Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Thực tế, da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường. Vì vậy, da cũng là nơi chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài như: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… các yếu tố này kích thích cơ thể sản sinh ra các chất độc hại làm cho da bị sạm, khô, teo và dần xuất hiện các nếp nhăn và các đốm nâu đen.

Nguyên nhân và dấu hiệu lão hóa da

Kết quả từ nhiều cuộc nghiên cứu cho biết, có đến 90% nguyên nhân của lão hóa da là do ánh nắng mặt trời và chỉ có 10% là do di truyền. Về cơ bản, lão hóa da được hình thành từ 2 nhóm nguyên nhân sau:

Nhóm nguyên nhân nội sinh (lão hóa da nội sinh): là hiện tượng da già đi theo thời gian. Càng lớn tuổi các sợi collagen sẽ mất dần, các sợi đàn hồi (elastin) thượng bì bị teo mỏng đi, quá trình sản sinh tế bào bị giảm xuống. Da trở nên mỏng, mất tính đàn hồi, chùng nhão và nếp nhăn sâu xuất hiện.

Nhóm nguyên nhân ngoại sinh (lão hóa da ngoại sinh): do tác động của những yếu tố bên ngoài như: ánh nắng mặt trời, ô nhiễm môi trường, hóa chất, khói thuốc … Da là phần cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường và chịu tác động đầu tiên của các yếu tố bên ngoài: gió, bụi, ánh nắng mặt trời, tia X, tia phóng xạ… Dưới những tác nhân này, các sợi collagen và elastin bị thoái hóa, bề dày của da thay đổi, tế bào hắc tố ở thượng bì giảm, xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ. Da có màu vàng sậm, nhiều nếp nhăn nhỏ, đồng thời những vùng da phơi bày ra ngoài ánh nắng như: mặt, vùng ngoài cánh tay, bàn tay sẽ có sự tăng giảm sắc tố. Đây là những dấu hiệu cho biết làn da đang “xuống cấp”. Sự xuống cấp này báo hiệu tình trạng lão hóa sắp sửa tấn công vào làn da. Tuy nhiên, những thay đổi trên da trong quá trình lão hóa rất đa dạng và ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những dấu hiệu lão hóa đặc trưng. Không chỉ là sự rối loạn sắc tố da điển hình như sự xuất hiện của những bướu lành trên da (nốt ruồi son, đồi mồi, những đốm nâu, đen hay xám, sần sùi, bong vảy…), mà còn là những biểu hiện rõ ràng, cụ thể ở từng độ tuổi.

Độ tuổi lão hóa da và biện pháp phòng ngừa

Giai đoạn và độ tuổi lão hóa thường không giống nhau với mỗi người. Làn da có thể có nguy cơ bị lão hóa bất cứ lúc nào nếu không được chăm sóc hợp lý. Ở một số người, đặc biệt, những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng và da không được bảo vệ, làn da có thể bắt đầu lão hóa ngay từ năm 20 tuổi trở đi, nhưng những dấu hiệu này chưa bộc lộ rõ rệt và thường khó nhận biết.

Tuy nhiên theo thống kê, hiện nay tình trạng lão hóa da thường xuất hiện nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 35. Nguyên nhân tình trạng lão hóa da ở phụ nữ lứa tuổi này là do sự mất cân bằng của một số hormone, khiến khả năng tự phục hồi của cơ thể bị suy yếu, lượng tế bào mỡ dưới da cũng như các sợi đàn hồi giảm đi làm làn da trở nên mỏng, khô, các cơ dần dần bị nhão, chảy xệ. Các tế bào da ở người trưởng thành ngày càng kém phân chia, nên da dễ bị khô, dễ bị bầm, tụ máu, các chức năng của da cũng giảm sút rõ rệt. Đây là thời điểm sức đề kháng của da bị giảm sút đáng kể nên dễ bị tác động từ những thay đổi bên trong cơ thể và những ảnh hưởng từ môi trường nhất.

Ở độ tuổi 30: da giảm độ căng mịn, lỗ chân lông to ra và thậm chí xuất hiện vài nếp nhăn.

Ở độ tuổi 40: những nếp nhăn đã hình thành từ tuổi 30 sẽ hằn sâu hơn, lộ rõ và nhiều nếp nhăn trên trán. Dấu “chân chim” nơi khóe mắt cũng bắt đầu xuất hiện, da xỉn, ít sức sống.

Ở độ tuổi 50, 60: nếp nhăn sẽ chằng chịt nhiều hơn, da khô và thô ráp hơn.

Để khắc phục và hạn chế tình trạng lão hóa da

Bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời: tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Sử dụng kem chống nắng có chỉ số chống nắng SPF từ 15 trở lên khi ra đường vào ban ngày, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang, găng tay…

Nuôi dưỡng da: thường xuyên dưỡng ẩm, bổ sung dưỡng chất cho da bằng các loại kem chống lão hóa vào ban đêm có thành phần chiết xuất từ trái cây, mía đường… Ngoài ra, có thể uống các loại thuốc như: vitamin A, E, C… để bổ sung chất và cải thiện làn da từ bên trong.

Tập thể dục thể thao, massage da mặt và cơ thể: giúp tinh thần thoải mái để có làn da hồng hào và săn chắc.

Cung cấp oxy nguyên chất cho da: cung cấp đủ lượng oxy nguyên chất và dinh dưỡng cho da sẽ tăng cường khả năng đề kháng của da, trước các tác động tiêu cực của môi trường và cả những thay đổi bất lợi về nội tiết bên trong cơ thể.

Ngoài ra, còn có một phương pháp can thiệp mang lại hiệu quả tức thời cho làn da như: căng da mặt, chích botox, đốt laser… Tuy nhiên, những phương pháp này khá tốn kém và dễ để lại những biến chứng như: sẹo, cơ mặt không biểu cảm, kích ứng da.

(Theo: suckhoedoisong.vn)

Phòng và điều trị lang ben

Phòng và điều trị lang ben

Thưa bác sĩ, năm nay em 15 tuổi, em bị lang ben khoảng gần 1 năm. Lúc đầu thấy bình thuờng, có thoa thuốc nizoral nhưng không hêt, bây giờ nó loang rộng ra. Xin bác sĩ cho biết em phải làm sao? Khoảng bao lâu thì mới hết? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Lang ben là một bệnh ngoài da phổ biến ở vùng nhiệt đới nóng ẩm; gặp chủ yếu ở người trẻ. Điều kiện thuận lợi để phát bệnh là làn da nóng ẩm do khí hậu, hoạt động thể lực, mặc quần áo bít kín, tiết nhiều mồ hôi nhờn. Bệnh Cushing (một loại bệnh nội tiết), sự suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng cũng là những yếu tố làm bệnh dễ phát sinh.

Tổn thương da thường là các dát giảm sắc tố (trắng hơn da bình thường), đôi khi là các dát tăng sắc tố (sậm hơn da bình thường) hoặc dát hồng ban (vết hồng đỏ). Bề mặt các thương tổn có vảy mịn như phấn. Nếu dùng bìa cứng hoặc dao cùn cạo thì vảy mịn tróc ra rõ hơn (dấu hiệu vỏ bào).

Dát hình tròn hay hình bầu dục, kích thước từ nhỏ li ti đến vài centimét, có thể kết hợp lại thành những đám lớn hơn có viền ngoằn ngoèo như bản đồ. Vị trí thương tổn thường là những vùng da bị che kín, tiết nhiều mồ hôi nhờn như giữa lưng, giữa ngực, mạn sườn, bụng, mặt trong cánh tay, đùi, vùng mặt (trước tai, hàm dưới).

Lang ben thường chỉ gây cảm giác châm chích khi nóng nực, ngứa ít hoặc không ngứa. Do đó, người bệnh ít khi chữa trị sớm, nhất là khi tổn thương ở vùng da khó nhìn thấy (vùng lưng). Nếu không ngứa, thương tổn chỉ gây mất thẩm mỹ nên bệnh nhân thường không chữa sớm mà để cho lang ben lan rộng, trở nên khó trị và có thể là nguồn lây cho người khác. Bệnh rất hay tái phát, nhất là khi không biết cách phòng ngừa và điều trị đúng.

Nhiều bệnh cũng có thương tổn tương tự như lang ben. Do đó, bệnh nhân cần đến khám ở bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán chính xác. Thường bác sĩ chỉ cần khám lâm sàng là đủ. Một số trường hợp phải làm thêm xét nghiệm tìm vi nấm.

Để phòng và trị lang ben, loại bỏ điều kiện thuận lợi cho vi nấm gây bệnh là vấn đề quan trọng nhất. Nên mặc đồ thoáng, nhất là vào mùa nóng; tắm rửa, thay đồ hằng ngày. Không sử dụng chung đồ dùng cá nhân như khăn lau, quần áo… Quần áo phải phơi nắng cho khô. Trong lúc đang bị bệnh cần là trước khi mặc.

Khi bệnh mới phát, tổn thương ít thì chỉ cần dùng thuốc bôi da dạng nước (ASA, Antimycose, BSI), dạng kem (các azole) hay xịt, ủ. Nên bôi cả vùng da xung quanh tổn thương, bôi 1-2 lần/ngày trong 1-3 tuần. Khi tổn thương lành thì tiếp tục bôi thuốc thêm một thời gian nữa (khoảng 1 tuần) để tránh tái phát.

Thuốc dùng toàn thân gồm Ketoconazole, Itraconazole…, dùng trong trường hợp tổn thương lan rộng ở nhiều vị trí. Đôi khi cần dùng phối hợp cả thuốc bôi ngoài da và thuốc uống.

Lưu ý: Thuốc dùng tại chỗ có thể gây kích thích da (ngứa, rát, nổi mẩn…), mức độ nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loại và từng bệnh nhân. Thuốc uống có thể gây rối loạn tiêu hóa , dị ứng; gây độc gan, độc thận, tương tác với thuốc khác… Không nên dùng cho phụ nữ có thai, đang cho con bú…

Em nên đi khám chuyên da liễu để được chẩn đoán và kê đơn thuốc điều trị nhé!

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Nguyên nhân của bệnh ghẻ và cách điều trị

Chào bác sĩ, con gái tôi 7 tuổi, cháu đi học nửa buổi và bán trú ở trường nửa buổi. Cách đây hai tuần hai tay cháu nổi mụn rất dày, tôi cho cháu đi khám ở bệnh viện da liễu, bác sĩ bảo là bị ghẻ và cho bôi thuốc DEP. Tôi cho cháu bôi khoảng 1 tuần thấy đỡ, nhưng nay những nốt ghẻ đó lại xuất hiện trở lại, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị. Xin cảm ơn. (Vũ Xuân Hà)

Trả lời:

Ghẻ là một bệnh do ký sinh trùng gây nên hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả ở những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Vì sao mắc bệnh ghẻ?

Bệnh ghẻ đôi khi cũng bị một số thầy thuốc chẩn đoán nhầm. Có những gia đình bị ghẻ cả nhà trong suốt 2 năm trời vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị đúng. Căn nguyên gây bệnh là một loại ký sinh trùng có tên là Sarcoptes Scabiei, có nơi còn gọi là con mạt ngứa (itch mite). Con cái có kích thước từ 0,3-0,5mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2-3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4-6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày.

Ghẻ lây như thế nào?

Lây bệnh ghẻ là do tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm. Chính vì vậy, mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2-3 ngày.

Người bị nhiễm ký sinh trùng ghẻ lần đầu tiên trong vòng 2 tuần đầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa mặc dù ngứa ghẻ được so sánh với đau đẻ và đòn ghen. Nhưng do có thể mới bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại (hay là sự nhạy cảm) nên chưa thấy ngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thương ghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa. Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dội ngay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da.

Chẩn đoán ghẻ

Việc chẩn đoán ghẻ rất dễ, ai đó từng bị ghẻ đều có thể nhận ra được, nhưng đôi khi cũng bị nhầm lẫn tại các phòng khám chuyên khoa vì ghẻ lâu ngày tạo thành eczema hóa hoặc bội nhiễm hoặc ghẻ vảy. Cũng giống bệnh viêm ruột thừa, đôi khi cũng bị chẩn đoán nhầm bởi những nhà ngoại khoa. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh ngứa nhiều về ban đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn, đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi có thể bị ghẻ toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Ghẻ vảy còn gọi là ghẻ Nauy (Norwegian scabies). Khác với ghẻ thông thường, thương tổn ghẻ không phải là mụn nước mà là đám vảy tiết lẫn vảy da dày giống như bệnh vảy nến. Tổn thương cả ở dưới móng, mặt và đầu. Điều đặc biệt là triệu chứng ngứa rất nhẹ nhưng lại rất nhiều cái ghẻ nằm trong đám vảy tiết. Ghẻ vảy rất hiếm gặp, chỉ thấy ở những người có miễn dịch kém như: bệnh nhân AIDS, hội chứng Down, người bệnh tâm thần phân liệt, phạm nhân…

Điều trị ghẻ bằng cách nào?

Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển..

Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

- D.E.P (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi, vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2-3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

- Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau tắm gội và giặt quần áo.

- Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần thuốc, an toàn, có thể bôi được ở bộ phận sinh dục và dùng được cho trẻ nhũ nhi.

- Permethrin cream 5% (elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Lindane (gamma-benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8-12 giờ tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/tuần, thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải uống thuốc ivermactin, là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy. Liều lượng 20mg/kgcân nặng/1 lần, nhắc lại sau 1-2 tuần. Uống thuốc vào lúc đói.

Lưu ý, khi điều trị ghẻ phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình và các nguồn lây khác bên ngoài (ví dụ như các bạn học cùng lớp), tẩy uế quần áo, ga gối.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ.

Theo “Từ điển Y Dược trực tuyến”

Bệnh tổ đỉa

Bệnh tổ đỉa

1.Chẩn đoán:

- Vị trí: 2 lông bàn tay, lông bàn chân (đầu ngón, mặt dưới, mặt dưới ngón, ria ngón, vòm lòng bàn tay, ô mô cái, ô mô út, vòm lông bàn chân0.

- Tổn thương cơ bản:

Mụn nước sâu, chìm dưới da, như khảm vào da, kích thước 1-2 mm, không tự vỡ.

Mụn nước phân bố rải rác hay thành đmá cụm.

Triệu chứng cơ năng:

- Ngứa nhiều:

- Hay tái phát, thường tái phát vào mùa hè.

- Do ngứa chọc gãi làm xuất hiện mụn mủ, vết chợt, bàn tay chân có khó sưng táy nhiễm khuẩn thứ phát, hạch nách, bẹn sưng ( tổ đỉa nhiễm khuẩn).

2. Thể lâm sàng

- Tổ đỉa thể giản đơn: tổn thương là mụn nước sâu ở vị trí trên.

- Tổ đỉa nhiễm khuẩn: có mụn mủ, chợt loét, sưng viêm tấy.

- Tổ đỉa thể khô: lòng bàn tay chân có đảm đỏ róc vẩy.

3. Chẩn đoán phân biệt

+ Ghẻ:

Vị trí kẽ ngón tay, ngấn cổ tay.

Tổn thương là mụn nước đường hang.

Nhể khêu bắt được cái ghẻ.

Ngứa nhiều về đêm.

Có tính chất lây lan.

+ Eczema bàn tay, bàn chân:

Vị trí thường ở mặt lưng (mu) bàn tay chân.

Đám đỏ, nên có mụn nước nhỏ, nông chi chít, tự vỡ.

Đám tổn thương chợt chảy dịch.

Lâu ngày liken hoá dày cộm.

(tổ đỉa không bào giờ liken hoá).

4. Điều trị

- Tại chỗ:

+ Mụn nước đơn thuần bôi cồn focmolsalicylic 3%.

Mụn mủ, chột bôi thuốc màu(dd tím Metin 1% , dd xanh metilen 1%).

Khi tổn thương khô bỗi mỡ corticoids (Flucinar, synalar)

Toàn thân:

- Nếu có bội nhiễm cho uống một đợt kháng sinh.

- Kháng sinh Histamin tổng hợp: Histalong 10 mg /1 viên /ngày.

- Vitamin c 0,50 2 viên/ ngày hoặc ascorvit 500mg 2ống/ ngày tiêm tĩnh mạch chậm.

- Đông y : xông khói thương truật 5 phút ( bàn tay, bàn chân).

Chú ý: Giữa bàn tay bàn chân khô sạch.

Hạn chế xà phòng.

Trách nhiệm ngâm nước nhiều, bẩn, phân gio đất cát.

- Một số trường hợp tổ đỉa căn nguyên do nấm thì cho dùng kháng sinh chống nấm Griseofulvin 0,502 viên / ngày x 30ngày.

- Tổ đỉa là bệnh dị ứng, cơ thể địa dị ứng, tác nhân kích thích là vi khuẩn ( tụ cầu, liên cầu) : hoá chất; một số trường hợp là nấm.

Theo benhhoc.com

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, hiện nay, khoảng 30-40% dân số nhiều nước trên thế giới bị mắc các bệnh dị ứng, và tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển.

Cùng với sự gia tăng này, một vấn đề đang hết sức được quan tâm đó là sự tác động của yếu tố môi trường đối với những bệnh dị ứng, đặc biệt là tác động của bia rượu, do việc sử dụng những thức uống này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh rất nhiều tác hại đối với sức khỏe con người đã được khẳng định như gây các bệnh lý về tim mạch , tâm thần kinh, tiêu hóa , bia rượu còn có thể có nhiều tác động tiêu cực đối với các bệnh dị ứng. Theo những kết quả nghiên cứu gần đây, các loại bia rượu có thể liên quan đến những phản ứng dị ứng tức thì sau khi uống và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng ở những người sử dụng kéo dài các thức uống này.

Trong thực tế, các phản ứng dị dứng tức thì liên quan đến bia rượu xảy ra tương đối phổ biến, với biểu hiện lâm sàng và cơ chế gây bệnh khá đa dạng và phức tạp. Hầu hết các trường hợp này không phải là những phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trên lâm sàng, các biểu hiện dị ứng sau uống bia, rượu thường gặp nhất là hội chứng nóng bừng (bao gồm cảm giác bốc hỏa, tụt huyết áp , tăng thân nhiệt, nhịp tim nhanh, chóng mặt, đau đầu, buồn ngủ, lo lắng, mệt mỏi và buồn nôn), mày đay, phù Quincke và sốc phản vệ. Ngoài ra, bia rượu còn có thể là yếu tố làm khởi phát hoặc làm nặng triệu chứng của một số bệnh dị ứng đã có từ trước như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, sốc phản vệ do vận động, mày đay, sẩn ngứa… ở những cá thể nhạy cảm. Các phản ứng dị ứng liên quan với bia, rượu thường gặp ở người châu Á, Trung và Nam Mỹ hơn so với các chủng tộc người khác, có thể do sự khác biệt trong quá trình chuyển hóa cồn giữa các chủng tộc.

Những nghiên cứu trên cả người và động vật trong khoảng 3 thập kỷ gần đây cho thấy, cồn và acetaldehyd (là sản phẩm chuyển hóa của cồn trong cơ thể) đều có thể trực tiếp phá vỡ các tế bào mast, gây giải phóng histamin và nhiều hoạt chất trung gian gây dị ứng. Ngoài ra, các chất này còn có thể ức chế quá trình chuyển hóa và đào thải histamin được hấp thu từ thức ăn, do đó, làm tăng nồng độ của hoạt chất này ở các tổ chức. Tăng nồng độ histamin chính là yếu tố quan trọng góp phần gây ra hội chứng nóng bừng, làm bùng phát triệu chứng của hen phế quản và nhiều bệnh dị ứng khác sau uống bia, rượu. Các nghiên cứu còn cho thấy, khí dung chất acetaldehyd có thể gây co thắt phế quản rất mạnh và gây ra cơn hen cấp.

Bên cạnh cơ chế kể trên, trong một số ít trường hợp, các biểu hiện dị ứng với bia, rượu còn có thể gây ra do phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trong những trường hợp này, các biểu hiện lâm sàng thường gặp là mày đay, phù Quincke hoặc sốc phản vệ. Cồn (etanol) và các sản phẩm chuyển hóa của nó đều có trọng lượng phân tử thấp và bản thân chúng không có khả năng gây dị ứng, nhưng khi chúng được gắn với protein trong cơ thể sẽ tạo ra các dị nguyên hoàn chỉnh có khả năng gây dị ứng. Trong một số nghiên cứu, người ta đã tìm thấy các kháng thể dị ứng kháng lại phức hợp với acetaldehyd – protein trong máu của những người bị dị ứng với rượu.

Ngoài cồn là yếu tố chủ yếu gây ra các vấn đề về dị ứng, các chất phụ gia, bảo quản và tạp chất như histamin, gốc sulphite hoặc phẩm nhuộm cũng có thể là nguyên nhân gây ra các phản ứng này trong một số trường hợp. Theo một số nghiên cứu, những người có cơ địa dị ứng với lúa mạch và men cũng sẽ có nguy cơ bị dị ứng với bia.

Bên cạnh những phản ứng dị ứng tức thì, đang có ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy việc dùng bia, rượu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng với nhiều loại dị nguyên khác nhau. Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng ở những người nghiện rượu cao hơn rõ rệt so với những người không nghiện. IgE là một loại kháng thể dị ứng quan trọng, có vai trò trung tâm trong hầu hết các phản ứng dị ứng loại hình nhanh ở người. Theo một số nghiên cứu gần đây, những người nghiện rượu hoặc thường xuyên uống rượu với số lượng trung bình có nồng độ kháng thể IgE trong máu cao hơn so với những người không uống rượu, sau khi cai rượu, nồng độ IgE của những người này lại giảm về bình thường. Không những vậy, ở những bà mẹ có nghiện rượu trong thời gian mang thai, những đứa con của họ cũng có nồng độ kháng thể IgE tăng cao. Việc tăng nồng độ IgE trong máu không phải là một bệnh và không gây ra các triệu chứng lâm sàng nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng trong một số trường hợp. Bên cạnh việc làm tăng nồng độ IgE trong máu, dùng bia rượu thường xuyên còn có thể làm cho cơ thể trở nên nhạy cảm với một số yếu tố trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, thực phẩm… và dễ bị dị ứng với những yếu tố này. Mức nhạy cảm này tăng tỷ lệ thuận với lượng rượu uống hằng ngày, và sau khi cai rượu, mức nhạy cảm có thể trở về bình thường. Cơ chế chính xác của những hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ, nhưng các nhà khoa học cho rằng đó là do sự tương tác giữa cồn ở trong bia, rượu và hệ thống miễn dịch, gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Bản thân cồn là một chất có tác dụng điều hòa miễn dịch, các nghiên cứu tiêm cồn cho động vật thí nghiệm cũng có thể gây ra các đáp ứng về dị ứng tương tự như ở những người nghiện rượu.

Sưu tầm!

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Ngứa – Nguyên nhân vì sao?

Những ngày qua, tại các phòng khám da liễu của các bệnh viện, bệnh nhân đến khám do sẩn ngứa ngoài da tăng đột biến. Để có cái nhìn toàn diện về căn bệnh ngứa da, chúng tôi xin đăng bài viết của PGS.TS. Bùi Khắc Hậu để bạn đọc tham khảo.

Ngứa da là một triệu chứng thường gặp với nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Khi ngứa, người bệnh sẽ gãi làm xây xước da, chảy máu gây nhiễm trùng mưng mủ hoặc ngứa, gãi tạo thành các nốt sẩn, mụn nước, khi khỏi ngứa thường để lại các nốt thâm, thậm chí để lại các nốt sẹo nhỏ. Nguyên nhân gây nên ngứa có thể ở ngay ngoài da hoặc có thể ở bên trong nội tạng của cơ thể.

Nguyên nhân ở ngoài da:

Bệnh viêm da dị ứng: Trong các bệnh viêm da dị ứng có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có viêm da do tiếp xúc thường hay gặp. Viêm da tiếp xúc là do dị ứng nguyên khi gặp kháng thể gây nên hiện tượng phản ứng biểu hiện là viêm da và gây ngứa, ví dụ viêm da dị ứng ở một số người do đeo quai đồng hồ bằng da hoặc bằng nhựa hoặc viêm quanh thắt lưng quần do giây chun bằng cao su. Cũng có một số người dị ứng với da hoặc cao su nên không đi dép da hoặc dép nhựa được vì hễ mỗi lần đi dép vào là ngứa da vùng tiếp xúc trực tiếp tạo nên phản ứng gây ngứa.

Bệnh mề đay: Mề đay là một bệnh dị ứng da do tiếp xúc với thời tiết lạnh hoặc do ăn, uống với chất hay gây dị ứng ở một số người như tôm, cua, ốc, mắm tôm… Đây là những chất đóng vai trò là dị ứng nguyên khi gặp kháng thể có sẵn trong máu bệnh nhân sẽ gây nên hiện tượng dị ứng. Bệnh mề đay thường xảy ra ngứa đột ngột, dữ dội tại một vùng da nào đó hoặc có khi gần khắp da cơ thể như cánh tay, bụng, đùi, cẳng chân. Đôi khi bệnh mề đay còn xảy ra ở niêm mạc làm sưng mắt, môi, thậm chí gây viêm niêm mạc ruột gây đau bụng, tiêu chảy, viêm, phù thanh quản. Người ta gọi là nổi mề đay vì nổi lên các nốt sẩn, ngứa. Trong bệnh mề đay điển hình nhất là ngứa, người bệnh càng gãi càng ngứa. Các sẩn ngứa to, nhỏ khác nhau đôi khi tạo thành từng mảng. Viền của sẩn ngứa mề đay có màu hồng, trung tâm của sẩn ngứa có màu nhạt hơn.

Bệnh nấm da : Viêm da do nấm là bệnh nói chung, nhưng do nhiều loài nấm khác nhau gây nên (nấm thân, nấm kẽ, nấm móng, nấm tóc…). Mỗi một loài nấm gây bệnh cho da được gọi các tên khác nhau. Bệnh nấm da cũng gây nên ngứa làm cho bệnh nhân rất khó chịu, ví dụ bệnh hắc lào. Bệnh hắc lào là do nấm thân gây nên. Đầu tiên là ngứa vùng bị bệnh, sau đó thấy một vệt màu hơi đỏ, có viền, bờ rõ rệt, trên viền có các mụn nước lấm tấm. Viền này càng ngày càng lan rộng tạo thành nhiều hình vòng cung. Do người bệnh bị ngứa, gãi làm lây lan ra nhiều vùng da khác trên cơ thể. Bệnh hắc lào là bệnh lây từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn tắm, ngủ chung giường, chiếu… Muốn phòng bệnh hắc lào cần vệ sinh cá nhân tốt. Không dùng chung quần áo, chiếu, khăn và không nằm chung giường với người bị bệnh hắc lào. Khi nghi bị bệnh hắc lào nên đi khám để được xác định và điều trị dứt điểm tránh lây lan cho người khác.

Bệnh lang ben : là một bệnh do nấm gây ra và cũng gây ngứa ghê gớm. Bệnh gây ngứa đặc biệt là khi người bệnh ra nhiều mồ hôi nhất là khi trời nắng. Bệnh lang ben hay gặp ở cổ, vai, ngực, bụng, cánh tay. Bệnh lang ben cũng lây lan từ người này sang người khác do dùng chung quần áo, khăn mặt, ngủ chung giường… Khi bị lang ben rất nên đi khám bệnh để được làm các xét nghiệm xác định nấm và trên cơ sở đó người thầy thuốc sẽ cho thuốc điều trị thích hợp và tư vấn sát với thực tế hơn.

Gầu da đầu : Ở người nhiều gầu thường kèm theo ngứa da đầu. Gầu là hiện tượng viêm da làm bong lớp sừng ở da vùng đầu. Hiện nay có nhiều loại dầu gội đầu khác nhau và tùy thuộc vào da đầu của từng người. Vì vậy khi bị gầu nên chọn loại dầu gội thích hợp với da đầu của mình mới hy vọng làm giảm hoặc hết gầu.

Nguyên nhân từ trong nội tạng của cơ thể.

Dị ứng thuốc: ngày nay hiện tượng dị ứng thuốc là điều làm cho thầy thuốc hết sức quan tâm. Loại thuốc nào cũng có thể gây nên dị ứng tùy từng cơ địa của từng người (để cả thuốc Tây y và đông y ). Khi dị ứng thuốc, ngoài các triệu chứng khác thì ngứa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao.

Bệnh giun sán: Khi mắc bệnh giun, sán thì ngoài rối loạn tiêu hóa có thể có triệu chứng ngứa và nổi mẩn ngoài da. Những trường hợp này người ta ít nghĩ tới chỉ khi đi khám bệnh, xét nghiệm phân mới tìm ra được nguyên nhân và thầy thuốc mới có chỉ định dùng thuốc tẩy giun đúng loại. Song song với việc tẩy giun cần ăn uống hợp vệ sinh, không ăn rau sống và uống nước lã để đề phòng mắc bệnh giun tái phát.

Mắc bệnh tiểu đường (đường máu tăng cao): thường có sụt cân, ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều kèm theo có thể có ngứa da. Do ngứa nên gãi nhiều làm xây xước da gây nhiễm khuẩn. Mắc bệnh tiểu đường cần ăn kiêng một số thực phẩm như đường, các loại nước giải khát có đường, bia, rượu, chuối chín. Nên tập thể dục đều đặn. Cần vệ sinh da thật tốt để tránh nhiễm khuẩn.

Bệnh về gan, mật: Các bệnh về gan mật làm tắc mật làm vàng da và gây ngứa. Khi ngứa mà tìm các loại nguyên nhân chưa xác định được thì cần kiểm tra chức năng và kiểm tra gan, mật để xem có viêm nhiễm, sỏi, u hay không. Viêm gan thì có nhiều nguyên nhân nhưng hay gặp nhất là viêm gan do virut và viêm gan do rượu. Muốn phòng tránh viêm gan do virut (virut viêm gan A,B,C) cần được tiêm phòng. Cần bỏ rượu, đặc biệt khi đã có hiện tượng viêm gan bất kỳ do nguyên nhân gì.

Như vậy, muốn hết bệnh ngứa cần tìm nguyên nhân, khi đã biết chắc chắn nguyên nhân của nó thì việc điều trị sẽ có nhiều thuận lợi cho dù là nguyên nhân bên trong cơ thể hay nguyên nhân ngoài da.

Theo suckhoedoisong.vn