng. Ngoài ra, chụp X quang sẽ không được làm cho phụ nữ mang thai. Thông thường, 5 phút sau khi bơm thuốc vào mạch máu, bác sĩ sẽ chụp một phim, 10 phút sau một phim nữa, và 15 phút sau thêm một phim nữa; tổng cộng có 3 phim. Nhờ các phim này bác sĩ biết bệnh nhân có bướu bàng quang hay không, và mức độ ảnh hưởng của bướu tới thận.

Soi bàng quang, là một xét nghiệm chuyên khoa do bác sĩ chuyên khoa Niệu thực hiện. Máy soi thường là một ống bằng kim loại, được bôi thuốc gây tê và làm trơn máy, rồi luồn qua niệu đạo vào bàng quang. Nhờ có đèn trong máy, soi sáng bàng quang, nên bác sĩ có thể nhìn tận mắt mọi ngóc nghách của bàng quang và phát hiện bướu, cũng như đo lường kích thước bướu làm cơ sở cho phương pháp điều trị sau này. Thông thường khi thấy bướu hay nhìn thấy chỗ nào nghi ngờ có bướu, bác sĩ sẽ luồn một kẹp nhỏ vào trong máy để bấm một mảnh thịt nhỏ như đầu tăm (gọi là sinh thiết). Mảnh thịt được gởi đi phòng xét nghiệm, để xem có phải là bướu không, và nếu chẳng may là bướu thì mức độ “ác” của bướu là như thế nào.

Sau khi soi về, bệnh nhân thường tiểu rát và tiểu ra máu trong vài ngày cho dù có bướu hay không có bướu, vì máy soi cọ xát làm trầy nhẹ đường tiểu.

Gần đây, phương pháp chụp X quang một loạt nhiều tấm (Chụp cắt lớp = C.T.Scan ) đã không những giúp chẩn đoán ra các bướu bàng quang mà còn giúp biết mức độ ăn lan của bướu ra mô xung quanh và tới các hạch trong bụng, tới gan. Tuy nhiên, xét nghiệm này mắc tiền (trên 1. 000. 000 đồng) nên ít phổ biến, chỉ có một vài bệnh viện lớn là có máy.

IV. ĐIỀU TRỊ BIẾU BÀNG QUANG:

Điều quan trọng trong điều trị bướu bàng quang là bệnh nhân phải chịu khó “theo” bác sĩ một thời gian dài, 5-10 năm cho đến cả đời, bởi vì bướu bàng quang rất dễ tái phát. Nhiều khi ban đầu bệnh nhân chỉ bị một bướu nhỏ, được cắt hết, bệnh nhân an tâm ra về không quay lại tái khám, để rồi sau 1-2 năm quay lại với một bướu tái phát to, thậm chí còn lan xa. Lịch trình tái khám cụ thể sẽ được trình bày ở các phần bên dưới.

Phẫu thuật

Cắt đốt nội soi

Cắt đốt nội soi thực chất cũng là một cuộc mổ, nhưng là cuộc mổ nhỏ với phương tiện hiện đại. Bệnh nhân được gây mê hay gây tê tủy sống, sau đó bác sĩ phẫu thuật sẽ luồn một cái máy cắt đốt nội soi qua niệu đạo vào bàng quang. Máy này bằng kim loại, giống máy dùng để soi bàng quang nhưng hơi to hơn. Dao cắt là một dây kim loại bền, dẫn điện tốt, được gắn với một tay cầm. Dòng điện qua dao giúp cắt mô và cầm máu, nhưng không lan truyền đi xa và không gây giật. Cắt đốt nội soi có kết quả rất tốt đối với những bướu nhỏ, còn nông, chưa ăn sâu vào thành bàng quang. Nếu bị tái phát bệnh nhân có thể lại được cắt đốt nội soi tiếp.

Mô cắt ra sẽ được gởi đi xét nghiệm, nếu phát hiện bướu ăn sâu vào.

Hình 1: Cắt đốt nội soi bướu bàng quang thành bàng quang, và nếu sức khỏe bệnh nhân cho phép, bệnh nhân sẽ được đề nghị cắt hết bàng quang.

Cắt đốt nội soi chỉ lấy hết bướu nhưng không dự phòng được việc bướu tái phát, nên bệnh nhân sẽ được đề nghị hóa trị tại chỗ: bơm thuốc vào bàng quang (xem bên dưới).

Sau khi chấm dứt hóa trị bơm thuốc vào bàng quang, bệnh nhân sẽ được tái khám mỗi 3 tháng / lần trong vòng 2 năm đầu tiên. Mỗi lần tái khám bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân thử nước tiểu để tìm hồng cầu và tìm tế bào ung thư, và nội soi kiểm tra bàng quang. Thường bướu hay tái phát trong thời gian 2 năm này. Nếu không có tái phát trong 2 năm, lịch tái khám sẽ thay đổi, bệnh nhân được tái khám mỗi 6 tháng / lần trong 2 năm kế tiếp. Nếu vẫn không có tái phát thì từ đó về sau bệnh nhân chỉ phải tái khám mỗi năm một lần.

Cắt bỏ bướu bàng quang

Đối với những bệnh viện không có máy cắt đốt nội soi thì dù bướu nhỏ cũng phải mổ ngã bụng, mở bàng quang ra để cắt bỏ bướu. Sau mổ bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ như đã bàn ở trên.

Cắt bỏ bàng quang bán phần

Một phần bàng quang được cắt bỏ, kèm theo với một đoạn niệu quản cắm vào bàng quang. Phẫu thuật này dành cho những bướu tuy nhỏ nhưng xâm lấn một miệng niệu quản, làm thận bên đó bị ứ nước, và còn có thể do bệnh nhân yếu nên không thể cắt hết bàng quang được. Khả năng tái phát ung thư cao, nhưng dù sao, sau mổ bệnh nhân vẫn còn đi tiểu bình thường được. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ sau mổ.

Cắt bỏ bàng quang hoàn toàn

Khi bướu đã ăn sâu vào thành bàng quang, biện pháp trị tốt nhất là cắt bỏ toàn bộ bàng quang, nên không còn chỗ cho bướu tái phát nữa. Phẫu thuật thuộc loại “nặng”, nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân. Cắt bỏ bàng quang cũng có khi được thực hiện trên những bệnh nhân mà ung thư đã tiến triển xa, nhằm lấy bớt mô bướu, điều trị chảy máu dai dẳng…

Sau khi cắt hết bàng quang, nếu bướu đã ảnh hưởng nhiều lên thận và nếu bướu xâm lấn ra khỏi bàng quang, dính vào các mô xung quang bàng quang, thì có lẽ tốt nhất là đưa 2 miệng niệu quản đã cắt cụt ra nối với da. Nước tiểu sẽ chảy liên tục qua 2 lỗ niệu quản này, nên bệnh nhân cần đeo túi hứng dán vào da, hay đeo 2 ống thông nhỏ mà một đầu bên trong luồn qua lỗ niệu quản lên thận và một đầu ngoài nối với 1 bao hứng nước tiểu. Ống thông sẽ được thay mỗi tuần / lần.

Trường hợp bướu chưa xâm lấn ra vùng xung quanh bàng quang, và nếu bệnh nhân khỏe mạnh, bác sĩ có thể dùng chính ruột non của bệnh nhân để tạo ra một bàng quang mới. Đoạn ruột này dài khoảng 60 cm, sẽ không gây ảnh hưởng gì đặc biệt lên trên tổng chiều dài của ruột non (khoảng 6-8 m). Bàng quang mới này có thể có một lỗ mở ra thành bụng, thông qua một van có kiểm soát (van cũng bằng một đoạn ngắn ruột non). Nhờ đó bệnh nhân không phải đeo túi gì cả vì làm nước tiểu không trào ra van được, rồi cứ mỗi 3-4 tiếng, bệnh nhân tự luồn một ống thông nhỏ, sạch vào bàng quang mới này để rút hết nước tiểu ra. Điểm bất tiện là dịch ruột non bài tiết có thể gây trở ngại, hay tạo sỏi, nên mỗi ngày bệnh nhân phải dùng ống chích, bơm rửa nước sạch qua ống thông vào bàng quang để hút hết dịch nhầy của ruột ra. Về lâu về dài, dịch nhầy sẽ giảm tiết dần, nên chỉ cần bơm rửa mỗi tuần một lần.

Lý tưởng nhất là túi bàng quang bằng ruột được nối vào mỏm niệu đạo, do đó bệnh nhân sau một thời gian tập luyện, có thể đi tiểu gần như người bình thường. Bệnh nhân không phải mang túi gì bên ngoài cả, cũng như không có lỗ nào trổ ra thành bụng. Loại phẫu thuật này chỉ có thể thực hiện nếu bệnh nhân có thể trạng khá tốt, và bướu chưa xâm lấn tới cổ bàng quang, bướu không có quá nhiều ổ vì khả năng niệu đạo cũng bị bướu “ăn” mất rồi. Ngoài ra, không thể thực hiện phẫu thuật này cho phụ nữ được vì niệu đạo nữ đã bị lấy đi cùng với bàng quang.

Hình 2: Tạo hình bàng quang bằng ruột non.

Hóa trị tại chỗ

Đây là phương pháp bơm thuốc vào bàng quang. Có một vài thứ thuốc có thể dùng bơm vào bàng quang để trị dứt tiệt các tế bào bướu còn sót sau cắt đốt nội soi và dự phòng tái phát ung thư: thiotepa, mitomycin-C, adriamycin hay BCG. Cách sử dụng các thuốc này thay đổi tùy từng phác đồ của mỗi bệnh viện.

Thiotepa , ngày nay ít ai còn dùng để bơm vào bàng quang nữa do thuốc ít hiệu quả mà lại dễ ngấm vào máu gây chứng giảm tiểu cầu hay ức chế tủy xương.

Mitomycin-C , thuốc dùng có hiệu quả tốt, không gây tác dụng phụ toàn thân vì thuốc không bị hấp thụ vào máu, nhưng lại hay gây ra kích thích bàng quang, viêm bàng quang do thuốc. Liều thông thường là tiêm vào bàng quang mỗi tuần/ lần, mỗi lần 40 mg, trong 6 tuần.

Adrimycin , thuốc có vẻ dùng tốt do có hiệu quả và ít gây tác dụng phụ hơn các thuốc trên. Liều dùng thay đổi tùy bệnh viện, có thể là 80 mg cho mỗi lần bơm, mỗi tuần / lần trong 8 tuần.

BCG , (Bacillus Calmette-Guerin), có lẽ là thứ hữu hiệu nhất. Đây không phải là một loại chất hóa học, mà là vi khuẩn Mycobacterium bovis đã được làm yếu đi. BCG có tác dụng kích thích hệ miễn dịch tại chỗ làm tế bào bướu không phát triển được. Có nhiều dòng BCG được dùng, nhưng hay dùng nhất là dòng Tice và Connaught. Bất lợi của BCG là gây ra viêm bàng quang và có thể gây tác dụng phụ toàn thân nguy hiểm. Do đó, không được dùng BCG nếu bệnh nhân còn bị tiểu máu hay việc thông tiểu gây chấn thương niệu đạo. Cách dùng cũng thay đổi tùy bệnh viện, có thể dùng 40 mg (loại Tice) hay 120 mg (loại Connaught) mỗi tuần / lần trong 6 tuần.

Xạ trị

Được áp dụng cho những ung thư bàng quang xâm lấn. Kể từ khi có sự phát triển của các phương pháp tạo hình bàng quang bằng ruột non, chỉ định điều trị bằng xạ trị trở nên thu hẹp lại, trong khi phẫu thuật cắt bỏ bàng quang tận gốc kèm theo tạo hình bàng quang được mở rộng ra.

Hóa trị toàn thân

Trong các loại thuốc trị ung thư bàng quang có tác dụng toàn thân, thì công thức M-VAC (methotrexate + vinblastine-adriamycin – cisplatin) tỏ ra có hiệu quả nhất: 40-50% có đáp ứng một phần hay hoàn toàn.

Các phương pháp điều trị khác

Còn có những phương pháp khác trên thế giới dùng trong điều trị ung thư bàng quang như phương pháp xạ – quang (photoradiation) hay dùng laser để đốt bướu. các phương pháp đó chưa xuất hiện tại Việt Nam, nằm ngoài mục đích của bài viết này nên chúng tôi không bàn tới.

PHÒNG TRÁNH BƯỚU BÀNG QUANG:

Chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý là liều thuốc tốt nhất đểchống lại bệnh.

- Vệ sinh cơ thể sạch sẽ hàng ngày

- Thường xuyên vận động, tập thể dục

- Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả và những loại thức ăn có chất xơ

- Sinh hoạt tình dục an toàn cũng là một yếu tố quan trọng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.